Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 88

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 88  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 88

Từ tháng 7 năm Nhâm Ngọ (1102) đến tháng 4 năm Giáp Thân (1104), Huy Tông Sùng Ninh năm thứ 1 đến năm thứ 3, gồm 1 năm có dư

Năm Sùng Ninh thứ 1 (Liêu, năm Càn Thống thứ 2), Công nguyên năm 1102

[sửa]

Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Thân mồng một, dựng Trường Sinh cung để tế sao Huỳnh Hoặc.

Ngày Bính Tuất, chiếu rằng: "Các nha môn Tỉnh, Đài, Tự, Giám, cùng quan Giám ty và Quận thủ, đều lấy ba năm làm một nhiệm kỳ."

Ngày Mậu Tý, lấy Thái Kinh làm Thượng thư Hữu bộc xạ kiêm Trung thư thị lang. Ngày ban chế, ban cho ngồi ở diên hòa điện, gọi mà bảo rằng: "Thần Tông lập ra phép chế, tiên đế nối theo, 2 lần gặp biến đổi, quốc thị chưa định, muốn tâu lên chí của cha anh bề trên, khanh lấy gì để dạy trẫm?" Thái Kinh dập đầu tạ rằng: "Dám đâu không tận chết!" Lời chế hết sức khen ngợi, là do Hàn lâm học sĩ Trương Thương Anh soạn.

Ngày Kỷ Sửu, hủy pháp Nguyên Hựu.

Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu đặt Giảng nghị ti ở Đô tỉnh.

Thái Kinh đã được đắc chí, ngầm mượn ngọn danh nghĩa “thiệu thuật” để kìm chế thiên tử. Ông ta theo chuyện cũ của Ty Điều lệ đời Hy Ninh, bèn đặt Giảng nghị ti tại Đô tỉnh; tự làm Đề cử, dùng đảng của mình là Ngô Cư Hậu, Vương Hán Chi… hơn 10 người làm thuộc liêu. Lại đem những việc lớn của chính sự như tông thất, quan dư thừa, quốc dụng, thương lữ, diêm trạch, phú điều, doãn mục…, mỗi việc đặt ba người chủ trì. Phàm những điều đặt ra và thi hành, đều từ đó mà ra; pháp chế vì thế thay đổi luôn, không ổn định.

Xuống chiếu cho Hàng châu, Minh châu đặt Thị bạc ti.

Ngày Canh Tý, Đồng tri Khu mật viện sự Chương Tiết bị bãi vì tuổi già. Xuống chiếu trao chức Tư Chính điện học sĩ, Trung Thái Nhất cung sứ. Chẳng bao lâu, mất, thụy là Trang Giản.

Ngày Giáp Thìn, vì mưa làm hư hại nhà cửa của dân, xuống chiếu cho Khai Phong phủ chẩn tuất những người bị đè, bị chết đuối.

Ngày Canh Tuất, bầy tôi dâng lời rằng: "Quản cú Minh Đạo cung Trương Lỗi, ở Dĩnh châu nghe Tô Thức chết, đem bổng lộc riêng của mình ra Tiến phúc thiện viện làm cơm cúng tăng cho Thức, mặc đồ tang trắng mà khóc." Xuống chiếu: "Trương Lỗi bị giang làm Phòng châu Biệt giá, an trí ở Hoàng châu."

Ngày Tân Hợi, xuống chiếu: "Trong thủ chiếu đặt Giảng nghị ti mới ban hôm qua, cho phép bầy tôi trong ngoài và thứ dân đều được đem điều lợi hại mình thấy mà tâu lên."

Lại bãi chức Bác sĩ Xuân thu.

Tháng này, Liêu chúa đi săn ở Hắc Lĩnh; vì mưa dầm, cấp phát cho người săn và ngựa. Thái sư Vĩnh Hưng cung Tiêu Hô Đồ thấy Liêu chúa ưa du ngoạn săn bắn, thường đem cái vui theo thú mà thuận ý; Liêu chúa vui mà theo, quốc chính từ đây sa sút bỏ phế, bắt đầu như thế.

Chuẩn Bố xâm phạm nước Liêu, Liêu chiêu thảo sử Ngạch Đặc Lặc giao chiến bị thua.

Tháng 8, ngày Ất Mão, hoàng tử Huyên đổi tên là Hoàn.

Bầy tôi dâng lời rằng: "Bệ hạ mới lên ngôi, lặng lẽ ít nói. Từng mở đường dâng thư, mà người dâng thư có kẻ từ áo vải đỗ giáp khoa để cai trị trăm dặm, hoặc được thêm một bậc trật, hoặc cởi chức võ mà cho hưởng lộc Tự, Giám thừa, Chủ bạ. Sĩ trong thiên hạ không biết họ bàn luận là lời lẽ thế nào, phần nhiều ôm nghi ngờ, đến nay chưa giải. Xin đem những phong sự họ dâng lên, ban bố ra bốn phương. Nếu lời ấy có bổ ích cho quốc thị, thì nghị luận chí công tự yên mà chán; nếu chí ở mong cầu, cầu may danh khí, không có lời luận định trung tốt nhất quán, có lời gian hiểm nước đôi, bợ dưới dối trên, làm lụy tiên liệt mà hại sơ chính—thì lúc này há có thể để đó mà không hỏi? Nếu lời thần có thể dùng, xin sớm ban thi hành."

Ngày Ất Sửu, xuống chiếu: "Trừ Trịnh Đôn Nghĩa, Giang Hồn ra, Lộc Mẫn Cầu bị truy thu chức Thừa sự lang đã ban, giáng xuống sung làm Bạ, Úy; Cao Sĩ Dục bị truy thu chức đã ban; Hà Đại Chính bị truy thu xuất thân đã ban và chức đã trao; đều không được ứng cử."

Ngày Tân Mùi, đặt An tế phường, nuôi những dân nghèo bệnh, lại lệnh các châu huyện đều đặt.

Ngày Giáp Tuất, xuống chiếu khắp thiên hạ hưng học, cống sĩ, dựng Ngoại học ở phía nam kinh thành.

Thái Kinh xin rằng

Khắp thiên hạ, các châu huyện đều đặt học: châu đặt 2 viên Giáo thụ, huyện đặt tiểu học. Học sinh ở huyện xét chọn khảo hạch rồi thăng lên học ở các châu; học sinh ở châu cứ 3 năm cống vào Thái học, đến nơi thì dự khảo thêm, lập riêng danh hiệu. Kết quả chia 3 bậc: vào bậc thượng thì bổ vào Thượng xá, vào bậc trung thì bổ vào Hạ đẳng Thượng xá, vào bậc hạ thì bổ vào Nội xá, còn lại ở Ngoại xá. Chỉ tiêu giải ngạch của các châu, quân, mỗi nơi lấy 1/3 để sung vào ngạch cống sĩ. Châu lấy Thường bình hoặc ruộng đất, nhà cửa thuộc tỉnh để cấp chi phí nuôi sĩ; huyện dùng sản lợi địa phương và tiền không thuộc tỉnh. Phàm học sinh châu huyện đã từng qua khảo thí công hoặc tư thì miễn cho thân dịch. Nếu có người hiếu đễ, hòa mục trong hôn nhân, biết gánh vác giúp đỡ, trung hòa, hoặc đức hạnh tài năng đặc biệt, được hương lý tiến cử, thì huyện tâu lên châu, miễn thi mà cho nhập học. Châu thủ, châu tá và Giáo thụ hỏi xét, nếu không sai, thì bảo đảm cho vào diện tiến cống; nếu không đúng thực thì người bảo đảm chịu tội.

Kinh lại xin đặt Ngoại học để thu nhận những cống sĩ từ học châu huyện. Vì thế ban chiếu cho ngay ngoài cửa nam Kinh thành chọn đất xây dựng; ngoài tròn trong vuông, dựng nhà 1.172 gian, gọi là Tịch Ung. Thái học chuyên dành cho Thượng xá sinh và Nội xá sinh, còn Ngoại học thì cho Ngoại xá sinh ở. Người mới cống đến đều vào Ngoại học, qua khảo thí mới được bổ vào Thượng xá hoặc Nội xá, rồi mới được tiến vào ở Thái học. Ngoại xá của Thái học cũng lệnh cho ra ở Ngoại học; các sắc lệnh và thể thức đều dùng theo chế độ đã có của Thái học. Từ đó, Thượng xá đến 200 người, Nội xá 600 người, Ngoại xá 3.000 người. Phàm Thượng xá sinh ở châu học được thăng xá, mùa thu năm ấy liền cống vào Tịch Ung; trưởng quan tập hợp toàn bộ quan lại trong quận cùng quan Đề học, bày yến tiệc, theo lễ mà tiễn đi, hạn đến cuối năm phải tập trung dưới cửa khuyết. Những người từ Xuyên, Quảng, Phúc Kiến vào cống thì nối cấp lộ phí, dùng tiền học mà cấp. Tấu lên, Hoàng đế ban chiếu đều cho thi hành đúng như phép ấy.

Ngày Bính Tý, xuống chiếu: "Con cháu của Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ, Vương Nham Tẩu, Chu Quang Đình, Khổng Bình Trọng, Khổng Văn Trọng, Lữ Đại Phòng, Lưu An Thế, Lưu Trí, Tô Thức, Lương Đạo, Lý Chu, Phạm Thuần Nhân, Phạm Tổ Vũ, Uông Diễn, Thang Dục, Lý Thanh Thần, Phong Tắc, Trâu Hạo, Trương Thuấn Dân đều không được làm quan ở kinh sư."

Ngày Kỷ Mão, lấy Triệu Đĩnh Chi làm Thượng thư Tả thừa, Hàn lâm học sĩ Trương Thương Anh làm Thượng thư Hữu thừa.

Tháng 9, ngày Mậu Tý, đặt Cư Dưỡng viện ở kinh sư để nuôi dưỡng những người góa vợ, góa chồng, cô độc, đồng thời lấy tài sản của các hộ tuyệt tự làm nguồn cấp dưỡng..

Ngày Ất Mùi, xuống chiếu cho Trung thư ghi tên họ bầy tôi dâng chương sớ năm Nguyên Phù 3, chia chính tà, mỗi bên làm 3 bậc. Vì thế Trung thư tâu: "Chính thượng: Chung Thế Mỹ, Kiều Thế Tài, Hà Ngạn Chính, Hoàng Khắc Tuấn, Đặng Tuân Vũ, Lý Tích Trung 6 người; chính trung: Cảnh Nghị… 13 người; chính hạ: Hứa Phụng Thế… 22 người. Tà thượng rất nặng: Phạm Nhu Trung… 39 người; tà thượng: Lương Khoan… 41 người; tà trung: Triệu Việt… 150 người; tà hạ: Vương Cách… 312 người."

Nội thị Hác Tùy, xui Thái Kinh lại phế Mạnh hậu. Gặp lúc Phán quan Xương châu Phùng Giải dâng thư nói việc phục hậu là không phải, vì thế Ngự sử Trung thừa Tiền Dực, Điện trung Thị ngự sử Thạch Dự, Tả phu liên dâng liền chương bàn rằng: "Bọn Hàn Trung Ngạn nhân một lời dối của kẻ áo vải mà phục lại phế hậu Dao Hoa, vơ vét tiếng khen hão của dư luận. Khi ấy dư luận vốn đã ồn ào, cho đến bầy tôi nhỏ xa cách cũng đến khuyết dâng thư, trung nghĩa bức thiết, thì công nghị trong thiên hạ theo về đâu có thể biết được. Xin hỏi xét các đại thần, quyết theo đại nghĩa, đừng để bị lôi kéo bởi những lời bàn không chính của thế tục mà làm liên lụy thánh triều."

Ngày Đinh Dậu, xét tội các bầy tôi bàn việc phục Nguyên Hựu hoàng hậu và mưu phế Nguyên Phù hoàng hậu, giáng quan Hàn Trung Ngạn, Tăng Bố, truy giáng Lý Thanh Thần làm Lôi châu Tư hộ tham quân, Hoàng Lý làm Kỳ châu Đoàn luyện phó sứ, an trí Tăng Triệu, Phong Tắc, Trần Quán, Cung Quyết… 17 người ở châu xa, đề bạt Phùng Giải làm Hồng lư tự Chủ bạ.

Ngày Kỷ Hợi, ngự phê giao Trung thư tỉnh: "Những người bị trách tịch thời Nguyên Hựu và những người được thuật phục quá đáng vào cuối Nguyên Phù, đều phải căn cứ nguyên sổ, xác định rõ họ tên, rồi trình dâng." Theo đó Thái Kinh lập sổ: văn thần chấp chính như Văn Ngạn Bác và những người khác 22 người; quan từ Đãi chế trở lên như Tô Thức và những người khác 35 người; các quan khác như Tần Quán và những người khác 48 người; nội thần như Trương Sĩ Lương và những người khác 8 người; võ thần như Vương Hiến Khả và những người khác 4 người. Tất cả đều ghi tội trạng, gọi là gian đảng, xin ngự thư khắc đá tại Đoan Lễ Môn.

Ngày Canh Tý, truy tặng Tuyên Đức lang Chung Thế Mỹ làm Hữu gián nghị đại phu, ghi con ông làm Giao xã Trai lang. Thế Mỹ, cuối Nguyên Phù làm Đề cử Phúc Kiến lộ Thường bình, phụng chiếu dâng thư, xin phục chính sự Hy Ninh, Thiệu Thánh, đến đây được xếp bậc chính thượng hạng thứ 1, nên có ân này. Còn 40 người bậc chính khác, đều được gia ân biểu dương thăng nhắc. Còn 542 người bậc tà, bị giáng trách khác nhau.

Ngày Nhâm Dần, giáng Tăng Bố từ Trung đại phu, Thủ Tư nông khanh, Phân Ty Nam Kinh, cư trú Thái Bình châu xuống làm Vũ Thái quân Tiết độ phó sứ, an trí tại Hành châu.

Mùa đông, tháng 10, ngày Ất Mão, Tiêu Ha Lý phản nước Liêu, cướp khí giáp trong Vũ khố ở Càn châu. Liêu chúa sai Bắc diện Lâm nha Tát Gia Nô truy bắt. Tiêu Ha Lý trốn vào bộ Khắc Triển của Nữ Trực.

Ngày Quý Hợi, Tri Khu mật viện sự Tưởng Chi Kỳ bị bãi, làm Quan Văn điện học sĩ, Tri Hàng châu.

Liêu chiêu thảo sử Ngạch Đặc Lặc xin trí sĩ, Liêu chúa không cho, chỉ bãi chức Chiêu thảo, Nam viện Khu mật sứ; ngày Bính Dần, phong Hỗn Đồng quận vương, chuyển làm Bắc viện Khu mật sứ, gia Thái tử Thái sư, ban hiệu “Thôi thành tán trị công thần”. Lấy Tham tri chính sự Ngưu Ôn Thư làm Tri Nam viện Khu mật sứ sự.

Ngày Kỷ Tị, lấy Quan văn điện học sĩ, Tri Thái Nguyên phủ Lữ Huệ Khanh làm Vũ Xương quân Tiết độ sứ, Tri Đại Danh phủ.

Thái Kinh, Hứa Tướng, Ôn Ích, Triệu Đĩnh Chi, Trương Thương Anh ra sức chủ trương theo thuyết của bọn Tiền Dực, xin phế Mạnh hậu, Hoàng đế bất đắc dĩ phải thuận theo. Ngày Giáp Tuất, xuống chiếu bãi tôn hiệu Nguyên Hựu hoàng hậu, lại lui về ở Dao Hoa cung.

Ngày Bính Tý, bầy tôi dâng lời: "Đảng nhân Nguyên Hựu, triều đình gần đây đã xử lý. Còn những kẻ cuối thời Nguyên Phù cùng kết đảng, biến đổi pháp độ, lại làm theo Nguyên Hựu, cúi xin cân nhắc thi hành." Vì thế xuống chiếu: "Chu Thường, Cung Nguyên, Lưu Phụng Thế, Lữ Hy Thuần, Vương Địch, Vương Cổ, Tạ Văn Quán, Trần Sư Tích, Âu Dương Phỉ, Lữ Hy Triết, Lưu Đường Lão, Sái Bổ Chi, Hoàng Đình Kiên, Hoàng Ẩn, Tất Trọng Du, Thường An Dân, Khổng Bình Trọng, Vương Củng, Trương Bảo Nguyên, Trần Phu, Chu Quang Duệ, Tô Gia, Dư Biện, Trịnh Hiệp, Hồ Điền đều bãi từ lộc thờ, mỗi người cư trú ở châu quân ngoài, lại theo cách mới “trần khất cung quán”, không được ở chung một châu."

Ngày Mậu Dần, lấy Tư chánh điện học sĩ Thái Biện làm Tri Khu mật viện sự.

Xuống chiếu: "Người ở Hà Nam phủ nơi thảo dã là Bùi Quân dâng thư, lời lẽ cuồng bội, đặc biệt đưa đi châu quân cách 500 dặm để biên quản. Mọi chỉ thị của Giảng Nghị Ty cho phép trình bày lợi hại đều không thi hành."

Tháng 11, ngày Ất Dậu, Thiệu châu tâu rằng người cai quản các khe động ở Huy châu là Dương Quang Hàm xin nội phụ.

Ngày Mậu Tý, lấy Uyển nghi Trịnh thị làm Hiền phi.

Ngày Tân Mão, đặt Hà Bắc An tế phường.

Ngày Quý Tị, đặt Tông chính ti và Đôn tông viện ở Tây, Nam 2 kinh.

Ngày Ất Mùi, Tát Gia Nô của nước Liêu vì không bắt được Tiêu Ha Lý mà bị miễn quan.

Ngày Mậu Tuất, đặt chức Hiển Mưu các học sĩ, Đãi chế quan.

Ngày Nhâm Dần, nước Liêu lấy Thượng Kinh Lưu thủ Da Luật Thận Tư làm Bắc viện Khu mật phó sứ.

Giặc lớn Triệu Chung Cách xâm phạm Thượng Kinh nước Liêu, cướp cung nữ và đồ ngự dụng. Phó Lưu thủ Mã Nhân Vọng dẫn quân bắt; bị tên bắn trúng cánh tay phải, ông lấy ngải cứu châm vào, gắng chịu bệnh mà phi ngựa đuổi gấp, khiến giặc bỏ của cướp mà chạy. Nhân Vọng lệnh các cửa ải bến đò xét hỏi người đi đường, bắt được hết bọn trộm, chẳng bao lâu được thăng Khu mật đô thừa chỉ.

Hữu ty nước Liêu xin lấy ngày sinh của Liêu chúa làm Thiên Hưng tiết.

Ngày Kỷ Dậu, lập phép thăng giáng 3 năm một lần đối với Khanh giám, Lang quan.

Tháng 12, ngày Quý Sửu, Trung thừa Tiền Dực nói: "Triết Tông dùng kế của Vương Đảm, lấy Thanh Đường, Mạc Xuyên, có thể gọi là mưu lược hiếm có. Quyền thần dối triều đình, bỏ hết mà vứt đi, lại lấy tội khác mà giết đến thân Đảm. Nếu không truy chính tội ấy, thì không thể giãi oan cho người trước, mà khích phát khí trung dũng xung đột." Vì thế giáng trách Hàn Trung Ngạn làm Sùng Tín quân Thư độ phó sứ; Tăng Bố làm Hạ châu Biệt giá, vẫn cũ an trí ở Hành châu; An Đào làm Ninh Quốc quân Tiết độ phó sứ; Phạm Thuần Lễ làm Thí Thiếu phủ giám, Phân ty Nam Kinh.

Ngày Canh Thân, bầy tôi dâng lời rằng thụy “Trung Tuyên” của Phạm Thuần Nhân chưa thỏa đáng, xuống chiếu: "Quan định nghị và quan phục nghị đều phạt tiền; bia thần đạo thì lệnh cho Dĩnh Xương phủ đục mài hủy bỏ."

Đúc tiền đương ngũ.

Ngày Bính Dần, xuống chiếu: "Những người bị giáng trách, an trí, cùng kẻ biên quản, ky quản, lệnh cho châu quân sở tại theo lệnh Nguyên Phù mà thường xuyên giám sát, không được thả ra khỏi thành."

Ngày Đinh Sửu, xuống chiếu: "Các tà thuyết, hành vi sai trái, sách vở không phải của Tiên Thánh, cùng học thuật chính sự thời Nguyên Hựu, đều không được dùng để dạy học trò; ai vi phạm thì đuổi ra."

Ngày Mậu Dần, bọn Thái Kinh dâng “Sắc lệnh cách thức học châu huyện”, xin khắc ván ban xuống, theo.

Năm ấy, Kinh kỵ, Kinh Đông, Hà Bắc, Hoài Nam bị châu chấu; Giang, Chiết, Hy, Hà, Chương, Tuyền, Đàm, Hành, Bân châu, Hưng Hóa quân bị hạn.

Thần châu và Nguyên châu có người Dao vào cướp.

Tiêu Ha Lý của nước Liêu trốn vào bộ Khắc Triển của Nữ Trực, sai người cùng tộc là Ngạch Đặc Lặc kết hòa với Anh Cách, nói: "Nguyện kết bạn với Thái sư, cùng đi đánh nước Liêu." Anh Cách bắt Ngạch Đặc Lặc. Gặp lúc nước Liêu sai Anh Cách bắt đánh Ha Lý, bèn đem Ngạch Đặc Lặc nộp cho nước Liêu, mộ binh, được giáp hơn 1.000. A Cốt Đả mừng nói: "Có giáp binh như thế, việc gì mà không mưu được!" Đại khái trước đó số giáp binh của Nữ Trực chưa từng đủ 1.000. Quân đóng ở Hỗn Đồng thủy, gặp Ha Lý. Khi ấy quân nước Liêu đuổi Ha Lý mấy nghìn, đánh không thắng, Anh Cách nói với tướng Liêu rằng: "Hãy lui quân của ngươi, ta sẽ một mình bắt Ha Lý." Tướng Liêu cho phép. A Cốt Đả thúc ngựa xông đánh, Ha Lý trúng tên lạc, ngã xuống ngựa, bị bắt rồi giết, đại phá quân hắn. Anh Cách từ đó biết quân Liêu dễ đối phó.

Nước Hạ đổi niên hiệu thành Trinh Quán.

Năm Sùng Ninh thứ 2 (Liêu, năm Càn Thống thứ 3), Công nguyên năm 1103

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Tân Tị mùng 1, Liêu chúa đi đến Hỗn Đồng giang. Nữ Trực đựng đầu Tiêu Ha Lý đem đến dâng, Liêu chúa rất mừng, ban thưởng thêm bậc. Tiêu Ha Lỗ tâu với Liêu chúa, xin sửa sang phòng bị biên thùy, Khu mật sứ Da Luật A Tô lực ngăn trở, đương thời chê ông ta “lấy vàng mà bán nước” vậy.

Ngày Ất Dậu, giáng đày các quan Đài gián cuối Nguyên Phù đến châu xa: Nhậm Bá Vũ đến Xương Hóa quân, Trần Quán đến Liêm châu, Cung Quyết đến Tượng châu, Mã Quyên đến Lễ châu, Trần Hựu đến Quy châu, Lý Thâm đến Phục châu, Trương Đình Kiên đến Đỉnh châu, đều bị trừ tên,勒停, biên quản. Giang Công Vọng bị giáng làm Hành châu Tư mã, an trí ở Vĩnh châu; Trâu Hạo bị trừ tên, cách chức, cư trú ở Chiêu châu. Những người kể trên đều vĩnh viễn không được thu dùng. Vương Địch cư trú ở Lâm Giang quân, Phong Tắc ở Kiến châu, Trần Thứ Thăng ở Kiến Xương quân, Tạ Văn Quán ở Thiệu Vũ quân, Trương Thuấn Dân ở Phòng châu, cũng đều bị trừ tên, cách chức. Thái Kinh, Thái Biện oán bọn Nhậm Bá Vũ đã từng luận tội mình, bèn kiểm hội chương sớ của họ mà dâng lên, nên có việc giáng này. Khi Thái Kinh làm soái Thục, Trương Đình Kiên ở trong mạc phủ của ông; đến khi vào làm tể tướng, muốn kéo dùng để tự giúp, Đình Kiên không theo, Thái Kinh hận, đến đây cũng bị trừ tên biên quản.

Tri Kinh Nam phủ Thư Đản bình định giặc Dao Thần, Nguyên, thu lại 2 châu Thành, Huy, đổi Thành làm Tĩnh châu, Huy làm huyện Thị Trúc. Đặc xá 2 lộ Kinh Hồ.

Ngày Kỷ Sửu, xuống chiếu cho phép đạo sĩ Mao Sơn là Lưu Hỗn Khang tu dựng đạo quán, lại lệnh được tâu thẳng tai họa phúc lành, không được che giấu. Hỗn Khang có tiết hạnh, khá được Thần tông kính trọng, nên Hoàng đế lễ đãi tin dùng.

Ngày Nhâm Thìn, Trung thư thị lang Ôn Ích mất. Ôn Ích làm quan không có một mảnh thiện nào đáng ghi; đến như xảo trá gian quyệt, phụ họa gán ghép, vốn là thiên tính.

Ngày Đinh Mùi, lấy Thái Kinh làm Thượng thư Tả bộc xạ kiêm Môn hạ thị lang.

Lấy Tri Khả Lam quân Vương Hậu quyền phát khiển Hà châu kiêm việc công của An phủ ti dọc biên Thao Tây.

Vương Hậu lúc trẻ theo cha là Thiều trong quân, thông thạo việc Khương. Thời Nguyên Hựu bỏ Hà Hoàng, Hậu dâng sớ nói là không thể, lại đến Chính sự đường nói việc ấy. Thái Kinh đã trị tội việc bỏ đất thời Nguyên Hựu, lại muốn mở biên, nên có mệnh này.

Ngày Mậu Thân, Liêu chúa đi đến Xuân châu.

Tháng 2, ngày Tân Hợi, Man An Hóa vào cướp, Quảng Tây Kinh lược sứ Trình Tiết đánh bại.

Ngày Nhâm Tý, sai quan đi đo đạc đất Dao ở Hồ Nam, Bắc, lấy gỗ vật liệu, đưa vào cung cho việc xây dựng ở kinh sư.

Ngày Giáp Dần, tôn Nguyên Phù hoàng hậu làm Hoàng thái hậu, cung gọi là Sùng Ân.

Ngày Tân Dậu, đặt Điện trung giám.

Ngày Canh Ngọ, bắt đầu lệnh Thiểm Tây đúc tiền đồng “chiết thập” và tiền “giáp thiếc”, chiêu mộ người tư đúc đến quan sung làm thợ đúc tiền, theo tấu của Thái Kinh.

Nước Liêu vì Vũ Thanh huyện đại thủy, nới lỏng lệnh cấm ở đầm bãi.

Ngày Quý Dậu, phụng an ngự dung Triết tông ở Tây Kinh Hội Thánh cung và Ứng Thiên viện.

Ngày Bính Tý, triều đình đặt Trà trường ở các lộ. Từ thời Gia Hựu, việc buôn bán trà đã được lưu thông. Đến giữa niên hiệu Hy Ninh, Lý Tắc phần nào khôi phục phép quyền mại, khiến lợi tức lại rơi vào tay quan phủ. Đến lúc này, Thái Kinh xin áp dụng tại 7 lộ gồm Kinh Hồ, Giang, Hoài, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến, vẫn theo lệ cũ, cấm quan lại trực tiếp mua trà theo chế độ quyền mại. Theo đó, tại các châu, quân có sản xuất trà, tùy nơi mà lập trà trường, ban lệnh nghiêm cấm thương nhân và các hộ trồng trà tư nhân tự ý trao đổi mua bán. Thương nhân nếu muốn mua trà phải đem trà chứa trong lồng, giỏ đến nộp tại trà trường; quan lại tiến hành kiểm tra, phân hạng, thu lợi tức, rồi mới cấp phê dẫn cho phép mang đi buôn bán. Mỗi năm, số tiền thu được lên đến 100 vạn quan, dùng để tiến nộp vào nội đình. Từ đó, việc buôn bán trái phép diễn ra công khai, còn dân chúng thì càng thêm khốn khổ.

Ngày Mậu Dần, Vương Hậu nói: "Khoảng năm Hy Ninh, Thần khảo đem việc biên thùy Hy Hà giao cho tiên thần Thiều, khi ấy bầy tôi trong ngoài phàm có bàn luận việc Hy Hà, đều được triều đình phê đưa cho tiên thần xem xét phải trái, nghị luận quy về một mối, không bị lay chuyển. Nay triều đình sắp đặt việc biên thùy một phương, đã xét rõ lợi hại đầu đuôi. Xin từ nay bầy tôi trong ngoài nói đến lợi hại Thanh Đường, theo chuyện cũ Hy Ninh, đều kèm gửi bản lộ Kinh lược ti và quan được ủy sắp đặt để xem xét." Theo. Lại xuống chiếu: "Nhập nội Cung phụng quan Đồng Quán qua lại câu đương, bảo bản lộ Kinh lược, An phủ, Đô tổng quản ti cùng nhau hiệp lực lo liệu."

Tháng 3, ngày Ất Dậu, xuống chiếu: "Con em thân của đảng nhân không được tự tiện đến dưới khuyết; những kẻ vì theo phụ đảng nhân mà bị bãi nhiệm, ở ngoài bị chỉ xạ sai phái, và bầy tôi phạm tội bị đình thay cũng như thế."

Ngày Tân Mão, Hoàng Đình Kiên từng câu ở Ngọc Long quan, bị trừ tên, đình chức, đưa đến Nghi châu biên quản, do Hồ Bắc Chuyển vận phán quan Trần Cử tâu rằng Đình Kiên soạn “Kinh Nam Thừa Thiên viện bi”, lời lẽ dính đến phỉ báng.

Ngày Quý Mão, ban cho Tiến sĩ Lễ bộ tấu danh, các khoa đỗ và xuất thân như Hoắc Đoan Hữu… 538 người. Người từng dâng thư thuộc bậc chính thì thăng giáp, thuộc bậc tà thì bãi.

Bấy giờ Lý Giai đỗ đầu Lễ bộ. Giai là con của Lý Thâm, mà là cháu ngoại của Trần Quán. An Thầm đối sách, nói để con của đảng nhân đứng đầu nhiều sĩ, không đủ để tỏ cho thiên hạ, bèn đoạt xuất thân của Giai mà ban cho Thầm… Thầm là anh của Đôn. Lại nữa, Hoàng Định… 18 người đều thuộc bậc dâng thư tà, Hoàng đế ngự điện gọi mà bảo rằng: "Các khanh công kích chỗ ngắn của trẫm thì được, Thần tông, Triết tông có phụ gì các khanh!" Cũng đều bãi, đều theo lời Thái Kinh.

Xuống chiếu: "Tri Hà châu Vương Hậu quyền quản cú chức sự của Hy Hà Lan Hội lộ Kinh lược ti."

Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Dần, xuống chiếu cho các quan thị tòng mỗi người tiến cử 2 người mình biết.

Ngày Đinh Mão, xuống chiếu phá hủy các bức vẽ ở Cảnh Linh Tây cung của Lữ Công Trứ, Tư Mã Quang, Lữ Đại Phòng, Phạm Thuần Nhân, Lưu Chí, Phạm Bách Lộc, Lương Đào, Vương Nham Tẩu.

Ngày Kỷ Tị, Đồng Quán đến Hy châu, truyền lời úy lao quân.

Ngày Canh Ngọ, xuống chiếu cho Quốc tử giám in sách ban cho học châu huyện.

Ngày Giáp Tuất, Vương Hậu tâu: "Các Khương ở Hà Nam, Hà Bắc, vì Đại, Tiểu Long Tán tranh nước, lòng người không yên, các tộc tù trưởng hào mạnh, lẫn nhau nghi kỵ, bèn lại xâm lấn giết chóc lẫn nhau, chính là cái gọi ‘lấy Di Địch đánh Di Địch’, là lợi của Trung Quốc. Thần đã cùng Đồng Quán bàn tính, nhân đó mà sắp đặt lâu dài, đợi khởi phát sẽ tâu riêng."

Ngày Ất Hợi, xuống chiếu: "Ván in các ‘Văn tập’ của Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Hoàng Đình Kiên, Trương Lỗi, Sái Bổ Chi, Tần Quán, Mã Quyên; ‘Đường giám’ của Phạm Tổ Vũ; ‘Đông trai ký sự’ của Phạm Trấn; ‘Thi thoại’ của Lưu Ban; ‘Tương Sơn dã lục’ của tăng Văn Oánh… đều đem đốt hủy."

Ngày Mậu Dần, lấy Triệu Đĩnh Chi làm Trung thư thị lang, Trương Thương Anh làm Thượng thư Tả thừa, Hộ bộ Thượng thư Ngô Cư Hậu làm Thượng thư Hữu thừa, Binh bộ Thượng thư An Đôn làm Đồng tri Khu mật viện sự.

Xuống chiếu: "Truy đoạt tặng thụy của Vương Khuê; Vương Trọng Đoan, Vương Trọng Nghĩ đều cho bãi; ân lệ theo di biểu giảm một nửa. Truy hủy văn tự của Trình Di từ khi xuất thân đến nay, trừ tên; sách ông viết khi vào núi, lệnh Giám tư bản lộ xét biết." Khi ấy bầy tôi dâng lời: "Thần tông đại tiệm, Vương Khuê không sớm xin lập trữ, ngầm gọi Cao Sĩ Sung, muốn thành gian mưu." Lại nói: "Học thuật Trình Di khá lệch, hạnh kiểm vốn quỷ quái, khuyên giảng ở kinh diên có ý khinh thị nhân chủ; bàn phép Thái học thì chuyên lấy việc biến loạn thành hiến làm việc." Nên có chiếu này. Phạm Trí Hư lại nói: "Trình Di dùng tà thuyết, hành vi trái lẽ, mê hoặc loạn tai nghe, mà Doãn Đôn, Trương Dịch làm cánh, xin hạ Hà Nam đuổi hết học đồ." Trình Di vì thế dời ở phía nam Long Môn, ngăn học giả 4 phương, nói: "Tôn điều mình nghe, làm điều mình biết, là được; không tất phải đến cửa ta."

Tháng 5, ngày Tân Tị, lấy Hiền phi Trịnh thị làm Thục phi.

Ngày Bính Tuất, Tăng Bố vì vợ là Ngụy thị và các con là Nữu, Quán... giao kết cầu xin, nhận hối lộ bừa bãi, bị giáng làm Liêm châu Tư hộ tham quân, vẫn cũ an trí ở Hành châu; Nữu bị biên quản ở Vĩnh châu; Quán bị trừ tên.

Ngày Mậu Tý, nước Liêu vì người săn trốn nhiều, nghiêm ngặt đặt khoa cấm.

Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu ban bố tiết văn việc Lương An Quốc… 22 người hôm qua dâng thư phỉ báng, giáng trách khác nhau.

Ngày Ất Tị, Liêu chúa tránh nóng ở Xích Lặc lĩnh; ngày Bính Ngọ, yết Khánh lăng.

Liêu Tây Bắc Chiêu thảo sứ Tiêu Đức Lặc Đại tự cậy là tộc bên nhà hậu, khinh mạn liêu sử; Thú trưởng Da Luật Đường Cổ không chịu khuất, bèn bãi ông ta. Đường Cổ kiện lên triều, không xét. Đường Cổ tính thẳng thắn, thích phân biệt trắng đen, người có điều không thiện, ắt nói hết không giấu, đương thời gọi là “Cường Đường Cổ”.

Tháng 6, ngày Canh Thân, xuống chiếu: "Những tiến sĩ cuối niên hiệu Nguyên Phù dâng sớ phần nhiều có lời phỉ báng, nay lệnh cho các châu, quận đưa vào Tân học, chiếu theo phép Tự tụng trai của Thái học; chờ đủ 1 năm, nếu có thể sửa tâm đổi ý thì cho phép sau này dự thi; kẻ không thay đổi thì phải đuổi ra nơi xa."

Ngày Tân Dậu, Vương Hậu và Đồng Quán xuất phát từ Hy châu. Ban đầu, Hậu cùng Quán họp các tướng bàn việc quân; các tướng đều muốn hợp binh tiến thẳng vào Hoàng Trung. Hậu nói: "Giặc dựa vào chỗ hiểm Ba Kim, Bả Tát, lại cậy sông lớn làm trở ngại, chia quân giữ hiểm để chống ta. Nếu tiến đánh mà chưa hạ được, thì quân các bộ Thanh Đường kéo đến tiếp viện, giặc Hạ ắt sẽ cứu, đó không phải đối thủ nhỏ. Chi bằng chia quân làm hai: đường nam ra An Hương, đánh thốc phía trước; đường bắc ra Kinh Ngọc, đánh sau lưng. Giặc bị đánh cả trước lẫn sau, thế không thể chống, tất sẽ phá được." Quán còn chưa quyết. Hậu nói: "Ngày khác thân đến đất ấy, đã tính kỹ rồi, xin chớ quá nghi." Bèn dùng tướng Cao Vĩnh Niên ở Mân châu làm Thống chế, Diêu Sư Mẫn quyền Tri Lan châu phụ tá; lại sai Vương Đoan và những người khác, thống lĩnh 2 vạn quân Hán – Phiên của Lan châu, Mân châu, Thông Viễn quân ra Kinh Ngọc quan. Hậu và Quán tự dẫn đại quân ra An Hương quan, vượt đại hà, lên Ba Kim lĩnh.

Ngày Quý Hợi, Hậu đóng quân ở Hà châu; ngày Giáp Tý, đến An Hương quan. Quán sai Lý Trung và các tướng đem tiền quân tiến đánh thành Ba Kim (tên cũ An Xuyên bảo, ở trên Ba Kim lĩnh). Đa La Ba sai ba con trai: con cả A Lệnh Kết, con thứ Tư Đạc Ma Lệnh, con út A Mông, dẫn quân giữ thành. Thành dựa gò cao, bốn phía đều là thiên hiểm, sâu không dò được, đường đi hẹp hiểm. Quân ta đến, thấy cổng thành không đóng, các tướng phó Tân Thúc Chiêm, An Vĩnh Quốc tranh nhau xông vào; giặc xuất quân đánh bật, quân ta lùi ít bước. Vĩnh Quốc rơi xuống thiên hiểm mà chết; Thúc Chiêm và những người khác chạy về, suýt bị đánh tan. Gặp mưa, hai bên đều thu quân.

Ngày hôm sau, Ất Sửu, giặc bày đại quân quay lưng vào thành, dựng cờ đánh trống giữa các ụ; lại có nghi binh chiếm cao điểm, giăng hai cánh. Đúng lúc Hậu đem quân đến, giặc trông thấy thì khí thế suy sụp. Hậu chiếm chỗ cao, dựng cờ đại soái, sai người dụ bằng ân tín, chỉ rõ họa phúc. Dụ nhiều lần, A Lệnh Kết và bọn không chịu hàng, lời lẽ càng thêm hỗn xược; Hậu liền lệnh công thành. Giặc cố sức giữ hiểm, quân ta không vượt được thiên hiểm. Hậu đích thân đến trước trận, thúc nỏ mạnh bắn, giặc hơi lùi. Lại sai tướng phó Trâu Thắng dẫn kỵ tinh nhuệ theo đường tắt vòng ra sau lưng giặc; giặc đại kinh. Nhân đó thúc trống, các quân bốn mặt đánh gấp, giết A Lệnh Kết và Tư Đạc Ma Lệnh ngay tại trận. A Mông trúng tên xuyên mắt vào não, bỏ chạy; Đa La Ba dẫn quân đến cứu, nghe tin bại trận cũng chạy. Chưa đến giữa trưa đã đại phá quân giặc, hạ được thành; các nơi xa gần tranh nhau quy phục. Hậu chém mấy trăm thủ lĩnh cường hãn, vào giữ thành, lại sai Cao Vĩnh Niên dẫn hơn 1 vạn quân ra Kinh Ngọc quan.

Ngày Bính Dần, Hậu tiến quân đến Ngõa Xuy (tên cũ Ninh Thao trại). Vĩnh Niên và các tướng tiến chiếm Bả Tát và Tông Thành. A Mông trên đường gặp cha là Đa La Ba dẫn chúng đến cứu, báo rằng: "Quân đã đại bại, 2 anh đều chết, con cũng bị trọng thương, người Hán đã vào Ba Kim Thành rồi!" Cha con ông ta ôm nhau khóc thảm, sợ kỵ binh truy đuổi kịp, cùng phi ngựa đi. Đến Đương Thành, những kẻ ở đó phụ thuận giương cờ trắng rất đông, lại sợ bị bắt, vượt thành chạy sang Thanh Đường. Nhưng tàn đảng vẫn còn mạnh, Vương Hậu lo chúng có thể đánh sau lưng quân ta, ngày Đinh Mão, đại quân ở lại Ninh Thao, Hậu cùng Đồng Quán suất Lý Trung v.v. đem hơn 2.000 kỵ nhẹ tiến gấp đến Đương, phá các bộ tộc không thuận, đốt sào huyệt của chúng, đến bờ Đại Hà chiếm chỗ hiểm, lệnh cho bọn Trung suất chúng giữ nơi đó. Hậu trong ngày liền trở về Ninh Thao.

Ngày Mậu Thìn, tiến đánh hạ Lũng Chu Hắc Thành, thành này tên cũ là trại An Lũng.

Ngày Kỷ Tị, tiến đến Hoàng châu. Gặp quân Cao Vĩnh Niên ở sườn đông thành; các tướng bao vây thành, sai người dụ hàng. Thủ lĩnh lớn Đan Ba Đốc Lệnh Kết giam những người muốn hàng trong thành, cố thủ không xuống. Hậu và Đồng Quán lên núi phía nam nhìn vào, thấy rõ sự phòng thủ, bèn chia tướng giữ từng mặt công thành. Viện binh giặc từ Tông Thủy kiều phía bắc kéo đến, thế càng mạnh. Đến chiều, có tướng nói: "Giặc được viện binh thì sống, quân ta công chiến lâu đã mệt, xin tạm cho quân sĩ nghỉ, rồi từ từ tính." Hậu nói với Quán rằng: "Đại quân đã vào sâu đến đây, ấy là đất chết, không gấp phá thành này, Hoàng tử Thanh Đường ôm đại chúng đến cứu, giữ cầu mà thủ, thì không dễ trong 10 ngày mà thắng được. Hình thế đã lộ, thế lực đã cùng, sẽ về đâu! Các tướng không dùng mưu mà lấy, lại chỉ muốn tự tiện, sao tính được! Kẻ nào dám nói lại thì chém!" Vì thế các tướng đều đem hết sức. Tử sĩ trèo thành, giặc dùng đá thả đánh, sắp đến mép tường thì rơi xuống, kẻ phấn chấn trèo lên lại thì không kể xiết; trống 4 mặt dồn dập, ngày đêm không dứt tiếng, tên bắn xuống như mưa, trong thành kẻ mang khiên mà đứng. Ngày Canh Ngọ, lại sai riêng dũng tướng Vương Dụng suất kỵ tinh nhuệ thừa lúc giặc không ngờ, làm loạn thượng lưu Tông Thủy, đánh tan viện binh, cắt đường của chúng, nhân thắng đoạt Thủy Trại. Ban đầu, trong khoảng Nguyên Phù, đắp thành ở phía bắc Tông Thủy để che chở cầu, đến nay giặc chiếm giữ. Có tướng Phiên là Bao Hậu men theo thành mà lên, cầm giáo đánh giặc, dẫn chúng vượt vào thành, rồi lui giữ phía nam cầu. Hậu mở cửa thành ấy, Vương Dụng nhân đó đem quân vào chiếm giữ thành cầu, mà thế chiến vẫn chưa nản, bèn đốt cầu ấy, nửa đêm sáng như ban ngày. Các tướng nhờ ánh lửa mà dốc sức công thành, trong thành không chống nổi. Thủ lĩnh lớn Tô Nam Mạt Lệnh Oa lén sai người thả dây xuống thành dâng lời xin hàng, xin làm nội ứng, cho phép. Đêm ấy, Vương Hanh đoạt cửa nước mà vào, cùng thuộc hạ lên thành phía tây mà hô rằng: "Được Hoàng châu rồi!" Các quân đánh trống reo mà tiến. Đan Ba Thốc Lệnh Kết đem mấy chục kỵ theo cửa tây chạy trốn. Ngày Tân Mùi, rạng sáng, đại quân vào Hoàng châu. Tạm cho Cao Vĩnh Niên tri châu sự, sửa xong thành mà giữ. Trước sau chiêu nạp trong địa giới Hoàng châu các tộc Thất Lệnh v.v., thủ lĩnh lớn 750 người, quản hộ 10 vạn. Hậu làm đủ thư báo thắng mà tâu lên.

Ban đầu, Hoàng châu chưa hạ, Hoàng tử Thanh Đường là Khê Xa La Tát suất chúng đến cứu, qua An Nhi Hiệp, nghe thành đã bị phá, bèn đóng ở Tông Ca Thành, vì Đan Ba Thốc Lệnh Kết không giữ được, chém để làm gương. Bấy giờ người bàn luận đều muốn thừa thắng cuốn chiếu mà tiến về tây, Vương Hậu cùng Đồng Quán và các tướng bàn rằng: "Hoàng châu tuy đã hạ, nhưng thế chưa vững, người mới phụ thuộc có thể giữ 2 lòng, tàn lửa Thanh Đường còn mạnh, chưa chịu nghe gió mà bó tay, quân ta quen thắng mới, nhưng thực đã mệt, nếu tham lợi mà vào sâu, chiến có thắng có thua, hậu hoạn tất sinh. Năm sắp sang thu, ngoài ải khổ lạnh, dẫu cho rốt cuộc có được Thanh Đường, các tướng cũng chưa thể khởi công xây đắp. Nếu không phơi quân tốn sức, thì tất phải tự rút mà về, coi thường địch mà rước giặc, không phải kế vẹn toàn. Những năm trước đại quân xuất chinh, việc bỗng đổi giữa chừng, chính vì thế. Trong địa giới Hoàng châu có 3 nơi hiểm yếu: một là Đương ở phía nam châu, trước đã đắp thành rồi. Hai là Tỉnh Chương, ở phía tây châu, chính là yết hầu nơi Thanh Đường qua lại, đời Hán gọi là Hoàng Hiệp, người Đường từng sửa gác đạo, khắc đá ghi việc ấy, đất cực hiểm trở, nếu không đắp thành, ngày sau xuất binh, giặc tất nhân lúc hở mà cắt đường về của ta. Ba là Nam Tông Trại, ở phía bắc châu, cách Hạ quốc Trác La Hữu Sương Giám quân Ti 100 dặm mà gần, người Hạ cấu kết các Khương, dễ sinh biên hoạn, nay nếu đắp thành, có thể khống chế. Huống chi 3 thành này chính dựa vào chỗ lưng eo của Thiện, Hoàng, có lợi khống chế, có thể dứt mối lo đầu đuôi. Hậu trong khoảng Nguyên Phù đã từng dựng luận, không theo, rốt cuộc dẫn đến việc bỏ đất, vết xe đổ ấy sao có thể lại giẫm! Lại nữa, 3 thành đã xong thì địa giới Hoàng châu bèn vững, kẻ hàng đều dùng cho ta, địa lợi có thể giúp quân trữ, thế lực chỗ đến, uy danh tự xa, càng biết chiêu phủ hàng chúng tất nhiều, ấy là thuật chia rẽ Khương Lỗ. Năm sau nhân cơ hội mà làm một trận, đại công tất thành." Có người nói với Hậu: "Ý triều đình tất muốn gấp định Thanh Đường, theo đó lập công thì tất được trọng thưởng; trái lại thì mắc tội." Hậu nói: "Nghĩa của trung thần là biết lo cho nước thôi, rảnh đâu mà lo việc khác!" Bèn ngay ngày Giáp Tuất dời quân tiến đến phía tây Đông Hiệp của Tỉnh Chương, được nơi tiện lợi gọi là Sái Kim Bình, dựng 1 tòa thành 500 bộ, sau ban tên là Tuy Viễn quan.

Đại quân đóng ở quan; Khê Xa La Tát còn ở Tông Ca, sai các thủ lĩnh lớn Bôn Ba Lệnh A Khôn và bốn người khác cầm thư Phiên đến quân môn, xin giữ đất phía tây Lĩnh Khát Lư để cầu hòa, lời lẽ ngày càng khiêm. Quân ta đã định giữ vững Hoàng châu, sang xuân tiến đánh, lại muốn làm giặc nản chí, nên tùy nghi chấp thuận, gửi thư phô trương uy tín; trong giặc chấn động mạnh.

Tháng ấy, Trung Thái Nhất Cung cháy.

Mùa thu, tháng 7, ngày Kỷ Mão, vì thu phục Hoàng châu, bách quan vào chúc mừng.

Ngày Tân Tị, thăng quan Thái Kinh 3 bậc, Thái Biện trở xuống 2 bậc.

Ngày Nhâm Ngọ, bạch hồng xuyên mặt trời.

Xuống chiếu lấy Vương Hậu làm Uy châu Đoàn luyện sứ, tri Hy châu; Đồng Quán chuyển vào làm Nhập nội Hoàng thành sứ, Quả châu Thứ sử, vẫn theo trước coi việc Cú đương công sự ở Hy Hà Lan Hội Lộ; là thưởng công thu phục Hoàng châu vậy.

Ngày Giáp Thân, ban đức âm cho Hy Hà Lan Hội Lộ, giảm tội tù 1 bậc, tội lưu trở xuống thì thả.

Ngày Canh Dần, Tăng Triệu bị trách授 làm Bộc châu Đoàn luyện phó sứ.

Ngày Tân Mão, xuống chiếu: "Tiến sĩ dâng thư mà hiện đang sung làm Tam xá sinh thì bãi cho về."

Ngày Đinh Dậu, xuống chiếu: "Từ nay thích lý, tông thuộc chớ lại làm chấp chính quan, ghi làm lệnh."

Ngày Canh Tý, ban cho đạo sĩ Mao Sơn là Lưu Hỗn Khang hiệu Bảo Chân Quán Diệu Tiên Sinh.

Ngày Ất Tị, Bộ Lại tâu rằng con của Trình Di là Đoan Ngạn, hiện làm Yển Lăng huyện úy, tức thuộc sai phái trong Kinh phủ giới, nên cho bãi, theo đó. Nhân đó xuống chiếu: "Con cháu người bị trách giáng không được nhận sai phái ở trong kinh và trong phủ giới."

Tháng ấy, Liêu Trung Kinh mưa đá làm hại lúa.

Tháng 8, ngày Đinh Mùi mùng 1, lại luận tội bỏ Hoàng châu: trừ Hứa Tướng đã được tha tội, Tăng Bố đã bị trách làm Liêm châu Tư hộ tham quân, còn Hàn Trung Ngạn, An Đảo, Phạm Thuần Lễ, Tưởng Chi Kỳ mỗi người đều bị giáng quan; Cung Quái bị biếm Hóa châu, Trương Đình Kiên bị biếm Tượng châu biên quản; Trần Thứ Thăng ở Tuần châu, Diêu Hùng ở Quang châu cư trú; Tiền Cảnh Tường, Tần Hy Phủ đều bị lặc đình; Lý Thanh Thần chết, con là Chỉ khi ấy đang dùng quyền, đưa đi Anh châu biên quản. Lại xuống chiếu: "Hồ Tông Hồi trước kia làm soái Hy châu, nhiều lần trình nghị giữ vững Thiện, Hoàng, bị cách chức bãi nhiệm, có thể đặc cách cho làm Hạ Bảo Văn Các Đãi chế, tri Tần châu."

Ngày Mậu Thân, Ngự sử trung thừa Thạch Dự, Điện trung thị Ngự sử Chu Phất, Dư Thâm tâu: "Thượng thư Tả thừa Trương Thương Anh, vào năm Nguyên Hựu Đinh Mão từng làm ‘Gia Hòa Thiên’ cho Hà Đông thủ thần Lý Chiêu Tự, nói rằng: ‘Thành Vương còn thơ ấu, Chu Công nhiếp chính, tru phạt kẻ gièm hại, rốt cuộc thiên hạ nghe theo Chu Công, khi ấy Đường Thúc được lúa tốt. Suy xưa nghiệm nay, dấu tuy khác, lý có chỗ gần.’ Khi ấy Văn Ngạn Bác, Tư Mã Quang v.v. từ ngoại ô Lạc đến, đang nắm cơ vụ, đem so với Chu Công, có được chăng? Đến cuối Nguyên Phù, khởi dụng Trâu Hạo ở Tân châu, Thương Anh thảo từ rằng: ‘Nghĩ được bậc sĩ tốt lành, Tư trực ở triều.’ Lại rằng: ‘Hạo đi thẳng, tình thẳng, không kiêng sợ gì.’ Cái gọi là tình thẳng đi thẳng của Hạo, quả là điều tiên đế lấy chăng? Tiên đế không lấy mà Thương Anh lấy, có được chăng?" Xuống chiếu: "Trương Thương Anh cầm cơ chính của nước, nghị luận lật lọng, đài hiến dâng chương liên tiếp, sao dung ở hàng! Có thể cách chức, cho tri Bạc châu." Quan lại lại nhân đó nói Thương Anh làm sách phỉ báng, buông lời vu cáo, nên gia thêm trừng trách, đặt vào sổ Nguyên Hựu. Ngày Tân Dậu, xuống chiếu đưa Thương Anh vào đảng tịch Nguyên Hựu, đổi cho tri Kỳ châu; chẳng bao lâu bãi chức, cho Đề cử Linh Tiên Quán.

Hoàng châu đã yên, Vương Hậu phụng chiếu sắp đặt việc Hà Nam sinh Khương. Đất ấy ở phía nam Đại Hà, liền với Hà, Mân, bộ tộc ngoan cố, Hậu cho rằng nếu không sớm phủ dụ giữ yên, chiếm chỗ hiểm yếu của chúng, thì đại quân muốn hướng Thiện, Khoát ắt chúng sẽ theo bóng mà giúp nhau; hoặc ở địa giới Hy Hà châu ra vào, làm thế kiềm chế, quấy nhiễu tim bụng ta, cùng hại rất lớn. Bèn để Vương Đoan, Vương Hanh ở Hoàng châu, cùng Cao Vĩnh Niên v.v. chiêu nạp các bộ tộc vùng Tông Ca, Thanh Đường, vỗ yên người Khương mới thuộc. Ngày Giáp Tý, đại quân từ Lai Tân Thành vượt sông, nam ra Lai Khương, nhổ Đương Tiêu Thành, lại tiến đến Phân Thủy Lĩnh, Bình Nhất Công Thành, đến Nam Tông. Ngày Quý Dậu, Hậu dẫn quân đến Mễ Xuyên Thành, gặp giặc Phiên hơn 3.000 kỵ, giao chiến, phá chúng, giặc đốt cầu rồi chạy. Hôm sau, Hậu sửa cầu muốn qua, giặc lại đến chặn giữ bến, Hậu và Đồng Quán suýt bị tên lạc làm bị thương. Ngày Ất Hợi, Lai Hạ Thành bị hãm, giặc cướp lấy tài vật, rồi mỗi bọn tản đi.

Tháng 9, ngày Nhâm Ngọ, xuống chiếu: "Tông thất không được kết hôn với con cháu của bọn gian đảng Nguyên Hựu cũng như thân thích trong hàng có tang phục; những việc hôn nhân đã định mà chưa làm lễ thì đều phải sửa đổi”

Ngày Canh Dần, xuống chiếu: "Bọn người dâng thư tà thư, từ tri huyện trở lên theo tư tự đều cho ra ngoại từ lục; hạng tuyển nhân thì không được đổi quan và không được làm Tri huyện."

Ngày Nhâm Thìn, đặt Y học.

Ngày Quý Tỵ, lệnh cho các quận trong thiên hạ đều xây dựng chùa Sùng Ninh.

Ngày Tân Sửu, đổi tên bảy bậc tuyển nhân của Bộ Lại, gọi là: Thừa Trực lang, Nho Lâm lang, Văn Lâm lang, Tòng Sự lang, Thông Sĩ lang, Đăng Sĩ lang, Tướng Sĩ lang; theo lời tâu của Hình bộ Thượng thư Đặng Tuân Võ. Chế độ cũ lấy chức vụ làm bậc quan, lại lấy sai phái làm chức, khiến danh thực lẫn lộn; tuy thời Nguyên Phong đã định quan chế, nhưng chỗ này vẫn chưa chỉnh, nên đổi tên để trừ tệ ấy.

Bầy tôi dâng lời rằng: "Gần đây đi sứ trong phủ giới, sĩ nhân Trần châu có người đem việc bia đá ở cửa Đoan Lễ khắc tên gian đảng Nguyên Hựu hỏi thần; những tên ấy tuy đã từng ban hành xuống, nhưng việc ngự bút khắc đá thì chưa phải ai cũng biết rõ. Ngay trong vùng kinh kỳ mà còn như vậy, huống chi nơi xa xôi bốn phía! Xin đặc biệt giáng thánh chỉ, đem danh sách do ngự thư khắc ở cửa Đoan Lễ ban xuống các châu quân ngoại lộ, cho dựng bia khắc ghi tại công đường của Giám ty và trưởng lại, để tỏ rõ cho muôn dân." Theo đó.

Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Thìn, Liêu chúa đi đến Trung Kinh.

Vương Hậu phụng chiếu ban sư. Ngày Giáp Dần, trở về đến Hy châu, sai Đồng Quán lĩnh hộ đại thủ lĩnh Chưởng Niên Biểu Tát Tuân Tư Kê và tù trưởng Ôn Bưu vào triều.

Ngày Kỷ Mùi, Thổ Phiên cống cho nước Liêu.

Ngày Kỷ Tị, Liêu có việc ở Quan Đức Điện.

Ngày Bính Tý, Lang A Chương lĩnh các bộ tộc Hà Nam đánh cướp các thành Lai Tân, Tuần Hóa v.v., Tao Tây An phủ Lý Trung thống binh đi cứu.

Tháng ấy, Liêu Sinh Nữ Trực bộ Tiết độ sứ Anh Cách chết, cháu gọi bằng anh là Ô Nhã Thư nối làm Tiết độ sứ. Ban đầu, các bộ mỗi nơi đều có tín bài, chạy trạm để hỏi việc. Anh Cách dùng nghị của A Cốt Đả, kẻ tự tiện đặt tín bài thì trị tội. Do đó hiệu lệnh bắt đầu thống nhất, binh lực càng mạnh.

Tháng 11, ngày Canh Thìn, xuống chiếu: "Kẻ tụ đồ truyền dạy học thuật chính sự Nguyên Hựu, giao cho Giám ti xét cử, tất phạt không tha."

Ngày Tân Tị, xuống chiếu: "Người thuộc hệ tịch Nguyên Hựu, thông phán tư tự trở lên, theo điều mới cho làm Quản cú cung quán; tri huyện trở xuống theo tư tự, cho chú giám nhạc miếu, đều lệnh ở ngoài nộp trạng chỉ xạ để sai chú."

Ngày Ất Dậu, Giang Nam Tây Lộ Đề cử Thường bình Hàn Tông Trực, tri Bạc châu Tôn Tải đều bị bãi, vì quan lại luận rằng họ từng phụ Nguyên Hựu gian đảng.

Tao Tây An phủ Lý Trung đi đến Cốt Đình Lĩnh, cách Tuần Hóa Thành còn 5-6 dặm, gặp giặc, 3 trận 3 bại, Trung và các tướng Lý Sĩ Thả, Lý Thúc Chiêm, Tân Thúc Hiến đều bị giặc làm bị thương, lui chạy về Hoài Khương Thành. Tối ấy, Trung chết.

Ngày Bính Thân, quần thần nước Liêu dâng tôn hiệu cho Liêu chúa là Huệ Văn Trí Vũ Thánh Hiếu Thiên Tộ Hoàng đế. Đại xá. Lấy Tống Ngụy quốc vương Hòa La Cát làm Thái thúc, hoàng tử Lương vương Đạt Lỗ tiến phong Yên quốc vương, lấy Trịnh vương Thuần làm Đông Kinh lưu thủ, tiến phong Việt quốc Vương, mỗi người đều tiến 1 giai.

Ngày Đinh Dậu, lấy Đặc Lý Cổn A Lỗ Tát Cổ làm Nam Viện Đại vương.

Ngày Mậu Tuất, vì nhận tôn hiệu mà cáo miếu. Ngày Ất Tị, yết Thái Tổ miếu, truy tôn cao tổ của Thái Tổ miếu hiệu là Túc Tổ, tằng tổ miếu hiệu là Ý Tổ; xuống chiếu cho Giám tu Quốc sử Da Luật Nghiễm soạn Thái Tổ và Thực lục các Hoàng đế.

Tháng 12, ngày Mậu Thân, Liêu chúa đi đến Ngẫu Ty Điện.

Ngày Đinh Tị, xuống chiếu: "Tên họ quan lại có trùng với người gian đảng thì đều lệnh đổi tên." Theo lời tâu xin của Quyền tri Khai Phong phủ Ngô Thức. Khi ấy đổi tên 5 người: Chu Phất, Lý Tích Trung, Vương Công Ngạn, Giang Triều, Trương Đạc.

Ngày Quý Hợi, dời bài vị Tuyên Tổ Hoàng đế, Chiêu Hiến Hoàng hậu.

Ngày Bính Dần, xuống chiếu: "Trưởng nhị của Lục tào mỗi năm xem xét trị trạng của quan lang, chia 3 bậc mà tâu."

Ngày Quý Dậu, xuống chiếu: "Riêng lập Hy Hà Lan Hội Thố trí Biên sự Ti, Vương Hậu thố trí biên sự, Đồng Quán đồng thố trí, lại kiêm lĩnh Tần Phượng, được quyền tiết chế binh tướng, ứng phó hưng phát."

Nước Liêu lấy Tiêu Ô Nạp làm Lâm Hải Quân Tiết độ sứ. Ô Nạp dâng thư rằng: "Từ khi Tiêu Cáp Lý chạy sang Nữ Trực, họ có lòng khinh triều đình, nên thêm quân để phòng bất trắc." Không đáp.

Ban đầu, Liêu chúa đến chơi nhà Da Luật Đạt Cát, con gái của quốc cữu đại phụ họ Tiêu, tiểu tự là Sắt Sắt, liền sinh lòng yêu mến, giấu trong cung mấy tháng. Hoàng thái thúc Hòa La Cát khuyên Liêu chúa nên theo lễ mà tuyển nạp, đến nay được lập làm Văn phi.

Năm ấy, các lộ châu chấu.

Man Toản Phủ là Dương Thịnh Đồng, Dung châu là Dương Thịnh Thiên, Thiệu châu là Hoàng Thông xin nội phụ.

Nước Liêu lấy 103 tiến sĩ là bọn Mã Cung Hồi...

Năm Sùng Ninh thứ 3 (Liêu, năm Càn Thống thứ 4), Công nguyên năm 1104

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Kỷ Mão, An Hóa man hàng.

Ngày Tân Tị, xuống chiếu: "Bọn người dâng tà thư không được đến kinh sư."

Ngày Mậu Tý, đúc tiền mệnh giá 10.

Liêu chúa đến Ngư Nhi Lạc.

Ngày Nhâm Thìn, tăng số học trò ở huyện học: huyện lớn 50 người, huyện vừa 40 người, huyện nhỏ 30 người.

Ngày Giáp Ngọ, ban cho Thái Du đỗ Tiến sĩ xuất thân. Du là con trưởng của Kinh, trong khoảng Nguyên Phù, coi việc Giám quan Viện chế tạo trong kinh. Hoàng đế khi ấy làm Đoan Chính, mỗi khi lui triều, Du vừa đi đến cục, gặp trên đường, tất xuống ngựa chắp tay đứng. Vương hỏi người tả hữu, biết là Du, trong lòng khen, đến khi lên ngôi bèn được sủng. Đến nay từ Hồng Lư Thừa ban Tiến sĩ xuất thân, bái Bí thư lang.

Hoàng đế chuyên ý chế tác để dùng văn trị thái bình, Thái Kinh lại thường nói với Hoàng đế: "Nay tiền tệ tích dư 50.000.000, hòa đủ để rộng nhạc, giàu đủ để sửa lễ." Hoàng đế bị lời ấy mê hoặc, việc chế tác xây dựng bèn nổi lên. Đến nay Kinh cất nhắc khách của mình là Lưu Bính làm Đại Tư Nhạc, giao cho việc nhạc chính.

Ngày Nhâm Dần, Liêu chúa săn ở Mộc Lĩnh.

Ngày Quý Mão, sao Thái Bạch hiện vào ban ngày.

Yên quốc vương Đạt Lỗ nước Liêu qua đời. Đạt Lỗ là con do Tiêu Đức phi sinh ra; Đức phi nhân việc thân thích ở kinh sư qua đời mà mất theo.

Lưu Bính dẫn phương sĩ đất Thục là Ngụy Hán Tân vào yết kiến hoàng đế, dâng nhạc, bàn rằng

Phục Hy dùng khí cụ dài 1 tấc, gọi là Hàm Vi, nhạc của nó gọi là Phù Tang; Nữ Oa dùng khí cụ dài 2 tấc, gọi là Vĩ Dược, nhạc của nó gọi là Quang Nhạc; Hoàng Đế dùng khí cụ dài 3 tấc, gọi là Hàm Trì, nhạc của nó gọi là Đại Quyển. 3 lần 3 là 9, làm luật Hoàng Chung, đời sau theo đó, đến Đường, Ngu chưa từng đổi. Biến loạn hồng thủy, nhạc khí trôi dạt, Vũ bắt chước phép Hoàng Đế, lấy tiếng làm luật, lấy thân làm độ, dùng ngón giữa tay trái 3 đốt 3 tấc, gọi là Quân Chỉ, cắt làm ống tiếng Cung; lại dùng ngón thứ 4, 3 đốt 3 tấc, gọi là Thần Chỉ, cắt làm ống tiếng Thương; lại dùng ngón thứ 5, 3 đốt 3 tấc, gọi là Vật Chỉ, cắt làm ống tiếng Vũ. Ngón thứ 2 là Dân, là Giác; ngón cái là Sự, là Chủy. Dân với Sự, Quân Thần trị nó, lấy Vật nuôi nó, nên không dùng làm phép cắt ống. Được 3 ngón, hợp lại thành 9 tấc, thì luật Hoàng Chung định. Hoàng Chung đã định, các luật khác theo đó mà sinh. Từ Thương, Chu trở lại, đều dùng phép này; vì nạn lửa nhà Tần, phép độ của nhạc đều phế. Các nho nhà Hán như Trương Thương, Ban Cố v.v. chỉ dùng phép lũy thử, bèn đến sai lầm; loạn Vĩnh Gia đời Tấn, phép lũy thử phế. Đời Tùy, Ngưu Hoằng dùng thước nước của Vạn Bảo Thường; đến nhà Đường, Điền Kỳ và Hậu Chu Vương Phác đều dùng phép thước nước. Bản triều chê tiếng nhạc của Vương Phác quá cao, lệnh Đậu Nghiễm v.v. cắt bớt, mới được tiếng luật hài hòa, nhưng không phải phép xưa. Nay muốn xin lấy 3 ngón của Hoàng đế làm phép, trước đúc 9 đỉnh, kế đúc đại chung nơi Hoàng đế ngồi, kế đúc chuông thanh thanh 4 vận, kế đúc chuông 24 khí, rồi sau cân dây, cắt ống, làm nhạc của một đời."

Hoàng đế theo đó. Hán Tân vốn là binh sĩ dư viên, tự nói học với tiên nhân đời Đường là Lý Lương, được truyền phép đỉnh nhạc; trong niên hiệu Hoàng Hựu, cùng Phòng Thứ đều bị triệu đến kinh, mà luật thử đã thành, không được thi thố điều học, bèn lui. Có người nói Hán Tân từng bày đặt nóng ở chỗ Phạm Trấn, thấy chế tác của ông, nhân đó cướp lấy, Thái Kinh cho lời ấy là thần, bèn mượn danh Lý Lương truyền dạy mà nói. Nhưng Hán Tân hiểu âm dương số thuật, nhiều lần đoán trúng điều lạ, từng nói với người quen rằng: "Không quá 30 năm, thiên hạ loạn."

Ngày Giáp Thìn, đúc 9 đỉnh.

Tháng 2, ngày Bính Ngọ, lấy Thục phi Trịnh thị làm Quý phi.

Vì việc khắc định Nguyên Phong dịch pháp không thỏa đáng, bãi chức Tiền Dật trở xuống 9 người.

Ngày Đinh Mùi, đặt Lậu Trạch Viên.

Ngày Kỷ Dậu, xuống chiếu: "Vương Khuê, Chương Đôn riêng lập một tịch, như đảng Nguyên Hựu."

Xuống chiếu: "Từ nay ngự hậu điện, cho phép Khởi cư lang, Xá nhân đứng hầu."

Ngày Canh Thân, lệnh cho các mỏ luyện vàng bạc trong thiên hạ đều nộp vào Nội tàng.

Ngày Tân Mùi, mưa đá.

Tháng ấy, xuống chiếu cho Hàn lâm học sĩ Trương Khang Quốc biên loại chương sớ của quan lại Nguyên Hựu.

Tháng 3, ngày Tân Tị, đặt Văn Tú Viện.

Ngày Đinh Hợi, làm Viên Thổ, để giam kẻ cậy giàu cho vay mà đáng chết.

Ngày Thân Ngọ, đưa thần chủ Khâm Thành Hoàng hậu lên trên Khâm Từ Hoàng hậu.

Ngày Tân Sửu, Đại Nội bị cháy.

Ngày Nhâm Dần, Phụng nghị lang Hoàng Phụ Quốc nói: "Trong niên hiệu Nguyên Phong, ngày nghỉ của Thái học sinh, dẫn đến Võ học xạ sảnh tập bắn, Thiệu Thánh từng ghi làm lệnh. Xin ban phép ấy cho các lộ châu học." Theo đó.

Thành Đô Phủ Lộ Chuyển vận phó sứ Lý Hiếu Quảng thăng 1 quan, vì điểm kiểm học sinh Phí Dặc, Vi Trực Phương, Bàng Nhữ Dực đối sách phỉ báng chính sự Nguyên Phong. 3 người đều đưa đi Quảng Nam biên quản, vĩnh viễn không được vào học.

Đồng Quán từ kinh sư trở về đến Hy châu, phàm việc thố trí, cùng Vương Hậu đều không khác, từ đó mới bàn việc đại cử. Ngày ấy, Hậu, Quán soái đại quân phát từ Hy châu, ra Sái Kim Bình, Lũng Hữu Đô hộ Cao Vĩnh Niên làm Thống chế các lộ Phiên, Hán binh tướng theo đi, tri Lan châu Trương Giới làm Đồng thống chế. Hậu sợ người Hạ giúp Thanh Đường, ở địa giới Lan, Hoàng châu xâm nhiễu, và giặc Phiên Hà Nam cũng nhân hư mà trộm phát, làm náo động biên mới, kiềm chế thế quân, bèn sai tri Thông Viễn Quân Phan Phùng Quyền quyền lĩnh Hoàng châu, tri Hội châu Diêu Sư Mẫn quyền lĩnh Lan châu, khống ngự biên diện Hạ quốc, lại sai riêng tri Hà châu Lưu Trọng Vũ thống chế binh tướng đóng An Cường Trại, thông đường qua lại. Do đó thố trí hoàn mật, không lo sau lưng, đại quân được chuyên lực hướng tây.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Thìn mùng 1, Thượng thư tỉnh khám hội con cháu đảng nhân, không hỏi có quan hay không, đều lệnh ở ngoài cư trú, không được tự tiện đến dưới khuyết; nhân đó kê tên các quan lại bị trách giáng an trí, biên quản v.v. theo từng lộ mà dâng lên, cả thảy 144 người.

Ngày Ất Tị, vì hỏa tai mà ban đức âm cho 4 kinh, giảm tội tù 1 bậc, tội lưu trở xuống thì tha.

Ngày Canh Tuất, Vương Hậu, Đồng Quán suất đại quân đóng ở Hoàng châu. Các tướng quen thắng liên tiếp, phần nhiều nói Thanh Đường dễ đối phó, nên thẳng đến lấy. Hậu nói: "Không phải vậy, các Khương Thanh Đường dùng binh quỷ trá, nếu không cho cung binh xuất, chia đường mà tiến, thì không đủ để phô lớn thanh thế, bẻ mưu gian của giặc. Lại nữa, phía bắc Hoàng châu có Thắng Đạc Cốc, phía tây nam có Thắng Tông Ải, Uông Điền, Đinh Linh Tông Cốc, còn đường giữa ra Tuy Viễn Quan có thể cắt đường lương của ta, rồi các bộ hợp thế kẹp đánh giữa Hát Lư Lĩnh và Tông Ca Xuyên, thắng bại chưa thể biết." Vì thế định nghị chia ra 3 đường: Hậu cùng Quán suất 3 quân do Tuy Viễn Quan, Hát Lư Lĩnh chỉ đến Tông Ca Thành; Đô hộ Cao Vĩnh Niên đem tiền quân do Thắng Đạc Cốc men theo bắc Tông Hà; tướng khác là Trương Giới cùng Chiêu nạp quan Vương Đoan đem bộ thuộc của mình do Uông Điền, Đinh Linh Tông Cốc men theo nam Tông Hà; hẹn 9 ngày hội dưới thành Tông Ca.

Ngày ấy, Quán vẫn cho lời các tướng là đúng. Trước tiến đến Tuy Viễn, dùng Phùng Quán thống lĩnh tuyển phong lên Hát Lư Lĩnh. Kỵ thám báo rằng quân Thanh Đường đóng dưới lĩnh rất đông, Quán dừng ở Tuy Viễn. Hôm sau, Hậu đem hậu quân đến, mới xuống Hát Lư Lĩnh. Khê Xa La Tát sai Bát Thứ ra đón trên đường, lén dò hư thực, đãi rồi cho về. Giới nói: "Về bảo Chúa của ngươi, muốn hàng thì nên quyết sớm; đại quân đến, mũi nhọn vừa giao, sẽ không còn chỗ trốn." Bát Thứ về báo, cho rằng quân ta không đông lắm, ban đầu không biết là chia ra mà tiến. Khê Xa La Tát mừng nói: "Vương sư nếu chỉ như thế, ta lo gì!" Bèn đem chúng chiếm Phác Giang Cổ Thành. Chốc lát nghe 3 đường quân hội, vội lui 20 dặm. Phía đông Tông Ca Thành, đất gọi là Cát Bi Thang, có khe lớn mấy lớp, có thể cậy mà đánh, giặc bèn chiếm giữ.

Đêm ấy, trung quân đóng ở phía nam sông, bên trái Diều Tử Ải, quân Vĩnh Niên đóng ở cửa Đinh Linh Tông.

Ngày Nhâm Tý, Hậu, Quán sai 5 tướng tuyển phong đi trước, trung quân vượt sông mà lên phía bắc, nối tiếp sau Vĩnh Niên. Trương Giới đi dọc theo sông. Trời chưa sáng, đến nơi giặc đóng. Giặc 50.000–60.000 người, dựa địa lợi bày trận. Trương bày nghi binh dưới núi phía bắc, thế rất sắc. Hậu lệnh Phùng Bách thống lĩnh 5 tướng tuyển phong cùng giặc đối trận, Vương Hanh thống lĩnh quân tuyển phong tiếp sau. Vĩnh Niên phi ngựa lên trước xem giặc, chưa biết giặc sẽ xuất ở đâu. Hậu nói với Quán rằng: "Giặc lấy nhàn đợi mệt, thế đang hăng. Mặt trời dần cao, quân ngựa đói, không thể chậm dù chút. Nên lấy trung quân vượt lên trước quân tiền, men theo núi phía bắc chỉnh đốn đội ngũ mà tiến, thúc quân tuyển phong vào đánh, phá giặc ắt được." Đã đi, thám giả nói: "Khê Xa La Tát cùng các tù trưởng cầm quyền của hắn như Đa La Ba v.v. bảo với chúng rằng: ‘Kẻ kia là Trương Cái, 2 Thái úy, ta nhất định bắt lấy.’” Quán muốn gọi Vĩnh Niên đến hỏi thế giặc, Hậu nói: "Không được, sợ lỡ việc chống đỡ." Quán không nghe. Đến khi Vĩnh Niên tới, nắm cương ngựa rất lâu, không nói một lời. Hậu nói với Vĩnh Niên rằng: "2 quân đối nhau, thắng bại ở trong khoảnh khắc, ông là tướng tiền quân, sao lâu như vậy?" Vĩnh Niên hoảng sợ, phi ngựa đi.

Bấy giờ quân giặc và quân tuyển phong của ta giằng co chưa động. Khê Xa La Tát dùng vài nghìn kỵ tinh binh tự vệ, lên gò cao phía bắc doanh của hắn, dựng hoàng ốc, bày đại phướn, chỉ huy quân giặc. Nghi binh phía bắc của hắn trông thấy Hậu và Quán dẫn trung quân men theo núi, muốn đến xông thẳng, Hậu sai hơn 1.000 kỵ du lên núi, ngầm đánh sau lưng chúng. Giặc hay, bèn chạy. Kỵ du đuổi đánh, giáp chiến bằng binh khí ngắn. Trung quân đánh trống, hò reo vang dậy. Vĩnh Niên vội vung quân tuyển phong xông thẳng vào trận, giặc hơi lùi. Trương Giới dùng kỵ nhẹ lội qua sông, đánh thốc vào chỗ kiên cố ở giữa, đoạt đại phướn của Khê Xa La Tát và hoàng ốc của hắn, chiếm chỗ cao mà hô rằng: "Bắt được tù trưởng giặc rồi!" Các quân tiếng trống rung đất. Gặp lúc gió dữ từ đông nam nổi lên, bụi bốc mù mịt, quân giặc không nhìn thấy, quân ta thừa thế phấn kích đánh mạnh, từ giờ Thìn đến giờ Ngọ, quân giặc đại bại, đuổi về phía bắc hơn 30 dặm. Khê Xa La Tát một mình một ngựa chạy đến thành Tông Ca, thành đóng cửa không nhận, bèn chạy sang Thanh Đường. Các tướng tranh nhau đuổi theo, suýt bắt kịp, gặp trời tối bèn quay về. Ngày ấy, chém đầu 4.316, bắt hàng hơn 3.000 người. Đại thủ lĩnh Đa La Ba v.v. bị thương chạy thoát, không biết ở đâu. Trong thành Tông Ca, ngụy công chúa Hạt Sất Mưu Lận Chiên kiêm suất các tù trưởng đem thành về hàng. Thành Tông Ca vốn tên là Long Chi thành, lấy quân đặt tướng giữ.

Đêm ấy, hợp quân ở phía nam sông. Hôm sau, thủ lĩnh Thắng Tông là Khâm Tư Kê dẫn chúng đến hàng. Ngày Giáp Dần, Hậu, Quán vào thành An Nhi. Ngày Ất Mão, dẫn đại quân đến Thiện châu, ngụy Quy Tư công chúa Thanh Nghi Kết Mưu cùng tù hào của nàng là Lý Hà Ôn dẫn các bộ tộc Hồi Hột, Vu Điền, Bát Thứ và các thủ lĩnh lớn nhỏ mở cửa ra hàng, Thiện châu bình định.

Ban đầu, Khê Xa La Tát thua ở Tông Ca, đêm đến Thanh Đường, mưu tính kế giữ, nhưng các tộc Bồi không ai chịu theo hắn. Hôm sau, dắt trưởng thê của hắn trốn vào trong núi Khê Lan Tông. Hậu sai Phùng Quán thống lĩnh 10.000 kỵ nhẹ tinh nhuệ từ phía nam châu theo cốc Thanh Đường mà vào, giặc lại hay, chạy lên trên Thanh Hải, đuổi bắt không được.

Ngày Bính Thìn, hạ Lâm Kim Thành, đi về phía tây đến Thanh Hải chừng 200 dặm, đặt quân và tướng giữ.

Ngày Kỷ Mùi, Vương Hậu v.v. dẫn đại quân vào địa giới Quách châu, đại thủ lĩnh Lạc Thi Quân Lệnh Kết dẫn chúng đến hàng. Ngày Tân Dậu, Hậu vào Quách châu, phi biểu tâu mừng. Đại quân đóng ở phía tây thành, các bộ tộc phía nam sông hằng ngày có người đến, Hậu bảo cho biết ý triều đình vỗ về, giữ gìn, ban ơn; việc Tông Ca đánh bại mà bị giết, là nguyên do của họa phúc; răn họ không được làm bậy, tự chuốc lấy tàn sát; ai nấy đều vâng dạ nghe lệnh.

Ngày Ất Sửu, bãi Giảng nghị ti.

Xuống chiếu: "Vương Hậu, Đồng Quán đem quân ra khỏi ải, chưa đầy mấy tháng, cả một nước Thanh Đường, bờ cõi đều thu lại hết. Bèn lấy Hậu làm Võ Thắng quân lưu hậu, Hy Hà Lan Hội kinh lược an phủ sứ, kiêm tri Hy châu; Quán làm Cảnh Phúc điện sứ, Tương châu quan sát sứ, vẫn như cũ câu đương Nội Đông Môn ti."

Ngày Đinh Mão, quần thần nhân việc thu lại hết đất cũ Thanh Đường mà chúc mừng.

Ngày Kỷ Tị, đặc xá Thiểm Tây.

Ngày Canh Ngọ, Vương Hậu đi qua Hoàng châu, dọc theo đại hà Lan châu và dọc theo biên giới đông nam của nước Hạ, phô trương binh lực tuần biên, trở về Hy châu.