Bước tới nội dung

Tục tư trị thông giám/Quyển 93

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tục Tư trị thông giám, quyển 93  (2025)  của Tất Nguyên, do Cơ Như Tuyết dịch
Tống kỷ 93

Từ tháng Giêng năm Kỷ Hợi (1118) đến tháng Chạp năm Đinh Dậu (1120), Huy Tông Chính Hòa năm thứ 5 đến năm thứ 7, gồm 3 năm

Năm Trùng Hòa thứ 1 (Liêu Thiên Khánh năm thứ 9, Kim Thu Quốc năm thứ 3), Công nguyên năm 1118

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng Ngày Giáp Thân, mồng một tháng Giêng, vua ngự điện Đại Khánh, tiếp nhận Định Mệnh Bảo, trăm quan dâng biểu chúc mừng. Người Kim là Dương Phác nói rằng: từ xưa các bậc anh hùng dựng nước hoặc nhận ngôi nhường, tất trước hết đều cầu phong sách từ đại quốc. Vì thế vua Kim sai sứ sang nước Liêu.

Ngày Đinh Hợi, Liêu sai Da Luật Nỗ Khắc cùng đoàn sứ sang Kim bàn việc hòa, do Tiêu Phụng Tiên và những người khác cho rằng có thể dùng hòa nghị để dập binh đao.

Ngày Kỷ Sửu, đại xá thiên hạ. Những người cuối đời Nguyên Phù từng dâng thư mà bị quy là tà trung, cũng được chiếu theo lệ người không tội. Ngày Canh Tuất, lấy Vương Phủ, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, làm Thượng thư Tả thừa.

(Vương Phủ quê Tường Phù, dung mạo đẹp, giỏi biện luận, thông minh nhưng học thuật cạn, khéo xu nịnh. Ban đầu nhờ Hà Chấp Trung tiến cử mà được thăng chức, về sau nhờ công kích Trương Thương Anh và giúp Thái Kinh mà liên tiếp thăng tiến, cuối cùng nhập chính phủ.)

Tiết độ sứ Bảo An quân của Liêu là Trương Sùng, đem hai trăm hộ ở Song Châu hàng Kim. Khi ấy các châu phía Đông giặc cướp nổi lên như ong, cướp dân bắt theo để làm nguồn lương thực.

Tháng Hai, ngày Mậu Thìn, tăng giá rượu ở các lộ.

Ngày Canh Ngọ, sai Mã Chính, Cao Dược Sư sang Nữ Chân bàn việc mua ngựa theo giao hảo cũ.

(Vì đoàn sứ trước sợ hãi quay về gian trá, vua nổi giận, phạt nặng, giao Đồng Quán toàn quyền xử lý việc thông hiếu với Kim.) Ngày Tân Mùi, Kim sai các bối lặc Trung, Lạc Tố vào triều, vì tự ý đến khi Liêu chủ đang ở Trung Kinh nên đều bị đánh trượng. Ngày Giáp Tuất, thăng huyện Lục An làm Lục An quân.

Tháng Ba, ngày Quý Mùi, giáng chức tướng Kim là Ô Lặc Cổ vì che giấu quân lương, tư chiếm nhân khẩu và tài vật.

Ngày Quý Tỵ, lệnh Gia vương Khải (con thứ hai của vua) vào điện đối sách.

Ngày Mậu Thân, ban đỗ cho 783 tiến sĩ. Ban đầu quan chấm Gia vương Khải đứng đầu, vua không muốn hoàng tử đứng trên sĩ tử, nên đổi Vương Ngang làm Trạng nguyên.

Mùa hạ, tháng Tư, ngày Quý Sửu, xây thành Tĩnh Hạ, Chế Nhung.

Bấy giờ thiên hạ lâu ngày thái bình, ban thưởng vô độ, xây dựng liên miên, tài lực quốc gia ngày càng cạn. Quan Trương Căn dâng nhiều điều xin tiết kiệm, đụng chạm quyền thần, bị giáng chức làm giám thuế rượu ở Tín Châu.

Tháng Năm, Ngày Nhâm Ngọ, xảy ra nhật thực.

Phong Lâm Linh Tố làm Thông Chân Đạt Linh Nguyên Diệu tiên sinh, Trương Hư Bạch làm Thông Nguyên Xung Diệu tiên sinh.

Tháng Sáu, Phong Lưu thị từ Hiền phi lên Thục phi.

Giặc Hoắc Thạch chiếm Hải Bắc châu của Liêu, sau bị Kim đánh bại.

(Vua đặc biệt sủng tín đạo sĩ, bàn đạo suốt ngày, không hỏi việc chính sự.) Ban hành Ngự chế “Thánh Tế Kinh”, lấy sinh nhật Thanh Hoa Đế Quân làm Nguyên Thành tiết.

Mùa thu, tháng Bảy, do Tây sư có công, gia ân cho Thái Kinh, Trịnh Cư Trung, Dư Thâm, Đặng Tuân Vũ, đều được thăng thưởng.

Sai sáu viên liêm phỏng sứ đi cứu tế lũ lụt các lộ Đông Nam.

Tháng Tám, phong Đồng Quán làm Thái bảo.

Ban chiếu: cho đạo sĩ vào học ở châu huyện học, lấy Đạo giáo và Nho giáo hợp làm một, lập các ngạch đạo học, mở đường tiến thân bằng đạo.

Tháng Chín, cử hành Đại hưởng Minh Đường.

Bãi bỏ nhiều chính sách hà khắc như cưỡng mua lúa, tăng thuế rượu, thu lợi giấm, v.v.

Tháng Mười, sao Thái Bạch xuất hiện ban ngày.

Vua đến Thượng Thanh Bảo Lục cung, truyền thụ bí lục Ngọc Thanh Thần Tiêu, người dự hơn tám trăm.

Đạo sĩ được cấp ruộng, tiền cực nhiều; dân nghèo đội khăn vải xanh đi dự để được ăn và tiền bố thí.

Tháng Mười Một, ngày Kỷ Dậu, đổi niên hiệu năm sau là Tuyên Hòa, đại xá thiên hạ.

Gả Đế cơ Mậu Đức cho Thái Điều, Thái Kinh xin miễn lễ nàng dâu, vua không cho.

Tháng Mười Hai, khôi phục Tiền giám Kinh Tây.

Sứ bộ Mã Chính từ Kim trở về, cùng sứ Kim mang quốc thư và sản vật sang Tống.

Liêu định nghi thức phong sách, sai Da Luật Nỗ Khắc sang Kim. Khi ấy vùng Sơn Tiền đại đói, dân ăn vỏ du, rồi đến ăn thịt người. Đặt Dụ Dân Cục.

Năm ấy các vùng Giang, Hoài, Kinh, Chiết, Tử Châu đều bị lụt.

Liêu thả 103 tiến sĩ, trong đó có Vương Huy.

Năm Tuyên Hòa thứ 1 (Liêu Thiên Khánh năm thứ 9, Kim Thu Quốc năm thứ 3), Công nguyên năm 1119

[sửa]

Tháng Giêng, ngày mồng một, Mậu Thân, lúc mới sáng, dưới mặt trời xuất hiện mây ngũ sắc.

Ngày Ất Mão, ban chiếu rằng: “Phật đổi hiệu là Đại Giác Kim Tiên, các danh xưng khác đều gọi là tiên nhân, đại sĩ. Tăng gọi là đức sĩ, đổi y phục, xưng họ tên. Chùa gọi là cung, viện gọi là quán, người trụ trì gọi là tri cung quán sự. Cơ quan Tăng lục ty đổi thành Đức sĩ ty, các Đạo lục viện hai phố tả hữu đổi thành Đạo đức viện. Đức sĩ ty trực thuộc Đạo đức viện, giao Thái Du thống lĩnh. Các Tăng chính ty ở các châu phủ trong thiên hạ đều đổi làm Đức sĩ ty.” Không lâu sau lại đổi nữ quan thành nữ đạo, ni thành nữ đức. Bấy giờ Lâm Linh Tố muốn phế bỏ Phật giáo để trả thù riêng, xin đổi toàn bộ danh xưng, nên mới có chiếu này.

Ngày Đinh Tỵ, sứ Kim là Lý Thiện Khánh cùng đoàn vào cửa quốc, trú tại chùa Bảo Tướng. Chiếu cho Thái Kinh, Đồng Quán, Đặng Văn Cáo tiếp kiến bàn việc. Phong cho Thiện Khánh chức Tu Võ Lang, tản chức Đô Tòng Nghĩa Lang, Bột Đạt làm Bỉnh Nghĩa Lang, đều cấp đủ bổng lộc. Ở hơn mười ngày, triều đình sai Triệu Hữu Khai (Trực Bí Các), Mã Chính (Võ Nghĩa Đại Phu), Vương Tường (Trung Dực Lang) làm chánh phó sứ, mang chiếu thư và lễ vật, cùng Thiện Khánh vượt biển sang Kim. Vương Tường là con Sư Trung.

Ban đầu bàn về nghi lễ hồi đáp Nữ Chân, Triệu Lương Tự muốn dùng quốc thư theo lễ bang giao. Hữu Khai nói: “Thủ lĩnh Nữ Chân chỉ là tiết độ sứ, đời đời nhận tước phong của Khiết Đan, luôn ngưỡng mộ Trung Hoa, hận không được làm bề tôi, hà tất phải tôn sùng quá mức, chỉ dùng chiếu thư là đủ.” Hỏi Thiện Khánh, ông đáp: “Cả hai đều dùng được, tùy triều đình lựa chọn.” Cuối cùng theo lời Hữu Khai. Khi đoàn đến Đăng Châu, chưa đi thì Hữu Khai mất. Lúc đó Hà Bắc tấu rằng Khiết Đan đã cắt đất Liêu Đông, phong Nữ Chân làm Đông Hoài vương, lại giả nói Nữ Chân cầu hòa, dối trá dâng biểu. Triều đình liền triệu Mã Chính trở về, chỉ sai Hô Khánh mang công văn Đăng Châu đưa Lý Thiện Khánh về nước.

Ngày Mậu Ngọ, lấy Dư Thâm làm Thái tể kiêm Môn hạ thị lang, Vương Phủ làm Đặc tiến, Thiếu tể kiêm Trung thư thị lang. Vương Phủ được ban dinh thự phía tây thành, đón rước bằng nhạc giáo phường, đồ dùng yến tiệc đều lấy từ công khố, ân sủng nghiêng ngả một thời.

Bấy giờ triều đình đã nhận kế của Triệu Lương Tự, định liên Kim đánh Liêu để chiếm Yên. Nghe mật báo nói Liêu chủ có tướng mất nước, Vương Phủ tiến cử Trần Nghiêu Thần, Học chính Họa học, giỏi xem tướng. Nghiêu Thần mang theo hai học sinh sang Liêu, vẽ chân dung Liêu chủ đem về, tâu rằng:

“Liêu chủ nhìn không giống bậc quân vương, theo tướng pháp thì diệt vong sớm muộn. Xin nhân lúc này tiến binh, lấy mạnh hiếp yếu.”

Lại vẽ bản đồ sơn xuyên hiểm yếu. Vua rất mừng, kế chiếm Yên – Vân từ đó định.

Ngày Ất Sửu, đổi Hoàng Châu làm Lạc Châu.

Ngày Ất Hợi, vua cày ruộng Tịch điền.

Bãi bỏ Dụ dân cục.

Phong Dương Bốc Ma Điệp nước Chiêm Thành làm quốc vương. (Kế tiếp là các sự kiện ngoại giao Kim – Liêu – Tống, chiến tranh với Tây Hạ, cải cách tôn giáo, thiên tai dị tượng, hoạn nạn dân sinh, chuyên quyền của Thái Kinh – Đồng Quán, sự xa xỉ và suy đồi trong cung đình, đàn áp trung thần can gián, cùng các điềm báo suy vong.)

Cuối năm: Hoàng Hà ở Lam Châu trong lại. Thăng Triệu Châu làm Khánh Nguyên phủ, Quân Châu làm Vũ Đang quân tiết độ.

Năm Tuyên Hòa thứ 2 (Liêu Thiên Khánh năm thứ 10, Kim Thu Quốc năm thứ 4), Công nguyên năm 1120

[sửa]

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Quý Hợi, truy phong Thái Xác làm Nhữ Nam quận vương.

Ngày Giáp Tý, bãi bỏ Đạo học, cho rằng Nho và Đạo vốn hợp làm một, không cần đặt riêng Đạo học.

Tháng Hai, ngày Ất Hợi, sai Triệu Lương Tự (Trung phụng đại phu, Tu soạn điện Hữu Văn) và Vương Tường (Trung huấn lang) sang sứ nước Kim.

Trước đó Hô Khánh từ Đăng Châu về, thuật lại đầy đủ lời Kim chủ nói và dâng quốc thư lên triều đình. Vương Sư Trung cũng sai con là Vương Tường đi cùng Hô Khánh đến bẩm với Đồng Quán. Lúc này Đồng Quán nhận mật chỉ mưu đồ đánh Liêu, muốn mượn ngoại viện, nên đề nghị sai Triệu Lương Tự mang ngự bút sang Kim, lấy cớ mua ngựa, thực chất là hẹn hai bên kẹp đánh Liêu, chiếm lại Yên Kinh, nhưng chỉ thỏa thuận miệng, không mang quốc thư. Giao ước kẹp đánh Liêu bắt đầu từ đây.

Đường Khác bị bãi chức.

Ngày Mậu Tý, lệnh các nơi chu cấp cho dân lưu tán ở Hoài Nam, dụ đưa họ trở về quê cũ.

Ngày Giáp Ngọ, chiếu tu soạn riêng Chính sử Triết Tông.

Kim chủ sai Ô Lăng A Tán Mô mang thư và bản sao sách phong sang Liêu, đồng thời trách Liêu cầu binh Cao Ly. Liêu cho rằng hai chữ “Đại Thánh” do Kim định trùng với tôn hiệu tổ tiên mình, bèn sai Thực Lặc Nột sang nghị. Kim chủ nổi giận, nói với quần thần rằng người Liêu liên tiếp bại trận, sai sứ cầu hòa chỉ là kế trì hoãn, nên quyết định tiến binh. Lệnh Hàm Châu lộ thống quân ty chỉnh đốn binh mã, sửa khí giới, chuẩn bị đánh vào tháng Tư. Hòa nghị từ đó chấm dứt.

Tháng Ba, ngày Nhâm Dần, ban đỗ cho 21 thượng xá sinh.

Ngày Ất Mão, đổi Hy Hà Lan Hoàng lộ thành Hy Hà Lan Khoát lộ. Liêu lại sai Thực Lặc Nột mang quốc thư sang Kim.

Mùa hạ, tháng Tư, ngày Bính Tý, chiếu rằng: “Giang Tây, Quảng Đông giặc cướp tụ tập, đặt thêm mỗi lộ một võ thần đề hình và một lộ phân đô giám.”

Ngày Ất Mùi, Kim chủ tự thân chinh phạt Liêu, chia quân làm ba đường tiến lên Thượng Kinh. Liêu chủ đang đi săn ở núi Hô Đồ Lý Ba, nghe Kim lại xuất binh, Gia Luật Bái Tát Ba tuyển ba nghìn tinh binh sang cứu viện.

Tháng Năm, ngày Canh Tý, lập Lưu Thục phi làm Quý phi.

Ngày Kỷ Dậu, giữa trưa mặt trời xuất hiện vết đen to như quả táo. Triệu Lương Tự đến doanh Kim, Kim chủ cho ông cùng sứ Liêu theo quân. Quân Kim tiến rất nhanh, đến Thượng Kinh thì đánh chiếm được ngoại thành, Liêu Thủ bị hàng. Kim chủ xá miễn quan dân Thượng Kinh.

Ngày Đinh Tỵ, tế Địa ở Phương Trạch, ban đại xá các lộ. Thường dân Chu Mộng Thuyết dâng thư luận quyền hoạn quan quá nặng, bị biếm đi Trì Châu.

Ngày Nhâm Tuất, Kim binh đến sông Ốc Hắc, quần thần can gián vì đường xa nóng nực, Kim chủ bèn rút quân, chia binh đánh Khánh Châu. Liêu Thượng Kinh đã mất, nhưng quyền thần che giấu không tâu kịp. Tả Khất Cung can gián Liêu chủ, được phong Trung thư thị lang kiêm Bình chương sự.

Ngày Mậu Thìn, chiếu chọn tông thất có văn tài.

Tháng Sáu, ngày Quý Dậu, lệnh Khai Phong phủ cứu tế dân đói.

Ngày Đinh Sửu, sao Thái Bạch xuất hiện ban ngày. Thái sư Thái Kinh nhiều lần xin trí sĩ, ngày Mậu Dần được chấp thuận, cho ở kinh thành. Kinh chuyên quyền lâu ngày, dư luận không ủng hộ, vua cũng chán ghét. Con là Thái Du cùng cha bất hòa, không lâu sau Kinh quả nhiên bị buộc trí sĩ.

Ngày Tân Tỵ, chiếu: “Từ nay ai động đến pháp chế Nguyên Phong đều luận tội đại bất kính.”

Dân huyện Trung Mâu kiện việc đo ruộng không đều, ngày Ất Dậu bãi bỏ phép phương điền toàn quốc.

Liêu lấy Tiêu Y Tô làm lưu thủ Thượng Kinh.

Kim đánh hạ Thượng Kinh, nhiều cung điện tổ miếu nhà Liêu bị đốt sạch; Tiêu Phụng Tiên giấu không tâu, sau bị Liêu chủ biết.

Ngày Bính Tuất, chiếu cắt giảm quan dư thừa ở Tam tỉnh và Khu mật viện.

Ngày Đinh Hợi, khôi phục số lượng chùa chiền, lại đổi đức sĩ trở lại gọi là tăng.

Ngày Giáp Ngọ, bãi Lễ chế cục và 58 cơ quan tu thư.

Mùa thu, tháng Bảy, ngày Nhâm Tý, bãi bỏ chế độ cho văn thần phục chức sau tang.

Ngày Kỷ Mùi, bãi y học và toán học.

Tháng Tám, giảm định số ngạch y quan. Triệu Lương Tự cùng Kim chủ nghị ước chia đất Yên Kinh. Kim hứa nếu không hòa với Liêu thì giao Yên Kinh cho Tống, hai bên hẹn năm sau cùng đánh.

Tháng Chín, sứ Kim Tát Lạt, Ha Lỗ sang triều kiến, được tiếp đãi theo lễ. Triều đình lại định việc thu hồi Yên Kinh và các châu sau núi. Mối họa giữa hai nước từ đây phát sinh.

Mùa thu năm ấy, Liêu chủ đi săn ở Sa Lĩnh.

Mùa đông, tháng Mười, ngày Mậu Thìn, nhật thực. Hoạn quan Lương Sư Thành được phong Thái úy, quyền thế lấn át triều đình, người đương thời gọi là “ẩn tướng”. Ở Thanh Khê (Mục Châu), dân Phương Lạp tụ tập làm loạn, lấy danh nghĩa chống Chu Mẫn để khởi binh. Chỉ trong ít ngày, quân lên đến mấy vạn, chiếm Thanh Khê.

Tháng Mười Một, Phương Lạp xưng Thánh công, đặt niên hiệu Vĩnh Lạc, đánh chiếm nhiều châu huyện Giang Nam, giết hại quan quân vô cùng thảm khốc. Triều đình kinh hãi, bãi bỏ việc bắc phạt, sai Đồng Quán thống lĩnh 15 vạn quân đi dẹp.

Tháng Chạp, Phương Lạp chiếm Mục Châu, Hấp Châu, tiến sát Hàng Châu.

Cuối năm, Chân Lạp sang triều cống, vua Chân Lạp được phong quốc vương. Năm ấy, Tây Hạ đổi niên hiệu Nguyên Đức.