Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 90

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 90  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 90

Từ tháng Giêng năm Đinh Hợi (1107) đến tháng Chạp năm Canh Dần (1110), Huy Tông Đại Quan năm thứ 1 đến năm thứ 4, gồm 4 năm

Năm Đại Quan thứ 1 (Liêu, Càn Thống năm thứ 7), Công nguyên năm 1107

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Mậu Tý mùng 1, đại xá thiên hạ.

Ngày Giáp Ngọ, Trung Thái Nhất cung sứ, Ngụy quốc công Thái Kinh, lại làm Thượng thư Tả bộc xạ kiêm Môn hạ thị lang.

Ngày Canh Tý, ngự bút rằng: "Nghị Lễ cục vẫn theo lệ đặt cục tại Thượng thư tỉnh, lại sai 2 viên Lưỡng chế bàn xét kỹ, 5 viên thuộc quan khảo xét. Phàm những việc liên quan lễ chế, có thể trình đủ đầu đuôi, nghị định rồi xin chỉ."

Cam lộ giáng xuống trong đỉnh của Hoàng đế, quần thần dâng lời chúc mừng.

Ngày Nhâm Dần, Thượng thư Tả thừa Ngô Cư Hậu vì già xin tránh chức, bãi làm Đông Thái Nhất cung sứ.

Ngày Nhâm Tý, lấy Hà Chấp Trung làm Trung thư thị lang, Đặng Tuân Vũ làm Thượng thư Tả thừa, Hộ bộ Thượng thư Lương Tử Mĩ làm Thượng thư Hữu thừa.

Tử Mĩ ban đầu làm Hà Bắc Đô chuyển vận sứ, dốc sức tính toán việc vận lương để phụng sự bề trên, đến mức bỏ ra 300 vạn quan tiền để mua Bắc châu mà dâng tiến; bởi thế các chuyển vận thần các lộ bắt chước, tranh nhau dâng phần dư thừa. Châu này xuất từ Nữ Trực, Tử Mĩ mua ở nước Liêu. Nước Liêu ham lợi ấy, ngược đãi Nữ Trực, bắt hải đông thanh để cầu châu, Nữ Trực oán rất sâu. Còn Tử Mĩ nhờ việc này mà hiển đạt.

Tháng ấy, Liêu chúa câu cá ở Áp Tử Hà.

Tháng 2, ngày Kỷ Mùi, chiếu lệnh đạo sĩ xếp thứ bậc đứng trên tăng, nữ quan đứng trên ni.

Ngày Nhâm Tuất, Hướng Tông Hồi dời phong làm An Khang quận vương.

Ngày Giáp Tý, chiếu rằng: "Hoài Nam, Lưỡng Chiết, phàm kẻ đúc tiền riêng, hạn 1 tháng phải tự thú nộp; hết hạn mà không tự thú, đều chiếu theo pháp tư tiền mà xử. Số tiền riêng nộp đến, đều cho phép phát đưa đến các tiền giám ở kinh kì để nấu đúc lại thành tiền Ngự thư đương thập."

Vì động Lê nộp đất, đặc xá Quảng Tây.

Ngày Ất Hợi, khôi phục y học.

Ngày Kỷ Mão, khôi phục thi hành Phương Điền.

Ngày Bính Tuất, lấy Bình Xương quận quân Vi thị làm Tài nhân.

Ở Phụng Tường phủ có Tiên Cô, ban cho hiệu Thanh Chân Xung Diệu Tiên Sanh. Chẳng bao lâu sai Lý 不 mang hương ngự phong đến các đạo tràng như Thái Bình cung ở Phụng Tường v.v., nhân đó tuyên triệu Tiên Cô vào chầu.

Lại có một người tên Ngu Tiên Cô, hơn 80 tuổi, dung mạo như thiếu nữ, thực hành Đại Động pháp. Một ngày, Hoàng đế tụng "Đại Động Kinh", ngẩng đầu lên, thấy có tiên quan đứng hầu. Thái Kinh từng bày cơm mời Tiên Cô, thấy con mèo lớn, Tiên Cô chỉ mà hỏi Thái Kinh rằng: "Có nhận ra không? Đây là Chương Đôn đấy." Ý là để châm biếm Thái Kinh, Thái Kinh rất không vui. Hoàng đế từng hỏi Tiên Cô kỳ hạn đạt thái bình, Tiên Cô đáp: "Nên dùng hiền nhân." Hoàng đế nói: "Hiền nhân là ai?" Đáp: "Phạm Thuần Túy." Hoàng đế đem nói với Thái Kinh, Thái Kinh nói: "Đây là bọn thần liêu niên hiệu Nguyên Hựu sai khiến." Bèn đuổi đi. Vì thế sĩ đại phu tranh nhau nói rằng Ngu Tiên Cô cũng vào đảng Nguyên Hựu rồi.

Liêu chúa đóng ở Đại Ngư Lạc.

Tháng 3, ngày Kỷ Sửu, ngự giá đến hồ Kim Minh, ban yến cho bọn Tể tướng Thái Kinh và những người khác.

Ngày Đinh Dậu, Thượng thư Hữu bộc xạ Triệu Đĩnh Chi bãi làm Hựu Thần Quan sứ. Lấy Hà Chấp Trung làm Môn hạ thị lang, Đặng Tuân Vũ làm Trung thư thị lang, Lương Tử Mĩ làm Thượng thư Tả thừa, Lại bộ Thượng thư Chu Ngạc làm Thượng thư Hữu thừa. Chu Ngạc xuất thân từ môn hạ Thái Kinh, giỏi a dua phụ họa, nên có mệnh này.

Lấy Thái Du làm Long Đồ các học sĩ kiêm Thị độc.

Ngày Giáp Thìn, chiếu dùng Bát Hành để chọn sĩ: khéo thờ cha mẹ là hiếu, khéo với anh em là đễ, khéo với nội thân là mục, khéo với ngoại thân là nhân, giữ chữ tín với bằng hữu là nhậm, có lòng nhân với châu lý là tuất, biết nghĩa vua tôi là trung, thông đạt sự phân biệt nghĩa và lợi là hòa. Hiếu, đễ, trung, hòa là bậc thượng; mục, nhân là bậc trung; nhậm, tuất là bậc hạ. Lại chế ra hình phạt cho các tội: bất trung, bất hiếu, bất đễ, bất hòa, bất nhân, bất mục, bất nhậm, bất tuất. Phàm kẻ phạm 8 hình ấy, huyện lệnh tá, châu tri thông đem việc ấy tự viết vào sổ, báo cho học. Hễ có người được vào học, nếu bất mục 10 năm, bất nhân 8 năm, bất nhậm 5 năm, bất tuất 3 năm, mà có thể sửa lỗi làm mới, không phạm tội nữa và có thực sự có 2 hạnh, thì kỳ lân bảo ngũ trình lên huyện; huyện lệnh tá xét nghe cho vào học. Ở học 1 năm, lại không phạm tội bậc 3, thì cho được xếp vào hàng chư sinh.

Ngày Quý Sửu, Quan Văn điện Đại học sĩ, Hựu Thần Quan sứ Triệu Đĩnh Chi chết. Truy tặng Tư đồ, thụy là Thanh Hiến.

Lấy Diệp Mộng Đắc làm Khởi cư lang. Mộng Đắc bám Thái Kinh, được làm Từ Bộ Viên ngoại lang. Thái Kinh bãi tướng, Triệu Đĩnh Chi đổi những điều đã thi hành; đến khi Thái Kinh lại làm tướng, lại trở về chính sách cũ. Mộng Đắc vào chầu đối đáp, nhân nói: "Những điều bệ hạ trước đây đã kiến lập, là do bệ hạ hay do đại thần? Há có thể vì đại thần tiến thoái mà có sự thay đổi sao!" Hoàng đế vui, nên có mệnh này.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Ất Sửu, lấy Thục phi Vương thị làm Quý phi.

Tháng 5, ngày Kỷ Sửu, Triều tán lang Ngô Trữ, Thừa Nghị lang Ngô Mâu, vì tội cùng yêu nhân Trương Hoài Tố mưu phản, bị xử chém.

Án Trương Hoài Tố khởi lên, Thái Kinh muốn nhân đó gán ghép để kết tội Lữ Huệ Khanh, bắt con là Uyên xuống ngục, đánh đòn mấy nghìn roi, muốn ép nhận là cùng Trương Hoài Tố mưu phản; Uyên rốt cuộc không chịu, nên được miễn. Ngày ấy, Lữ Huệ Khanh bị trách thụ Kì châu Đoàn luyện phó sứ, an trí ở Tuyên châu, vì tội dâng biểu tự hặc, che chở con mình, không có lời tự trách.

Ngày Canh Dần, Trung thư thị lang Đặng Tuân Vũ bị bãi. Án Trương Hoài Tố, sĩ phu trong triều nhiều người bị liên lụy, mà vợ của Tuân Vũ là Ngô thị, là cháu gái của Ngô Mâu, nên bị giáng ra làm Tri Tùy châu, Đề cử Minh Đạo cung.

Ngày Giáp Ngọ, chiếu ban nhạc mới trong thiên hạ.

Ngày Quý Mão, chiếu rằng: "Từ nay phàm chức Tổng một lộ và chức Giám ty, chớ chọn người theo học thuật Nguyên Hựu và người có dị nghị."

Vì Man An Hóa xâm phạm biên giới, tăng quân đưa đến Quảng Tây để đánh.

Ngày Ất Tị, Hoàng tử Cấu chào đời, do Tài nhân Vi thị sinh ra. Chẳng bao lâu thăng Vi thị làm Tiệp Dư.

Tháng 6, ngày Kỷ Mùi, lấy Lương Tử Mĩ làm Trung thư thị lang.

Ngày Nhâm Tuất, chiếu Cảnh Linh cung dựng điện thất thờ Hi Tổ.

Ngày Giáp Tý, lấy đất người Lê làm 2 châu Đình, Phu.

Ngày Canh Ngọ, lệnh các châu học khắc đá Ngự chế Bát Hành, Bát Hình, theo lời thỉnh của Giang Đông Chuyển vận phó sứ Gia Bân.

Ngày Quý Dậu, ban cho 29 người Thượng xá sinh đỗ đạt.

Ngày Ất Hợi, Thượng thư Hữu thừa Chu Ngạc chết. Truy tặng Quang Lộc đại phu, thụy là Trung Tĩnh. Chu Ngạc ban đầu tên là Phất, vì trùng tên với người trong đảng tịch, nên đổi tên.

Tháng ấy, lấy Thái Nghĩ làm Cấp sự trung.

Thái Nghĩ do thi sách ở Học lục, đoán Thái Kinh sắp lại được dùng, liền đối rằng: "Đức nghiệp đời Hi, Phong đủ để phối trời, chẳng may nối tiếp là Nguyên Hựu; sự kế thừa thuật lại đời Thiệu Thánh đủ để vĩnh viễn nương cậy, chẳng may nối tiếp là Tĩnh Quốc. Bệ hạ hai lần hạ chiếu cầu hiền, mong được nghe lời chí ngôn, thu lấy thực dụng; mà những kẻ thấy ở cuối niên hiệu Nguyên Phù, lại đang mừng thời thế biến đổi mà buông lời gian, thừa kẽ hở mà gieo ý khác, phỉ báng công liệt đời trước, không lấy làm nghi, lay động quốc thị, không lấy làm sợ; xin hãy liệu trước khi chưa đến mà dứt tuyệt nguồn ấy." Vì thế được chọn đứng đầu, đem lời đối ban bố thiên hạ. Vừa mới giải cởi áo vải, liền được bổ Bí thư chính tự, chưa đầy 1 năm đến hàng thị tòng, trước đó chưa từng có.

Liêu chúa đến Tán Thủy Nguyên.

Ở nước Liêu, Da Luật Mạnh Giản làm Lục bộ viện Thái bảo, xử việc không câu nệ văn pháp, đương thời nhiều người cười chê là quê kệch. Mạnh Giản nghe vậy, nói: "Thời thượng cổ, không có sổ sách pháp lệnh mà thiên hạ vẫn trị. Sổ sách pháp lệnh, chỉ vừa đủ để làm nảy sinh gian tà may mắn, không phải gốc để thánh nhân làm nên trị." Chẳng bao lâu đổi làm Cao châu Quan sát sứ.

Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Dậu mùng 1, sông Y, sông Lạc tràn.

Ngày Mậu Tý, ban chiếu thống kê, truy xét số đinh đinh bị bỏ sót trong cả nước.

Ngày Nhâm Dần, phát cấp lễ phục tế tự cho các châu quận.

Ngày Ất Tị, Hiền phi Võ thị mất.

Ngày Bính Ngọ, thần liêu dâng lời rằng: "Phép tiền tệ ở Tô Châu bị hư hỏng, bắt đầu từ Thái Vị, hoàn tất bởi Kiển Tự Thần; tội của hai người là ngang nhau. Nhưng tai hại do tiền ‘tiểu bình’ lại là do Tự Thần gây ra. Thái Vị đã bị cách chức, bãi quan, giải về Thái Châu quản thúc, còn Tự Thần chỉ bị giáng ba cấp quan, vẫn được an cư tại châu Thiện. Tội giống nhau mà hình phạt khác nhau, sĩ luận đều nghi ngờ." Chiếu rằng: "Giáng chức Kiển Tự Thần, cho làm Phó sứ đoàn luyện Đan châu, an trí tại Giang châu."

Từ khi niên hiệu Sùng Ninh cải cách phép tiền, lấy một đồng đổi mười, dân chúng ham lợi mà vi phạm pháp luật rất nhiều. Có kẻ bị bắt, bèn dùng số tiền đầy một vại lớn, vu cho là do Tử Diên, con trai của Chương Tông Chương Kiệt, đúc ra.

Tử Diên là anh vợ của Lưu Quỳ, Thái Kinh oán Quỳ, nhân đó dựng án. Ban đầu sai Giám sát Ngự sử Trương Mậu Trực đến Bình Giang thẩm tra, án dâng lên, Tử Diên không phục. Lại sai Thị Ngự sử Thẩm Kì; Kì đến nơi, người bị giam mấy trăm, đều thả hết, than rằng: "Làm tai mắt cho thiên tử, mà có thể phụ họa quyền quý, giết người để cầu phú quý sao?" Bèn xem xét sự thực, lật lại án oan, tâu rõ lên triều đình. Thái Kinh giận lắm, lại sai quan khác rèn đúc chứng cứ, Tử Diên rốt cuộc bị đày ra hải đảo, tịch thu gia sản. Vì thế thần liêu dâng lời rằng: "Kì mùa xuân năm ngoái từng dâng phong sự, chê bai pháp độ triều đình, ý muốn nghênh hợp đại thần, ôm lòng gian và dị nghị." Chiếu giáng Kì làm giám Tín châu tửu thuế, chưa bao lâu thì chết.

Liêu chúa đến Hắc Lĩnh.

Liêu chúa vì gió lớn ở mạc nam làm hại cỏ, ngựa chết nhiều, bèn bắt Mã quần Thái bảo Tiêu Thác Tư Hòa, đánh 300 roi rồi miễn chức.

Tháng 8, ngày Ất Mão, Thái trung đại phu, Đề cử Sùng Phúc cung Tăng Bố chết ở Nhuận châu.

Ngày Đinh Tị, phong Hoàng tử Cấu làm Thục quốc công.

Ngày Canh Thân, lấy Hộ bộ Thượng thư Từ Xử Nhân làm Thượng thư Hữu thừa, Binh bộ Thượng thư Lâm Sư đồng tri Khu mật viện sự.

Việc yêu của Trương Hoài Tố bị phát giác, Lâm Sư lấy thân phận Khai Phong doãn cùng Trung thừa Dư Thâm hợp xét, được thư sớ qua lại của sĩ dân mấy trăm, Lâm Sư xin đều đốt sạch để yên lòng kẻ phản trắc. Mọi người khen là bậc trưởng giả, không biết Thái Kinh giao du với Trương Hoài Tố thân mật nhất, Lâm Sư thực ra là vì Thái Kinh mà làm. Thái Kinh rất cảm đức, nhân việc xét án sáng rõ công bằng, liên tiếp thăng mấy chức, đến đây bèn lên Xu phủ.

Ngày Kỷ Tị, ban đức âm xuống 26 châu thuộc Hoài, Hải, Ngô, Sở, giảm tội tù 1 bậc, tội lưu trở xuống thì thả.

Tháng 9, ngày Canh Dần, dựng Hiển Liệt quan ở Trần Kiều.

Ngày Kỷ Dậu, gia thụy cho Hi Tổ là Lập Đạo Triệu Cơ Tích Đức Khởi Công Ý Văn Hiến Vũ Duệ Hòa Chí Hiếu Hoàng đế. Triều hiến Cảnh Linh cung.

Ngày Canh Tuất, hưởng Thái miếu.

Ngày Tân Hợi, hưởng Minh đường, xá thiên hạ.

Thăng Vĩnh Hưng quân làm Đại đô đốc phủ.

Chương Tử Diên vì tội mạo pháp, bị đày ra hải đảo. Bọn Lý Cảnh Trực 4 người, vì tội dâng thư ngóng gió, đều bị biên quản Lĩnh Nam.

Ngày Canh Tý, Tuyên nghĩa lang trí sĩ Trình Di chết, thọ 75 tuổi.

Trình Di đọc sách không gì không đọc, học vấn lấy thành làm gốc, lấy "Đại Học", "Luận Ngữ", "Mạnh Tử", "Trung Dong" làm tiêu chỉ, mà thông đạt đến "Lục Kinh". Động tĩnh nói nín, đều lấy thánh nhân làm thầy. Từng nói: "Ta không có công trạch đến người, chỉ có chắp nối sưu tập sách còn lại của thánh nhân, may ra có chút bổ ích mà thôi." Suốt đời dạy người không mệt, nên học giả ra từ cửa ông, nguồn mạch thấm dần, đều thành danh sĩ, Tạ Lương Tá, Du Tạc, Lữ Đại Lâm, Doãn Thuần, Dương Thời lại càng nổi tiếng. Đời gọi Trình Di là Y Xuyên Tiên Sanh.

Mùa đông, tháng 10, ngày Kỷ Mùi, chiếu rằng: "Sĩ có tài võ tuyệt luân, hằng năm tiến cống, chuẩn theo phép văn sĩ Thượng xá thượng đẳng."

Ngày Canh Thân, họa ban cho Thái Kinh bài thơ "Quân thần khánh hội các lạc thành".

Ngày Tân Dậu, Tô châu động đất.

Ngày Ất Sửu, Đề cử Sùng Phúc cung Trương Thương Anh bị trách thụ An Hóa quân Tiết độ phó sứ, an trí ở Quy châu, vì thần liêu nói tội nặng mà trách phạt nhẹ.

Ngày Kỷ Tị, mưa đá lớn.

Liêu chúa yết Càn Ninh Quân, săn ở núi Y Vu Lư.

Tháng nhuận, ngày Bính Tuất, lấy Lâm Sư làm Thượng thư Tả thừa, Tư Chánh Điện học sĩ Trịnh Cư Trung đồng tri Khu mật viện sự.

Ban đầu, Trịnh Cư Trung tự nói là anh em họ của Trịnh Quý phi; nhà Quý phi vốn hèn, cũng dựa vào Cư Trung làm trọng, bởi thế liên tiếp được thăng đến Hàn lâm học sĩ, rồi được bổ Đồng tri Khu mật viện sự. Khi ấy Quý phi được sủng ái nhất hậu cung, đối với Cư Trung không còn phải nhờ cậy gì, bèn dùng kế của hoạn quan Hoàng Kinh Thần, lấy cớ ngoại thích cầm quyền, đổi Cư Trung làm Tư Chánh Điện học sĩ, Trung Thái Nhất cung sứ kiêm Thị độc. Thái Kinh lại được cầm quyền, sự giúp đỡ của Cư Trung rất nhiều, Cư Trung đòi Thái Kinh báo đáp hậu; Thái Kinh nói rằng Khu mật viện là nơi nắm binh, khác với Tam tỉnh, dùng người thân cũng không ngại. Hoàng Kinh Thần ra sức chống lại lời nói trước, lời Thái Kinh không hiệu nghiệm; Cư Trung ngờ Thái Kinh không giúp mình, bắt đầu oán, bèn cùng Trương Khang Quốc gièm pha Thái Kinh. Đô thủy sứ giả Triệu Lâm được 2 con rùa 2 đầu ở Hoàng Hà, dâng làm điềm lành; Thái Kinh nói: "Đây là cái gọi là tượng võng của Tề Tiểu Bạch, thấy nó thì làm bá." Trịnh Cư Trung nói: "Đầu há nên có 2! Người đều kinh dị, mà riêng Thái Kinh lại chủ trương, e khó lường." Hoàng đế sai thả rùa vào Kim Minh Trì, nói rằng "Cư Trung yêu ta", bèn thi hành lại mệnh lệnh trước.

Ngày Ất Mùi, chiếu rằng: "Quan thủ lệnh lấy hộ khẩu làm tiêu chuẩn khảo hạch."

Thăng Quế châu làm Đại đô đốc phủ, dựng châu trấn ở giữa núi Lê Mẫu, ban quân ngạch gọi là Tĩnh Hải, dùng theo kế của Tri Quế châu Vương Tổ Đạo.

Ngày Ất Tị, thăng Thái Nguyên phủ, Đặng châu đều làm Đại đô đốc phủ.

Tháng 11, ngày Nhâm Tý mùng 1, mặt trời bị thực. Thái Kinh vì không đến phần đáng bị thực, dẫn quần thần dâng lời chúc mừng.

Ngày Quý Hợi, chiếu rằng: "Bàn lễ nên truy thuật ý của Tam Đại, hợp với điều thích nghi ngày nay, ‘Khai Nguyên Lễ’ không đủ làm phép. Nay thân chế ‘Quan Lễ Diên Cách’ 11 quyển, giao cho Nghị Lễ cục. Còn 5 lễ khác, lệnh chiếu theo đó mà biên thứ."

Ngày Ất Sửu, đặt Nội ngoại Phù bảo lang.

Lúc đầu, các bảo ấn phần nhiều dùng đá bậc làm. Trong niên hiệu Nguyên Phong, chiếu theo cổ chế làm 6 tỉ của thiên tử hoàng đế, có ngọc mà chưa thành. Đầu niên hiệu Nguyên Phù, mới được thợ ngọc giỏi mà khắc, chỉ là điệp triện mà thôi, ngọc cũng không tốt lắm. Đến nay được Hán truyền quốc tỉ, thực là Tần tỉ, là Lam Điền ngọc, triện ngư trùng của Lý Tư, văn rằng: "Thụ mệnh ư thiên, ký thọ vĩnh xương." Hoàng đế chỉ lấy văn ấy mà bãi tỉ ấy không dùng, nhân đó tự làm Thụ mệnh bảo, vuông hơn 4 tấc. Khi ấy lại được một ấn ngọc nhỏ cổ, văn rằng: "Thừa thiên phúc diên vạn ức vĩnh vô cực", Hoàng đế lại lấy văn ấy phỏng theo ngư trùng của Lý Tư mà làm bảo, lớn 5 tấc, đều làm núm ly, còn triện thì Thái Kinh sai con là Thái Du theo ý mà bắt chước, đặt tên là Trấn quốc, Thụ mệnh nhị bảo; hợp với 6 tỉ của tiên đế, thành 8 bảo, sai đặt quan để coi giữ.

Thượng thư tỉnh tâu rằng: "Nay trong cấm trung đã có bảo thường dùng, dùng đến rất nhiều, không thể đổi dời. Muốn Trấn quốc, Thụ mệnh bảo đều là bảo mà không dùng, chỉ khi phong thiện mới dùng; Hoàng đế chi bảo, khi đáp thư láng giềng thì dùng; Hoàng đế hành bảo, khi ban ngự trát thì dùng; Hoàng đế tín bảo, khi ban thư và vật cho láng giềng thì dùng; Thiên tử chi bảo, khi đáp thư ngoại quốc thì dùng; Thiên tử hành bảo, khi phong sách thì dùng; Thiên tử tín bảo, khi cử đại binh thì dùng; còn lại đều dùng bảo thường dùng." Theo đó.

Ngày Kỷ Tị, thăng Dĩnh châu làm Hà Gian phủ, Dĩnh Hải quân Tiết độ.

Ngày Mậu Dần, Thượng thư Hữu thừa Từ Xử Nhân vì tang mẹ rời chức.

Nam Đan châu giáp đất Nghi châu và Tây Nam Di, đời đời là nơi họ Mạc cư trú, tự xưng Thứ sử. Vương Tổ Đạo muốn chiếm lấy, bèn vu cho tù trưởng Mạc Công Ninh ngăn trở Đông Lan châu, không cho nộp đất, phát binh đánh, bắt Công Ninh, lấy Nam Đan châu làm Quan châu. Em Công Ninh là Công Thịnh, liên kết khe động để báo thù, xâm lấn cướp bóc thành ấp, giết Thứ sử, Thái Kinh che giấu không tâu. Đặc đặt Kiềm Nam lộ, lĩnh 9 châu: Đình, Phu, Bình, Doãn, Tòng, Nghi, Liễu, Dung, Quan.

Tháng 12, ngày Canh Dần, Thái Kinh vì công được gia Thái úy, thăng quan cho Hà Chấp Trung trở xuống 2 bậc, và triệu Tổ Đạo về làm Hình bộ Thượng thư.

Tổ Đạo ở Quế 4 năm, hậu đãi quan tước vàng lụa để dụ các Di, dựng thành ấp, điều binh trấn thủ, vận chuyển tiền vải muối thóc từ nội địa, không còn hạn mức như trước. Đất nhiều chướng lệ, người đi đồn trú 10 chết 5-6, thực không thêm được 1 tấc đất 1 dân nào có lợi cho quan gia. Khi ấy Quảng Tây Chuyển vận phó sứ Trương Trang trong ngoài hùa với Tổ Đạo, bèn thay chức của Tổ Đạo. Tổ Đạo, Trương Trang đã khoét rỗng mà vượt bậc giành lấy vinh hiển, bởi thế Bàng Cung Tôn, Triệu Dật, Trình Lân cùng nhau bắt chước, biên thùy càng nhiều biến cố.

Ngày Quý Tị, lấy Giang Ninh, Kinh Nam, Hàng, Việt, Hồng, Phúc, Đàm, Quảng, Quế đều làm Suất Phủ.

Ngày Đinh Dậu, đặt phủ học Khai Phong.

Ngày Kỷ Hợi, lấy Uyển dung Kiều thị làm Hiền phi.

Năm ấy, Tần Phụng hạn hán. Kinh Đông nước lớn, sông tràn, sai quan chẩn tế, cho các hộ bị ngập vay miễn tô. Lư châu mưa đậu.

Can Ninh quân tâ rằng nước Hoàng Hà trong, dài hơn 800 dặm, suốt 7 ngày đêm, chiếu đổi Can Ninh Quân làm Thanh châu.

Người Di ở Phù châu là Lạc Thế Diệp đến nội phụ, lấy đất ấy làm 2 châu Trân, Thừa, là do Tri châu Bàng Cung Tôn dụ dỗ mà đến.

Thái miếu Trai lang Phương Chẩn dâng thư nói: "Thái Kinh liếc nhìn xã tắc, trong lòng ôm điều bất đạo, chuyên lấy thuyết ‘thiệu thuật’ làm kế tự tiến thân; trong thì chấp chính, thị tòng, ngoài thì suất thần, giám ty, không ai không là môn nhân thân thích của hắn. Thái Kinh mỗi khi có tấu thỉnh, đều làm ngự bút ban ra, nói với người rằng ‘đây là ý bề trên’; hôm sau không thi hành, lại nói với người rằng ‘Thái Kinh thực đã khởi xướng’. Việc hay thì nhận là mình, lỗi thì đổ cho vua, tất muốn bệ hạ thu hết oán của thiên hạ rồi mới thôi. Từ cuối niên hiệu Nguyên Phù bệ hạ nối ngôi, kẻ sĩ trung nghĩa, người ném thư vào hòm không ngày nào không có. Thái Kinh chia họ vào hạng tà, thích chữ mà đày phối biên trí, không cho ghi vào sổ quan, thì ai chịu vì bệ hạ mà nói! Thái Kinh lại sai con là Thái Du hằng ngày dâng hoa đá chim thú, khiến bệ hạ không biết thiên hạ trị loạn. Thần cho rằng Thái Kinh tất sẽ phản, xin giết Thái Kinh để yên thiên hạ!" Chiếu đem tuyên thị cho Thái Kinh. Thái Kinh xin hạ Phương Chẩn vào ngục, rốt cuộc đày Lĩnh Nam.

Nước Liêu lấy hơn 100 tiến sĩ là bọn Lý Thạch...

Năm Đại Quan thứ 2 (Liêu, Càn Thống năm thứ 7), Công nguyên năm 1108

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Nhâm Tý mùng 1, nhận 8 bảo ở Đại Khánh điện, đại xá thiên hạ, văn võ thăng 1 bậc. Thái Kinh dâng biểu chúc mừng phù thụy.

Ngày Ất Mão, lấy Uyển nghi Lưu thị làm Đức phi.

Ngày Kỷ Mùi, Thái úy Thái Kinh tiến Thái sư, gia Đồng Quán Tiết độ sứ, vẫn làm Tuyên phủ.

Ngày Canh Thân, tiến phong Kinh Triệu quận vương Hoàn làm Định vương, Thục quốc công Cấu làm Quảng Bình quận vương.

Ngày Mậu Dần, dời phong Hướng Tông Hồi làm Hán Đông quận vương, Hướng Tông Lương làm Khai phủ Nghi đồng tam ti.

Đổi phong Triệu Hoài Đức làm Thuận Nghĩa quận vương, Chiêu Hóa quân Tiết độ sứ, Hà Nam Phiên bộ Tổng lĩnh. Lấy Hà Nam Phiên tướng Miến Thập La Mông làm Tiết độ Quan sát lưu hậu, ban tên là Triệu Hoài Trung.

Hà Đông, Hà Bắc giặc cướp nổi lên.

Liêu chúa đến Xuân châu.

Tháng 2, ngày Giáp Thân, đặt các lộ Tào duyện quan.

Ngày Bính Tuất, Trương Thương Anh bị an trí ở Quy châu dời sang Hiệp châu cư trú.

Ngày Giáp Ngọ, chiếu dựng Huy Du các, cất "Triết Tông Ngự Tập", đặt các chức Học sĩ, Trực học sĩ, Đãi chế.

Lấy Tiệp dư Vi thị làm Tu dung.

Tháng 3, ngày Canh Thân, ban "Kim Lục Linh Bảo Đạo Tràng Nghi Phạm" trong thiên hạ.

Ngày Mậu Dần, ban cho 13 người Thượng xá sinh đỗ đạt.

Môn hạ Trung thư hậu tỉnh Tả hữu ty tâu rằng: "Xét trong xá thư ngày mồng 1 tháng Giêng năm nay có nói: ‘Đảng nhân Nguyên Hựu, ôm lòng gian liếc nhìn, báo oán không thôi, công nhiên phỉ báng, tội ở tông miếu, trẫm không dám tha. Nhưng hoặc tình nhẹ pháp nặng, theo lệ bị bỏ; hoặc không phải tự thân phạm, vì người mà mắc tội; hoặc chí không phải vu báng, lời có gần giống; hoặc vốn do biện lý, lời dính chê bai; hoặc chỉ vì chức sự, ngẫu nhiên dính việc đổi thay. Phàm các loại ấy, không cứ theo tội bị giáng trách trước đây, xét kỹ tình mà chia bậc nặng nhẹ, kẻ tình lý nhẹ thì cho bỏ tội tịch, chọn dùng sai phái.’ Nay đem trong sổ biên loại cũ, chiếu theo xá văn mà xét kỹ, thấy đến bọn Tôn Cố 45 người." Chiếu trừ Tôn Cố, An Đảo, Giả Dịch ra, còn lại đều cho ra khỏi tịch. Lại xét kỹ đến Diệp Tổ Hiệp v.v. 6 người, chiếu đều cho ra khỏi tịch.

Chiếu rằng: "Giám ty mỗi năm tiến cử 2 người quận thủ trong bộ thuộc, 4 người huyện lệnh, đưa đến Tam tỉnh để xét."

Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Tị, thủ chiếu theo ý truy thuật phép tiên vương gửi ngựa nơi nông, mộ người cấp đất miễn tô để nuôi ngựa. Thi hành tròn 1 năm, Hi Hà khá thấy có đầu mối. Phàm trong các chức hàm quan ở huyện, trấn, trại, quan, bảo, đều kiêm quản câu việc cấp đất nuôi ngựa, tá quan cùng quản câu, để khiến người người đều biết nhiệm trách.

Ngày Bính Thân, nước Liêu phong Cao Ly quốc vương Ngung làm Tam Hàn quốc công.

Ngày Giáp Thìn, Đồng Quán sai Thống chế quan là bọn Tân Thục Hiến, Phùng Quán thu lại Thao châu.

Tháng 5, ngày Canh Tuất mùng 1, mặt trời bị thực.

Ngày Tân Hợi, vì công thu lại Thao châu, ban cho Thái Kinh đai ngọc. Ban đầu, Thần Tông theo chuyện đời Đường, ban đai ngọc cho Vương An Thạch, chỉ đeo 3 ngày. Đến khi Thái Kinh nhận ban, bèn dùng làm thường phục.

Đề cử Kinh Tây Nam lộ học sự Lộ Viện tâu rằng: "Thần quản 8 châu hơn 30 huyện, so với các lộ là nhỏ hẹp nhất, mà học xá đến 3.300 dư khu, dạy nuôi sinh đồ 3.300 dư người, học điền điền nghiệp v.v. mỗi năm thu tiền thóc hơn 63.000 quan thạch. Trộm tính số học xá, sinh đồ, điền nghiệp, tiền thóc các lộ, há chỉ mấy trăm vạn, thật là xưa nay chưa từng có. Xin chiếu hữu ty tổng hội thực số văn võ lớn nhỏ học sinh các châu, quân, huyện các lộ, cùng số học phí thu vào chi ra, lập thành đồ sách dâng vào ngự phủ, bản phụ để ở Tích Ung, lại tuyên giao Sử quán." Theo đó.

Ngày Nhâm Tý, Vương tử thành Khê Ca là Tạng Chinh Phốc Ca đến hàng, khôi phục Tích Thạch quân.

Tạng Chinh Phốc Ca dùng chú trớ để xúi giục phiên tộc, ở Khê Ca không thành. Biên lại cho rằng đã có thể động chúng, tất sẽ thành mối lo biên giới, Đồng Quán muốn làm cho việc ấy thành thực, bèn hội các lộ tiến binh, lại sai Tri Tây An châu Lưu Trọng Vũ ra kỳ binh tiến gấp đến Khê Ca thành. Tạng Chinh Phốc Ca ra đón xin hàng, cùng 28 người đàn bà yếu ớt, vốn chưa từng có quân. Đến khi bắt được, biên lại phóng đại công lao, tô điểm quá mức, lấy giấy vàng dán thùng làm mũ đầu, lấy ghế gỗ làm hồ sàng, lấy lụa đỏ nhạt làm tán, đủ thứ đều không phải vật của Khương. Tin thắng trận truyền đến, Thái Kinh dẫn bách quan dâng lời chúc mừng. Chiếu giải Tạng Chinh Phốc Ca về kinh sư, ban chức Chính nhiệm Đoàn luyện sứ, Đặng châu Tiền hạt; chẳng bao lâu chết ở Đặng châu.

Ngày Giáp Dần, khôi phục lệ các lộ hằng năm tiến cống vật cung phụng.

Ngày Đinh Tị, lấy Đồng Quán làm Kiểm hiệu Tư không, Phụng Ninh quân Tiết độ sứ, thưởng công thu lại Thao châu, Tích Thạch động.

Ban đầu, Đồng Quán bàn muốn thu Tích Thạch quân; dân Tích Thạch giáp giới Tây Ninh, Lưu Trọng Vũ đến gặp Đồng Quán bàn việc, nói: "Đại binh vào đất, giặc cùng ắt chạy sang Hạ Quốc, đường qua Tây Ninh, nên lập tức chặn bắt; nếu muốn hàng thì chiêu nạp. Hoặc nếu tiến sâu vào sào huyệt, có thể nhân tiện; chỉ có việc bắc cầu, công lực không dễ làm kịp, nếu bẩm mệnh chờ báo, e lỡ thời cơ." Đồng Quán cho phép tùy nghi. Tạng Chinh Phốc Ca quả muốn hàng, xin 1 con làm con tin, Trọng Vũ liền sai con là Tích sang. Cầu sông cũng làm xong, Trọng Vũ đem quân qua sông, áp giải về, dâng tin thắng lên Tuyên phủ ty. Đồng Quán che công của Trọng Vũ, chỉ ghi công bắc cầu, Trọng Vũ rốt cuộc không tự nói. Sau, Hoàng đế sai sứ cầm chén vàng, ban cho người đầu tiên chiêu nạp được hàng vương Tích Thạch quân; sứ giả hỏi thực, trao chén cho Trọng Vũ, lại triệu vào chầu. Hoàng đế an ủi khao lao rất lâu, nói: "Cao Vĩnh Niên mất phép, vì không dùng lời khanh. Nay chiêu nạp hàng vương, phủ định Hà Nam, đều là sức của khanh." Trọng Vũ tạ. Hỏi có mấy con, đáp: "9 con." Bèn lấy Tích làm Hữu ban điện trực, Các môn chỉ hậu, các con còn lại đều bổ Tam ban tá chức; lệnh Trọng Vũ lại làm Tri Tây Ninh châu.

Ngày Nhâm Tuất, chiếu thành Lâm Thao vẫn theo cũ là Thao châu. Vì công thu phục, chiếu cho Thái Kinh đặc cách cho phép tâu bổ 1 con 1 cháu làm quan, còn lại theo số ân chuyển quan.

Ngày Mậu Thìn, chiếu rằng: "Trương Khang Quốc trở xuống mỗi người đều thăng quan 1 bậc."

Ngày Kỷ Mão, vì công thu phục, lệnh Hộ bộ Thị lang Hồng Trung Phu tâu cáo trời đất, tông miếu, xã tắc.

Bảo Chân Quan Diệu Xung Hòa Tiên Sanh Lưu Hỗn Khang chết, đặc truy tặng Đại trung đại phu.

Liêu chúa tránh nóng ở Tán Thủy Nguyên.

Tháng 6, ngày Ất Dậu, lấy đất Phù Di làm Trân châu.

Ngày Nhâm Thìn, nước Liêu, Tây Bắc lộ Chiêu thảo sứ Tiêu Địch Lý suất các phiên đến chầu.

Ngày Giáp Ngọ, lấy Bình Hạ thành làm Hoài Đức quân.

Ngày Ất Mùi, lấy Điện trung lục thượng, Toán học, Thái quan cục, Hàn lâm Nghi Loan ty đều lệ thuộc Lục sát.

Ngày Bính Thân, nước Liêu bắn liễu cầu mưa.

Ngày Mậu Tuất, Môn hạ, Trung thư hậu tỉnh tả hữu ty lại chiếu theo lệnh xá mà xét kỹ đến 95 người như Hàn Duy, chiếu cho đều xuất tịch.

Ngày Đinh Mùi, Liêu chúa đến Hắc Lĩnh.

Ngày Mậu Thân, Tam tỉnh kiểm hội chiếu thư đại xá ngày mồng 1 tháng Giêng: "Phàm bọn đảng nhân niên hiệu Nguyên Hựu, không kể còn hay mất và có còn trong sổ tịch hay không, đều có thể đặc cách cho tự quan." Tra xét những người còn sống từng làm Tể tướng, Chấp chính quan là Hàn Trung Ngạn, Tô Triệt, An Đào; người đã chết là Văn Ngạn Bác, Lữ Công Trứ, Lữ Đại Phòng, Lưu Chí, Tăng Bố, Chương Đôn, Lương Đào, Vương Nham Tẩu, Lý Thanh Thần, Phạm Thuần Lễ, Hoàng Lý. Chiếu cho người còn sống đều được phục lại 1 quan, còn Văn Ngạn Bác và những người khác cũng đều được truy phục, mỗi người có khác nhau.

Mùa thu, tháng 7, ngày Canh Tuất, bãi việc dựng điện thất thờ Hi Tổ.

Ngày Ất Mão, lấy Uyển dung Vương thị làm Hiền phi.

Ngày Mậu Thìn, Liêu chúa vì mưa mà thôi đi săn.

Tháng 8, ngày Tân Tị, sông ở Hình châu tràn, làm hư nhà cửa dân, lại cấp bù cho các nhà bị nước.

Ngày Bính Thân, Trung thư thị lang Lương Tử Mĩ bị bãi, ra làm Tri Vận châu.

Ngày Kỷ Hợi, đặt Bảo châu Đôn Tông viện.

Tháng 9, ngày Tân Hợi, lấy Lâm Sư làm Trung thư thị lang, Lại bộ Thượng thư Dư Thâm làm Thượng thư Tả thừa.

Ngày Nhâm Tuất, lấy Hướng Tông Hồi làm Thái tử Thiếu Bảo, trí sĩ.

Ngày Ất Sửu, chiếu: "Các lộ châu học có gác tàng thư, đều lấy Kinh Sử làm tên. Nay đang tôn sùng Bát Hành để dẫn dắt nhiều sĩ tử, tôn Lục Kinh để bãi bỏ bách gia, Sử có đáng nói gì! Nên đặt gác ấy, ban tên là Kê Cổ."

Ngày Quý Dậu, Hoàng hậu Vương thị băng. Hoàng hậu tính cung kính, tiết kiệm; Trịnh phi và Vương phi đang được sủng ái, Hoàng hậu đối đãi với họ vẫn công bằng. Hoạn quan muốn cầu hợp ý, có kẻ vu cho Hoàng hậu có lỗi, xét thì không có dấu vết. Hoàng hậu gặp Hoàng đế, chưa từng nói đến việc ấy, Hoàng đế lại càng thương. Khi mất, được 25 tuổi.

Tước quan tước của Hướng Tông Hồi.

Ngày Bính Tý, đặc xá riêng cho Hi Hà Lan Hoàng, Tần Phụng, Vĩnh Hưng quân lộ.

Mùa đông, tháng 11, ngày Đinh Mùi mùng 1, sao Thái Bạch ban ngày hiện.

Ngày Tân Dậu, chiếu tìm cầu lễ khí cổ.

Ngày Nhâm Tuất, lệnh cho các bề tôi bàn luận lễ tế của thần dân.

Ngày Ất Sửu, dâng thụy cho Đại Hành hoàng hậu là Tĩnh Hòa.

Ngày Bính Dần, Lữ Huệ Khanh được phục lại chức Tuyên Phụng đại phu, làm Đề cử Minh Đạo cung, tùy tiện cư trú.

Ngày Mậu Thìn, chiếu cho bảo thụ mệnh tăng thêm 2 chữ "Trấn Quốc".

Tháng 12, ngày Kỷ Mão, Trương Thương Anh đang cư trú ở Hiệp châu, cho phép tùy tiện cư trú. Thương Anh có điền trang riêng ở Nghi Đô huyện, khẩn cầu Thái Kinh xin về đất ấy. Thái Kinh theo tờ phê của Đô tỉnh mà y theo điều đã trình, Thương Anh rất cảm đức.

Ngày Nhâm Dần, bồi táng Tĩnh Hòa hoàng hậu tại Vĩnh Dụ lăng.

Năm ấy, Hoàng Hà ở Đồng châu trong.

Người Hạ vào cống.

Người Man ở Phù châu là Nhậm Ứng Cử, người Diêu ở Hồ Nam là Dương Tái Quang xin nội phụ.

Tri Quế châu Trương Trang tâu: "An Hóa thượng tam châu, 1 trấn, các Man đều nộp đất, cộng hơn 50.000 hộ, hơn 260.000 người, cương vực hơn 9.000 dặm." Lại tâu: "Khoan Lạc châu, An Sa châu, Phổ châu, Tứ châu, Thất Nguyên đẳng châu nộp đất, tính 20.000 người, 16 châu, 33 huyện, hơn 50 động, cương vực 10.000 dặm." Thái Kinh dẫn bách quan dâng biểu chúc mừng, nói là hòa lẫn sự khác biệt về phong khí Trung Nguyên, chiếm một nửa địa vực thiên hạ. Thăng Trương Trang kiêm Kiềm Nam Kinh lược An phủ sứ.

Man ở Du châu là Triệu Thái và những người khác xin nội phụ, lấy đất ấy đặt làm Tần châu.

Chiếu cho Khổng Cấp được phối thờ ở sân miếu Khổng Tử.

Quan sát sứ Tần châu, Tri Phủ châu Chiết Khắc Hành mất, truy tặng Vũ An Quân Tiết độ sứ, lấy con là Khả Đại làm Vinh châu Đoàn luyện sứ, Tri Phủ châu.

Khắc Hành trầm tĩnh, dũng mãnh, có sức, giỏi vỗ về sĩ tốt, ở biên 30 năm, chiến công nhiều nhất. Người Hạ sợ uy danh của ông, gọi là "Chiết Gia Phụ".

Năm Đại Quan thứ 3 (Liêu, Càn Thống năm thứ 7), Công nguyên năm 1109

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Bính Ngọ mùng 1, Liêu chúa đến Áp Tử Hà.

Ngày Ất Mão, phụ thần chủ Tĩnh Hòa Hoàng hậu vào biệt miếu. Ngày Kỷ Mùi, giảm tội cho tù ở Lưỡng Kinh, Hà Dương 1 bậc; dân vì việc lăng tẩm mà đi phu thì miễn thuế.

Ngày Đinh Mão, lấy đất Phù Di đặt làm Thừa châu.

Ngày Giáp Tuất, thăng Hoàng châu làm Hướng Đức quân Tiết độ.

Tháng 2, ngày Bính Tý mùng 1, Bá châu Dương Văn Quý nộp đất, lấy đất ấy đặt Tuân Nghĩa quân.

Ngày Đinh Sửu, Đề cử Sùng Phúc cung Nghi Quốc Công Hàn Trung Ngạn lấy Tuyên Phụng đại phu trí sĩ.

Ngày Canh Tý, bề tôi dâng lời rằng: "Tri Hòa châu Hồ Sư Văn, trước làm Phát vận sứ, một mình ôm lấy kiến nghị đem tiền đồng đương 2 đổi đúc lại thành đương 10. Từ xưa lợi như núi, là lấy đồng đúc tiền, chưa nghe lấy tiền đúc tiền. Pháp tiền đương 2 nặng nhẹ ngang với tiền tiểu bình, nên tiền tư không cấm mà tự dừng, dân gian tiện, đó là lương pháp của Thần Tông. Sư Văn nịnh bợ đại thần, bừa bãi làm loạn thay đổi, định phá bỏ tiền đương 2 đã thi hành mà đúc lại, người hiểu biết đau lòng." Chiếu cho Sư Văn làm Đề cử Vạn Thọ Quan.

Liêu chúa đến Xuân châu.

Tháng 3, ngày Bính Ngọ, ban hành pháp lệnh về thương nhân đường biển vượt giới.

Ngày Tân Dậu, chiếu: "Các quận thủ Tứ Xuyên đều phải chọn người nội địa đến đảm nhiệm."

Ngày Nhâm Tuất, nhập Kiềm Nam vào lộ Quảng Tây.

Ngày Ất Sửu, ban cho tiến sĩ Lễ bộ tấu danh đỗ đạt xuất thân như Giả An Trạch và những người khác, tổng cộng 685 người. Tiểu hoạn quan Lương Sư Thành cũng lén ghi tên vào sổ tiến sĩ.

Ngày Nhâm Thân, Tri Khu mật viện sự Trương Khang Quốc mất.

Khang Quốc ban đầu nhờ bám Thái Kinh mà thăng tiến, đến khi ở Khu mật phủ thì dần dần thành khác biệt. Khi ấy Hoàng đế ghét Thái Kinh chuyên quyền cố chấp, ngầm sai Khang Quốc do thám gian trá của Kinh, lại hứa sẽ phong làm tể tướng. Thái Kinh kỵ Khang Quốc, bèn kéo Ngô Chấp Trung làm Trung thừa, Chấp Trung liền đàn hặc khách của Thái Kinh là Lưu Bính, Tống Kiều Niên. Hoàng đế khen Chấp Trung không a dua, Khang Quốc nói: "Đó là để dọn đường đuổi bề tôi thôi." Không bao lâu Chấp Trung sắp luận tội Khang Quốc, Khang Quốc biết trước, sáng vào tâu việc, lưu lại tâu riêng với Hoàng đế rằng: "Chấp Trung hôm nay vào chầu đối, tất vì Thái Kinh mà luận thần, thần xin tránh chức." Rồi Chấp Trung vào đối, quả trình bày việc ấy, Hoàng đế giận, giáng Chấp Trung ra làm Tri Trừ châu. Đến lúc này, Khang Quốc sau khi tan triều đi gấp về nhà điện xá, đột nhiên phát bệnh, ngửa mặt lè lưỡi, được khiêng đến viện Đãi Lậu thì chết; có người nghi bị đầu độc.

Bấy giờ Đồng Quán quyền thế càng lớn, cùng Hoàng Kinh Thần lũ lượt dùng quyền, Trung thừa Lô Hàng trong ngoài làm gian, sĩ đại phu đều nghiêng mắt e ngại. Hữu chính ngôn Trần Hòa nói: "Đây là gốc an nguy của quốc gia. Ta nhận trách nhiệm nói thẳng, việc này mà không nói, sao được?" Bèn dâng sớ đàn hặc tội Đồng Quán, Hoàng Kinh Thần cậy sủng lộng quyền, xin gấp đày đi xa. Lời luận tấu chưa dứt, Hoàng đế phất áo đứng dậy. Trần Hòa nắm áo Hoàng đế, xin nói cho hết, vạt áo rơi, Hoàng đế nói: "Chính ngôn làm rách áo trẫm rồi!" Trần Hòa nói: "Bệ hạ không tiếc rách áo, thần há tiếc nát đầu để báo đáp Bệ hạ! Bọn này hôm nay hưởng lợi phú quý, Bệ hạ ngày sau chịu họa nguy vong." Lời càng khẩn thiết. Hoàng đế đổi sắc nói: "Khanh có thể như vậy, trẫm còn lo gì nữa!" Nội thị xin Hoàng đế thay áo, Hoàng đế từ chối nói: "Giữ lại để nêu thưởng bề tôi ngay thẳng." Hôm sau, Đồng Quán và những người khác rủ nhau đến kêu, nói quốc gia cực trị, sao lại có lời chẳng lành ấy! Lô Hàng tâu Trần Hòa cuồng vọng, giáng làm Giám Tín châu tửu.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Mậu Dần, Trung thư thị lang Lâm Sư bị bãi.

Ở Tập Anh lư xướng tên cống sĩ, Lâm Sư đáng lẽ là người tuyên đọc, đến chữ Chân Áng (甄盎) không biết đọc (nói là Yến Ương), Hoàng đế cười nói: "Khanh lầm chăng?" Lâm Sư không tạ, lại nói xấu đồng liêu. Ngự sử luận tội ông ít học, kiêu ngạo bất cung, mất lễ bề tôi, giáng ra làm Tri Trừ châu; Lâm Sư còn tâu với Hoàng đế rằng: "Trước đây khi đi sứ Liêu, thấy trong nước ấy hai việc cùng mang, nếu kiêm mà có, thế lực không gì không làm được." Đó là muốn báo nhục của mình. Hoàng đế bởi vậy bắt đầu có ý Bắc phạt.

Ngày Nhâm Ngọ, Ngũ Quốc Bộ cống cho nước Liêu.

Ngày Quý Tị, lấy Trịnh Cư Trung làm Tri Khu mật viện sự, Lại bộ Thượng thư Quản Sư Nhân làm Đồng Tri Khu mật viện sự. Sư Nhân là người Long Tuyền.

Ngày Quý Mão, lấy Dư Thâm làm Trung thư thị lang, Binh bộ Thượng thư Tiết Ngang làm Thượng thư Tả thừa, Công Bộ Thượng Thư Lưu Chánh Phu làm Thượng thư Hữu thừa.

Tiết Ngang cùng Dư Thâm, Lâm Sư bám víu Thái Kinh đã lâu, đến nỗi cả nhà vì Thái Kinh mà kiêng húy riêng, ai lỡ nhắc đến thì liền bị đánh roi. Tiết Ngang từng lỡ nhắc đến, liền tự tát miệng mình.

Tháng 5, ngày Ất Tị mùng 1, Mạnh Tường dâng quẻ tượng do mình vẽ, nói nhà Tống sắp suy vi, nên đổi niên hiệu, đổi tên quan, đổi mọi việc để yểm. Hoàng đế không vui, chiếu đày đi xa.

Ngày Bính Thìn, lệnh ở Tích Ung yến tiệc dùng nhã nhạc.

Ngày Đinh Tị, xét tù.

Ngày Mậu Thìn, mưa đá lớn.

Tháng 6, ngày Giáp Tuất mùng 1, chiếu tu sửa nhạc thư.

Đồng Tri Khu mật viện sự Quản Sư Nhân vì bệnh bị bãi, làm Hựu Thần Quan sứ, không lâu thì mất.

Ngày Ất Hợi, Liêu chúa tránh nóng ở Đặc Lễ Lĩnh.

Ngựa quần Thái bảo nước Liêu là Tiêu Thác Tư Hòa đã bị miễn quan, Liêu chúa nhớ ông cẩn thận, thành thực, lệnh làm Thiên Tề Điện túc vệ.

Ngày Đinh Sửu, Thượng thư Tả bộc xạ Thái Kinh bị bãi.

Trung thừa Thạch Công Bật, Thị ngự sử Trương Khắc Công đàn hặc tội ác của Thái Kinh, dâng chương mấy chục lần, bèn lấy Thái Kinh làm Trung Thái Nhất cung sứ, xin cấp ân số đều theo lệ Tể tướng đương nhiệm. Thạch Công Bật ban đầu có liên hệ với Thái Kinh, nên được dùng. Đến khi ở ngôn lộ, gặp việc lợi hại thì nói thẳng không ngại, Thái Kinh bắt đầu kỵ ông. Đã bãi Thái Kinh khỏi chính sự, lại tâu rằng lại viên lạm nhiều, trái chế cũ niên hiệu Nguyên Phong; vì thế chiếu cho những người do đường tuyển ở triều mà quy về Lại bộ mấy chục viên, bãi quan miếu 1.000 viên, Đô thủy tri tảo 60 viên, huyện không phải đại quận thì đều bỏ chức thừa; việc trà ở kinh sư giao cho Hộ bộ, các đạo thị bạc giao cho Chuyển vận ty, đường làm quan bỗng sạch hẳn.

Ngày Tân Tị, lấy Hà Chấp Trung làm Đặc tiến, Thượng thư Tả bộc xạ kiêm Môn hạ thị lang.

Người Di ở Lô châu là Vương Mộ Nhược xin nội phụ, lấy đất ấy đặt 2 châu Thuần, Tư.

Ngày Canh Dần, sông ở Kí châu tràn.

Thái Học Sanh Trần Triêu Lão đến cửa khuyết dâng thư nói: "Bệ hạ biết gian của Thái Kinh, cởi ấn Tể tướng của hắn, người trong thiên hạ đều phấn khởi như được sống lại. Đến khi lấy Hà Chấp Trung làm Tể tướng, trong ngoài đều ảm đạm thất vọng. Chấp Trung tuy không dám ngang nhiên làm phi pháp như Thái Kinh sâu mọt hại nước hại dân, nhưng tầm thường chất phác, vốn không hơn người. Thiên hạ bại hoại đến thế này, như một thân người mà tạng phủ đã nhiễm bệnh sâu, há phải thầy thuốc tầm thường có thể cứu dậy sao!" Sớ dâng lên, không xét.

Mùa thu, tháng 7, ngày Đinh Mùi, chiếu: "Người bị giáng tịch, trừ bọn gian đảng niên hiệu Nguyên Hựu và kẻ mắc tội với Tông miếu ra, còn lại đều thu dùng."

Ngày Giáp Dần, phục cho Trương Thương Anh làm Đề cử Ngọc Cục quan.

Tháng ấy, đất nước Liêu sương rơi làm hại lúa.

Liêu chúa vì Trung Kinh đói, lệnh cho Chiêu Đức quân Tiết độ sứ Da Luật Mạnh Giản cùng học sĩ Lưu Tự Xương giảm giá bán thóc; việc chưa xong thì Mạnh Giản mất.

Ty tào vận nước Liêu thúc thu thuế rất gấp, huyện lệnh phần nhiều bị giam ngục. Ninh Viễn lệnh Khang Công Bật dâng thư lên triều, bèn thả họ, nhân đó miễn tô thuế trong huyện. Người Ninh Viễn cảm đức, lập sinh từ cho ông.

Tháng 8, ngày Kỷ Sửu, Tự Bộc vương Tông Hán mất, cháu gọi bằng bác là Trọng Tăng nối chức.

Ngày Bính Thân, thăng Dung châu làm Thanh Viễn quân Tiết độ.

Ngày Đinh Dậu, Liêu chúa vì tuyết mà thôi săn.

Ngày Kỷ Hợi, Tuyên Phụng đại phu trí sĩ Nghi quốc công Hàn Trung Ngạn mất.

Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Sửu, giảm vật cung phụng của Lục thượng cục.

Ngày Quý Dậu, Liêu chúa trông về tế Mộc Diệp San. Ngày Đinh Sửu, miễn tô thuế năm nay.

Tháng 11, ngày Đinh Mùi, chiếu: "Toán học lấy Hoàng Đế làm Tiên sư, Phong Hậu và 8 người khác phối hưởng, Vu Hàm và 70 người khác tòng tự."

Ngày Kỷ Tị, Thái Kinh được tiến phong Sở quốc công, trí sĩ, vẫn làm Đề cử biên tu Triết Tông Thực Lục, triều kiến vào ngày mùng 1 vọng. Con trưởng là Thái Du, được bổ Xu Mật Trực học sĩ; con thứ là Thái Thúc, được bổ Trực Bí Các.

Tháng 12, ngày Giáp Thân, Cao Ly cống cho nước Liêu, tâu trả 9 thành của Nữ Trực.

Ngày Mậu Tý, lấy Trương Thương Anh làm Long Đồ các học sĩ, Tri Hàng châu.

Ngày Kỷ Hợi, bãi việc đúc tiền kẹp thiếc ở Đông Nam.

Trung thừa Thạch Công Bật nói: "Thái Kinh quanh quẩn ở kinh sư, dư uy chấn động quần thần. Xin giữ quyết đoán dứt khoát, để tiêu mối hối hận về sau." Thị ngự sử Hồng Ngạn Chương nói: "Thái Kinh bè đảng gian tà làm lầm nước, công tư khốn quẫn. Đã nộp ấn mà còn ngạo nghễ ở kinh thành, trên cậy ân quyến cố, trong ôm chí ngang ngược, xin sớm ban quyết đoán, đuổi ra khỏi kinh." Thị ngự sử Mao Chú nói: "Mạnh Tường dùng thiên văn mê hoặc chúng, từng dâng thơ cho Thái Kinh, lời có chỗ không thuận, Thái Kinh liền vui mà nhận, nhân đó dâng Dịch thư mà được ban quan, rốt cuộc đến nỗi bị phỉ báng mà phạm trọng tội, mà Thái Kinh không hề hổ thẹn. Trương Hoài Tố dùng địa lý mê hoặc chúng, Thái Kinh quen thân đi theo, đất chôn vợ Thái Kinh xem ngày, Hoài Tố chủ trì; từng cùng du Hoài Tả, đề chữ khắc đá, sau tuy ngầm sai người đuổi phá để che dấu vết, nhưng mọi người đều biết. Cho đến việc Thượng thư tỉnh, nhiều khi không lấy chỉ, cứ phê xuống thẳng, để làm uy của Bệ hạ; bổng lộc nặng, thưởng hậu, kết lòng người dưới, để làm phúc của Bệ hạ. Lâm Sư là đảng ngang ngược, mà đặt vào nơi gốc chính sự; Tống Kiều Niên là thân của kẻ gian hùng, mà đặt vào chức doãn kinh. Xét bằng lòng, đo bằng việc, chí của hắn có chỗ không thể lường. Nay quanh quẩn nơi liễn cốc, lâu mà không đi, tình trạng đã thấy rõ." Thái Học Sanh Trần Triêu Lão lại dâng sớ nêu 14 điều ác của Thái Kinh, xin ném đi nơi xa, đều không đáp.

Năm ấy, Giang, Hoài, Kinh, Chiết, Phúc Kiến đại hạn, từ tháng 6 không mưa đến tháng 10. Tần, Phụng, Giai, Thành đói, phát thóc chẩn, miễn thuế.

Hoàng Hà ở Thiểm châu, Đồng châu trong.

Nước Liêu cho lấy tiến sĩ như Lưu Trinh và những người khác 90 người.

Năm Đại Quan thứ 4 (Liêu, Càn Thống năm thứ 7), Công nguyên năm 1110

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Tý mùng 1, Trung thừa Ngô Chấp Trung nói: "Trộm nghe gần đây các lộ lấy Bát Hành mà tiến cống, như cha mẹ bệnh thì cắt thịt đùi, hoặc đối Phật đốt đỉnh đầu, hoặc chích tay ra máu, viết thanh từ để cầu, hoặc không ăn đồ tanh, thường tụng sách Phật, lấy đó gọi là hiếu. Hoặc từng cứu anh khỏi chết đuối, hoặc cùng em ở chung hơn 10 năm, lấy đó gọi là đễ. Con gái gả người, nghèo không tự nuôi được, đem về nuôi trong nhà, gọi là thiện nội thân. Lại vì con rể nghèo túng, thu nhận mà dạy dỗ, gọi là thiện ngoại thân. Đó là thường tình của người, lại lấy 1 việc chia làm 2 hạnh là Mục, Nhân. Từng gặp năm mất mùa, dẫn hào dân nấu cháo cho kẻ đói ăn, mà gọi là Tuất. Nấu cháo cho kẻ đói ăn, vốn chỉ là hào dân tự làm mà thôi, riêng gọi là Tuất, có được chăng? Lại có kẻ từng thu nuôi 1 đứa trẻ bị bỏ, từng cứu 1 người què khỏi chết đuối, mà cho là Tuất. Những loại như thế, không thể vội kể hết. Cúi xin hạ xuống Thái học, khiến Trưởng nhị, Bác sĩ khảo theo đạo nghệ, phân biệt phải trái, gạn bỏ sự mạo lạm, chớ để tiến bừa. Lại răn các quận huyện trưởng lại và học sự ty xét nghiệm hạnh thực: có người ấy thì cử, không có người ấy thì chớ cống bừa, cốt ở phụng thừa chiếu chỉ, không mất pháp ý." Theo đó.

Ngày Tân Sửu, Liêu chúa làm trước lễ Lập xuân, đến Áp Tử Hà.

Ngày Quý Mão, chiếu các giám mới đặt ở Hà Đông, Hà Bắc, Thiểm Tây bãi việc đổi đúc tiền đương 10.

Ngày Tân Dậu, chiếu: "Sĩ thứ lạy tăng, luận tội đại bất cung."

Ngày Đinh Mão, người Hạ vào cống.

Lữ Huệ Khanh bị giáng trao Chính Phụng đại phu. Thị ngự sử Mao Chú đàn hặc Huệ Khanh dâng biểu tạ ơn phục quan, dùng câu chương trong Thi như Phong vũ và Thanh hằng, Tiết Nam sơn, lấy cách tự xử của cổ quân tử mà ví với lúc loạn thế đang thịnh, tội không thể tha, nên có mệnh này. Tháng 2, ngày Canh Ngọ mùng 1, Liêu chúa đóng ở Đại Ngư Lạc.

Ngày Tân Mùi, lấy Trương Thương Anh làm Tư Chánh Điện học sĩ, Trung Thái Nhất cung sứ.

Ban đầu, Thương Anh được cất lên làm Tri Hàng châu, đi qua cửa khuyết vào đối, nói: "Thần Tông tu dựng pháp độ, chỉ cốt bỏ hại, hưng lợi mà thôi. Nay từng việc một đều thi hành, thì trọn vẹn nối tiếp điều hay. Pháp nếu có tệ, không thể không đổi, nhưng không mất ý của nó là đủ."

Ngày Mậu Dần, Nghị lễ cục tâu: "Đã tu xong Đại Quan Lễ Thư 231 quyển, Tế phục chế độ 16 quyển, Chế phục đồ 1 sách, dựa Kinh mà kê cổ, châm chước điều hợp thời nay, để sửa sai lầm do theo thói cũ. Lại riêng làm Khán tường 12 quyển, Tế phục khán tường 2 sách." Chiếu thi hành.

Ngày Canh Thìn, bãi tiền giám Kinh Tây.

Ngày Kỷ Sửu, lấy Dư Thâm làm Môn hạ thị lang, Tư Chánh Điện học sĩ Trương Thương Anh làm Trung thư thị lang, Hộ bộ Thượng thư Hầu Mông làm Đồng Tri Khu mật viện sự. Hoàng đế từng thong thả hỏi Mông rằng: "Thái Kinh là người thế nào?" Mông đáp: "Khiến Thái Kinh sửa cho chính tâm thuật, thì dù Tể tướng hiền xưa, có ai hơn được?" Thái Kinh nghe mà ôm hận. Hầu Mông là người Cao Mật.

Ngày Nhâm Thìn, bãi việc đúc tiền kẹp thiếc ở Hà Đông, Hà Bắc, Kinh Đông.

Ngày Quý Tị, chiếu: "Pháp Phương Điền, bình quân thuế, lợi dân. Nghe nói những năm gần đây, hữu ty thi hành lười nhác, giám ty đốc sát không nghiêm, hối lộ công khai, cao thấp sai thực. Nên nghiêm răn thuộc bộ, lại khiến giám ty giác sát."

Tháng 3, ngày Canh Tý, mộ dân đói bổ làm cấm tốt.

Chiếu: "Học sinh y nhập vào Thái Y cục, Toán nhập vào Thái Sử cục, Thư nhập vào Hàn Lâm Thư Nghệ cục, Họa nhập vào Hàn Lâm Họa Đồ cục; các học quan ấy đều bãi."

Ngày Giáp Dần, sắc cho các nơi chẩn tuất lưu dân.

Ngày Quý Hợi, chiếu: "Người có tội bị phế, hơi gia xét chọn, ai biết an phận giữ mình thì không đợi đủ năm, đều cho tự tiến, để trách hiệu quả về sau."

Ngày Bính Dần, ban cho Thượng xá sinh 15 người đỗ đạt.

Ngày Mậu Thìn, chiếu: "Hạng người dâng thư tà hạ, có thể theo lệ người không lỗi; từ nay đổi quan thăng nhiệm, đều miễn bị kiểm cử."

Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Tý, thủ lĩnh Ngũ Quốc Bộ cống cho nước Liêu.

Ngày Kỷ Mão, ban thước nhạc cho thiên hạ.

Ngày Quý Mùi, Thái Kinh dâng Triết Tông Thực Lục do mình tu.

Ngày Bính Tuất, Liêu chúa làm trước lễ Tái sinh. Ngày Quý Tị, săn ở Bắc Sơn.

Ngày Bính Thân, lập đàn Cảm Sinh Hoàng đế.

Ngày Đinh Dậu, chiếu tu Triết Tông chính cử.

Tháng 5, ngày Nhâm Dần, đình chỉ tăng điệp 3 năm.

Ngày Đinh Mùi, Tuệ Tinh xuất ở Khuê, Lâu.

Ngày Giáp Dần, lập khoa Từ học kiêm mậu. Hoàng đế cho rằng khoa Hoành từ không đủ để chiêu được sĩ văn học, đổi lập khoa này, hằng năm kèm thi ở Cống sĩ viện, bỏ hịch thư mà tăng chế tạo, trúng cách thì trao quán chức, mỗi năm không quá 5 người.

Ngày Bính Thìn, chiếu vì Tuệ Tinh hiện, tránh điện, giảm bữa, lệnh cho quan thị tòng nói thẳng, chỉ rõ thiếu sót.

Ngày Mậu Ngọ, đại xá thiên hạ.

Ngày Nhâm Tuất, đổi Quảng Tây Kiềm Nam lộ làm Quảng Nam Tây Lộ.

Ngày Quý Hợi, trị tội Quảng Tây nói bừa việc mở đất, truy giáng Suất thần Vương Tổ Đạo làm Chiêu Tín Quân Tiết độ phó sứ, đày Trương Trang đến Vĩnh châu.

Trước đó, Ngự sử Trương Khắc Công tâu luận: "Thái Kinh gần đây ở ngôi Tể tướng, chuyên làm uy phúc, quyền chấn trong ngoài. Ban thưởng nhẹ dạ để hại quốc dụng, mượn tước lộc để mua ơn riêng. Nói tài lợi là có tích dư, đều là dối trá; cốt khoe lớn để dựng công, mặc sức quấy nhiễu. Dẫn kẻ tiểu nhân làm bè đảng; mượn quan hệ thông gia, bày khắp đường then chốt. Cho đến giao kết hào dân, dựng lập sản nghiệp; sai tướng tác của Thiên tử, xây sửa nhà cửa; dùng dân phu của quan, vận chuyển hoa thạch. Chưa từng có lòng tôn Chúa che dân, chỉ lo kế làm giàu cho mình, mưu tư lợi. Những việc như thế, không phải 1, đã có bề tôi luận liệt, thần không dám trình bày đủ. Còn như lấy danh chúc thánh thọ mà xây tháp để làm mạnh thế núi Lâm Bình, mượn lời tưới ruộng dân mà phá nước để ứng lời sấm Hưng Hóa; khiến cháu là Du dâng cáo biến mà giả vờ bệnh tim, nhận lời vu của Mạnh Hủ mà cho quan tước; Triệu Chân muốn giúp bằng yêu thuật, Trương Đại Thành lén dò ý gian của hắn. Kinh động xa gần, người nghe lạnh lòng, đều đủ để mê hoặc thiên hạ, là mối hại lớn."

Ngày Giáp Tý, chiếu: "Thái Kinh đặc giáng trao Thái tử Thiếu Bảo, vẫn theo cũ trí sĩ, ở ngoài tùy tiện cư trú." Chế lược rằng: "Xem nhẹ tước lộc để mua ơn riêng, lạm ban cấp để hại quốc dụng, mượn trợ thông gia, kín bày đường then chốt, tụ tập hung tà, hợp thành bè chết. Cho đến giả lợi dân mà phá nước Hưng Hóa, mượn chúc thánh mà tô điểm núi Lâm Bình, há gọi là ôm lòng trung, thực là cầu phúc. Nhiều lần có dấu vết bị cáo trình, thường vướng hiềm nghi cuồng bội; tuy chỉ mới dâng ấn chương, mà còn lâu ở lại trong nhà, ngạo nghễ không tránh, khinh nhờn không sửa, khiến ý Hoàng đế chưa tin phục, sao văn sáng tỏ mà giáng trách. Tấu chương nối dâng, công nghị không dung, vốn muốn dùng ơn, khó mà uốn pháp. Nên tước bậc của bề tôi thầy, khiến dự vào chức Cung Bảo. Tạm yên lòng người, còn là điển khoan."

Ngày Bính Dần, Môn hạ thị lang Dư Thâm bị bãi. Dư Thâm cùng Thái Kinh kết làm bè đảng, Thái Kinh đã rời triều, Dư Thâm không tự yên, dâng sớ xin bãi, bèn lấy Tư Chánh Điện học sĩ ra làm Tri Thanh châu.

Tháng 6, ngày Canh Ngọ, ngự điện, phục lại bữa ăn.

Ngày Giáp Tuất, Liêu chúa tránh nóng ở Ngọc San.

Ngày Ất Hợi, lấy Trương Thương Anh làm Thượng thư Hữu bộc xạ kiêm Trung thư thị lang.

Thái Kinh lâu ngày trộm nắm quốc bính, trong ngoài oán ghét. Thấy Thương Anh có thể lập dị đồng, lại khen là hiền, Hoàng đế nhân lòng người mà dùng làm Tể tướng. Khi ấy hạn lâu, Tuệ Tinh giữa trời, Thương Anh nhận mệnh, đêm ấy không thấy Tuệ Tinh, hôm sau mưa. Hoàng đế mừng, nhân đó đại thư 2 chữ "Thương Lâm" ban cho.

Ngày Quý Mùi, nước Hạ cống cho nước Liêu.

Ngày Nhâm Thìn, phục Hướng Tông Hồi làm Hán Đông quận vương.

Ngày Giáp Ngọ, Chuẩn Bố cống cho nước Liêu.

Ngày Ất Mùi, xét tù.

Ngày Bính Thân, Môn hạ thị lang Tiết Ngang bị bãi, làm Hựu Thần quan sứ.

Mùa thu, tháng 7, ngày Tân Sửu, chiếu tạm bãi Phương điền.

Liêu chúa yết Khánh lăng.

Ngày Kỷ Mùi, Trương Thương Anh nói: "Tiền đương 10, từ đời Đường trở lại đây, tác hại rất rõ; thi hành vào nay, càng thấy bế tắc. Vì tiền tiểu bình ra khỏi cửa có hạn có cấm, nên thương lữ bốn phương mua bán hàng hóa được tiền, tất vào trong đổi lấy Diêm Sao, mua quan cáo độ điệp; mà số tiền còn lại lại lưu bố ở phố chợ, nên quan tư trong ngoài, cùng nhau nuôi lợi. Từ khi tiền đương 10 thi hành, 1 người gánh 8 vạn, xe nhỏ chở 4 vạn. Tiền đã là vật mang theo nhẹ, thì cáo điệp khó bán, Diêm Sao không thể cầm tiền hư mà được giá thực thì khó lưu hành, đó là thế nặng nhẹ vốn vậy. Nay muốn tạm ở Nội Khố cùng Mật Viện các ty vay chi, phàm vàng bạc vật lụa ở phong thung, cùng diêm thiết v.v., hạ lệnh lấy tiền đương 10 mà trộm đúc giả lạm hại pháp, nửa năm sau lại không cho dùng; lệnh dân gian đem hết số có ở các châu quân sở tại nộp, mỗi 10 quan thì quan cấp vàng bạc vật lụa 4 quan văn; chọn thứ giả đúc, đưa đến nơi gần tiện đổi đúc tiền tiểu bình, giữ thứ đúng mẫu, đợi nộp tiền đủ 10 quan thì làm 3 quan văn, mỗi khoản trích trả lại nơi đã vay ban đầu. Sau đó kinh thành thi hành lệnh cấm dùng tiền cũ, mới có thể bàn phép thác hóa thông thương sao."

Tháng 8, ngày Canh Ngọ, Trương Thương Anh lại nói: "Bệ hạ phấn phát anh đoán, khái nhiên muốn cứu tệ tiền nhẹ vật nặng, một sớm phát đức âm, hạ minh chiếu, bỏ tiền báu trong kho mấy chục triệu mân, đổi đương 10 thành đương 3. Ngày lệnh ban, trong ngoài hoan hô, muôn miệng một lời. Nhưng gian tà ở trong thì ngầm xướng thuyết rằng: ‘Chẳng bao lâu tất lại phục, cứ tích mà đợi.’ Gian tà ở ngoài thì bảo dân để cướp tiếng hay rằng: ‘Đương 3 thì thiệt cho ngươi, đương 7 mới vừa.’ Vì thế tiểu dân nghe rồi họa theo, lệnh ra 50 ngày mà vẫn chưa đại tín. Cúi mong Bệ hạ vững chí không dời, khiến chính nghị rốt cuộc thi hành, gian tà thẹn phục, mà tiêu khí hung hãn bất bình của chúng."

Ngày Ất Hợi, lấy Lưu Chánh Phu làm Trung thư thị lang, Hầu Mông làm Thượng thư Tả thừa, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Đặng Tuân Nhân làm Thượng thư Hữu thừa.

Ngày Mậu Dần, giảm bớt quan rườm trong ngoài.

Ngày Canh Thìn, lấy Tư Chánh Điện học sĩ Ngô Cư Hậu làm Môn hạ thị lang.

Ngày Đinh Hợi, thi hành pháp tuyển thí học quan trong ngoài.

Tháng nhuận, ngày Tân Sửu, chiếu: "Các lộ có việc gì không tiện cho dân, giám ty hãy liệt điều mà tâu."

Ngày Tân Hợi, Liêu chúa yết Hoài lăng; ngày Kỷ Mùi, yết Tổ lăng.

Ngày Tân Dậu, ban chiếu răn cấm bè đảng.

Lấy Trương Các làm Tri Hàng châu. Các nghĩ cách để củng cố sự sủng ái, bèn nhân ngày từ biệt, xin tự lãnh việc Hoa Thạch Cương; từ đây việc Ứng Phụng càng thêm nhiều.

Ngày Nhâm Tuất, Liêu hoàng thái thúc Hòa La Cát theo đi săn ở Khánh châu, dọc đường chết.

Tháng 9, ngày Bính Dần mùng 1, mặt trời bị thực.

Ngày Giáp Tuất, Liêu chúa ra lệnh miễn lễ tiết Trùng Cửu.

Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Dậu, lập Quý phi Trịnh Thị làm Hoàng hậu. Hoàng hậu là người Khai Phong, vốn là Khâm Thánh điện áp ban. Ban đầu, Hoàng đế làm Đoan vương, thường vào chầu Khâm Thánh Hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu sai Hoàng hậu hầu hạ; đến khi Hoàng đế lên ngôi, bèn ban Hoàng hậu cho Hoàng đế. Hoàng hậu tính cẩn thận, khéo thuận theo ý Hoàng đế, thích xem sách, chương tấu có thể tự soạn. Hoàng đế yêu tài của bà, rốt cuộc lập làm Hoàng hậu.

Khi Thái Kinh bị bãi, Tri Khu mật viện sự Trịnh Cư Trung tự cho rằng ắt sẽ được làm Tể tướng, Hoàng đế biết việc ấy nên không dùng. Đến nay lại vì ngoại thích mà bị bãi, làm Quan Văn điện học sĩ, Trung Thái Nhất cung sứ.

Ngày Mậu Tuất, lấy Ngô Cư Hậu làm Tri Khu mật viện sự.

Sao Thái Bạch ban ngày hiện ra.

Liêu chúa đóng ở Ngẫu Ti Dạng.

Tháng 11, ngày Đinh Mão, tế Viên Khâu, đại xá; đổi niên hiệu năm sau, nguyên nhật gọi là Chính Hòa.

Ngày Giáp Tuất, bãi Củng châu, làm Tương Ấp huyện.

Ngày Mậu Dần, chiếu cho người bị an trí ở Thông châu là Trần Quán được tùy tiện.

Ban đầu, Trần Quán từ Hợp Phố bị đày được thả về, ở tại Tứ Minh. Con ông là Chính Hối làm cán đến Dư Hàng, vừa nghe Thái Sùng Thịnh khoe rằng Thái Kinh có lời làm lung lay Đông Cung, Chính Hối liền trong ngày tự trình bày với Suất Phủ Hàng là Thái Nghĩ. Thái Nghĩ đang kết với Thái Kinh làm bè đảng sống chết, bèn bắt Chính Hối giải về kinh sư, lại gửi thư tốc báo cho Thái Kinh, khiến chuẩn bị trước kế sách. Việc giao xuống Khai Phong Phủ lập ngục, Tri Khai Phong là Lý Hiếu Xưng, vốn là kẻ lại tàn bạo, bèn đồng thời sai xuống Minh châu bắt Trần Quán. Sĩ dân khóc tiễn, Trần Quán không động lòng; đã vào ngục, ngoảnh nhìn con mà cười nói: "Đứa con bất tiếu làm phiền ta phải đi một chuyến." Lý Hiếu Xưng uy hiếp Trần Quán, bắt làm chứng rằng lời Chính Hối là dối, Trần Quán nói: "Chính Hối nghe Thái Kinh sắp bất lợi cho xã tắc, truyền ra ngoài đường, vội tự trình báo, việc ấy Trần Quán không biết. Quên ơn cha con mà chỉ nó là dối, thì tình không nỡ; kẹp tình riêng để phụ họa theo thuyết ấy, lại là điều nghĩa không làm. Huống chi không dối không hai, xưa nay đó là điều ta dùng để thờ vua dạy con, lẽ nào đến lúc lợi hại lại có tham sợ mà tự trái lời mình sao! Thái Kinh gian tà, tất sẽ thành tai họa cho nước, Trần Quán vốn từng luận ở Gián tỉnh, cũng chẳng đợi đến hôm nay mới nói trong lời lẽ đâu." Khi ấy nội thị Hoàng Kinh Thần giám khám, nghe lời đối đáp, buột miệng than thở, nói với Trần Quán rằng: "Chúa thượng đang muốn biết thực trạng, Hữu ty cứ theo như thế mà ghi lời đối." Án xong, rốt cuộc kết tội Chính Hối vì lời nói quá sự thực, đày đi hải đảo, còn Trần Quán cũng có lệnh an trí ở Thông châu. Đến đây mới cho phép ông được tùy tiện.

Tháng 12, ngày Kỷ Dậu, nước Liêu ban chiếu năm sau đổi niên hiệu là Thiên Khánh.

Ngày Canh Tuất, đổi thụy Tĩnh Hòa Hoàng hậu làm Huệ cung.

Lấy Lữ Huệ Khanh làm Quan Văn điện học sĩ, Tri Đại Danh phủ.

Bãi việc Nội Khố xuất diêm sao dư thừa ở phía đông bắc và tiền sao thượng cống của 6 lộ.

Năm ấy, Quỳ châu nước sông dâng tràn. Nước biển trong.

Cho ra khỏi cung 486 cung nữ.

Nam Đan châu xin nội phụ.

Trong cõi nước Liêu đói lớn, chỉ có Bảo Tĩnh quân, nơi Mã Nhân Vọng cai trị, lương thực không thiếu, đường sá không gõ phèng la. Từ xa trao cho Nhân Vọng làm Chương Nghĩa quân tiết độ sứ. Khi ấy giá thóc vọt cao, quân túc vệ phần nhiều không được cấp đủ, Tiêu Thác Tư Hòa xuất kho riêng chu cấp cho; không bao lâu liền được triệu về coi việc Nam Viện Xu mật sứ.