Bước tới nội dung

Tự tình khúc

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tự tình khúc  (1862) 
của Cao Bá Nhạ

(Ông Cao-bá-Đạt và ông Cao-bá-Quát là hai anh em nổi tiếng văn chương, thần Siêu thánh Quát. Ông Nhạ là con ông Đạt, năm Tự-Đức thứ 6 (1854) gặp gia biến, trốn ở hạt Mỹ-Đức. được tám năm bị bắt giam ngục, làm bài tự tình này)

Tỉnh giấc mộng ngâm câu ký vãng,
Trải tám thu ngày tháng như thoa.
Chiếc thân tựa gối quan-hà,
Nỗi niềm tâm-sự giăng già thấu chăng?
Thơ cao-ẩn tay đằng nên tập,
Bức linh-đài bút rập vào tranh.
Bâng-khuâng mình tiếc cho mình
Xa xa nói với xanh xanh dãi lòng.
Ngòi Đức-thủy khoi dòng kinh-sử,
Phả Cao-Dương treo chữ tấn-thân.
Dõi đời khoa bảng xuất thân,
Trăm năm lấy chữ thanh-cần làm bia,
Đèn Mông-Chính canh khuya một ngọn,
Màn Trọng-Thư năm trọn nửa vây.
Chim hồng mong chắp cánh mây,
Năm xe kinh sử một tay vẽ-vời.
Lửa Thái-Ất đêm soi Lưu-Hướng,
Cầu Thăng-Tiên ngày tưởng Tràng-Khanh.
Gót chân coi nhẹ Vân-trình,
Văn-chương dốc túi, công-danh dật cờ.
Nền thế-nghiệp đã nhờ gia-ấm,
Miền họa-đồ lại lắm thiên-ân.
Trước sau trải mấy mươi lần,
Môn phong vẫn giữ trung cần dám sai,
Ngẫm tiên-phụ nửa đời khổ-tiết,
Để mai sau một ít vi-danh,

Hoạn-giai nhỏ mọn đã-đành,
Trong vòng Thù Lịnh phẩm-bình còn khen.
Dấu trung-ẩn in miền mây trắng,
Chữ mục-dân bóng dựng non vàng.
Bức tranh cheo chữ tuần-lương,
Ngư-dương hát lúa, Hà-dương vịnh đào.
Giá cầm-hạc so vào Triệu Biện,
Thư phụng-hoàng đưa đến Mao-Khanh.
Móc-mưa ơn đội thánh minh,
Thánh-minh hai chữ góp danh với đời;
Vườn Lý-Bạch chưa vui đào mận,
Nhà Tử-Văn nổi trận phong-ba.
Thương ôi! hảo sự tiêu-ma,
Tấm lòng băng-tuyết phút hòa trần-ai.
Mảnh bạch-ngọc thiêu người khách-tử,
Lưỡi đoản-đao cắt chữ phù-sinh.
Nhân-gian ai kẻ thương tình,
Trăm năm công-luận phẩm-bình về sau.
Nỗi gia-thất mặc dầu Tạo-Hóa,
Đàn nhi-tôn gửi cả nhân-gian.
Ơn sâu dám quản thân tàn,
Còn mong gió cáo hồn oan lại về.
Bìnhdẫu phá còn lề cốt-cách,
Gương dù tan vẫn sạch trần-ai.
Thương thay một khóm hàn mai,
Hai cành ấm lạnh ra hai tấm lòng.
Giấc vinh nhục sinh không một thoảng,
Bia thị-phi để tạc còn dài.
Thế-gian kẻ khóc người cười,
Muôn đời để sạch, muôn đời để rơ.
Cuộc phù thế thờ-ơ mệnh-bạc,
Chốn giạ đài chếch-mác lòng son.
Quyết mình há tưởng đến con,

Tưởng khuôn phúc thiện ngẫm còn về sau.
Phó ngạnh-tích mặc dầu sinh-tử,
Chắc Lý đình dạy chữ hiếu trung.
Cho nên lòng cũng đành lòng,
Dẫu khi biến cố còn trong luân thường.
Mối tâm-sự để gương non nước,
Mảnh huyết-tình rãi trước thần-minh,
Cầu kia ai gọi Tân-tình,
Chiếc bia Trụy-Lệ rành-rành bên sông.
Đạo con lấy hiếu trung làm trọng,
Nỗi thế thường xem mỏng xem khinh.
Phù-sinh một sợi tơ mành,
Giữ-gìn di-thể như hình thiên-kim.
Nhạn sa nước, nổi chìm bể khổ,
Yến e cung, tìm đỗ cây lành.
Đường ngang những sợ chông-chênh,
Khăng khăng quyết giữ tấm thành như sơn.
Áo Bạch-nữ dầu cơn mưa nắng,
Khăn Ô-luân đội nặng gió sương.
Cành mai chếch-mác càng thương,
Câu thơ tang-tử dữa đường càng đau.
Ngàn non Thái một mầu mây bạc,
Giạt chân bèo lưu-lạc bể oan.
Gập-ghềnh từng bước gian-nan,
Một vùng khách-địa muôn vàn thương tâm.
Lòng hiếu-dưỡng trăm năm đã lỡ,
Lời di-danh hai chữ còn mang.
Trong khi biến, chẳng khác thường,
Đến đều cùng quá lại càng kiên-trinh,
Thu nước mắt gia-tình biếng cạn,
Thấm mồ-hôi vận-hạn lâu qua.
Tràng-đình ngảnh lại xa-xa,
Khỏi cầu Chiết-liễu ai là cố-nhân?

Ghê chân bước phong trần mới trải,
Nặng lòng son sơn hải chưa đành[đính chính 1];
Nước mây mình biết cho mình,
Giời dành tuế-nguyệt, đất dành điền-viên.
Thú thôn-ổ: ao nghiên, ruộng chữ,
Mầu giang sơn: cơm-sử, áo-kinh,
Pha hòa hai chữ trọc thanh,
Đổi mùi lữ-khách, thay hình hàn-nho.
Người mến cảnh giang-hồ nên thú,
Cảnh yêu người tân chủ phải duyên.
Lần hồi trong tám chín niên,
Gối nhàn tạm chợp, mối phiền tạm khuây.
Vườn riêng lấy cỏ cây làm bạn,
Năm dài xem yến nhạn bay qua.
Song hồ ngày tháng lân-la,
Một hai hoàng-quyển, năm ba tiểu-đồng.
Tráp Vĩnh-Thúc, tay phong, tay mở,
Tập Thiếu-Lăng, câu lựa, câu ngâm.
Thờ-ơ thân-thế phù-trầm,
Khi dong trước gió, khi nằm dưới giăng.
Khuôn tạo-hóa dẫu rằng phong sắc,
Nợ phù-sinh phó mặc bi-hoan.
Thôn cư riêng thú bàn-hoàn,
Đem thanh giải chọc, đem nhàn giải ưu.
Túi Tư-mã dở câu thánh-phú,
Vườn Đào-Am quyền chủ thần-hoa.
Mấy phen điểm-xuyết yên-hà,
Cúc mươi lăm khóm, mai và bốn cây.
Giấc thanh-giạ cơn say cơn tỉnh,
Ngày lưu niên khi lạnh khi nồng.
Phần-du nẻo Bắc ngừng trông,
Nước non cách mấy mươi trùng xa xa.
Câu-lữ cảm lệ hòa nét mực,

Chữ gia tình thấm tắt lòng son.
Mắt trông Vương-Sán đã mòn,
Tay đề Hướng-Tú vẫn còn ngẩn-ngơ.
Tình ly biệt thờ-ơ gấp lại,
Mối ưu-sầu gỡ mãi chưa xong.
Lối oan chót mấy năm dòng,
Ngày mong chữ gấm, đêm mong chiếu vàng.
E đất khách lỡ đường la võng,
Khép cửa sài dám lỏng gót chân.
Bao nhiêu những sự xa gần,
Hư không phó mặc bụi trần bay đi.
Chữ nghĩa lý lòng ghi dạ tạc,
Điều thị-phi mắt nhác tai che.
Cô-trung quyết giữ lời thề,
Để hồn di thể đi về cho an.
Nước Châu-thủy đầy chàn buổi sáng,
Mây Na-sơn bảng-lảng ban chiều.
Có ai qua lối Hoạn-kiều?
Cho nhờ gửi nhắn ít nhiều bi-ai.
Tình kiều-tử hôm mai đằng-đẵng,
Hồn quan-sơn mưa nắng rầu-rầu.
Xa trông tầm-tã giọt châu,
Gần trông phải gượng mối sầu ngậm cay.
Gối vò-võ đèn khuây đêm vắn,
Cửa lơ-thơ rèm chắn ngày thâu;
Cảm-hoài khi lựa mấy[đính chính 2] câu,
Nghêu-ngao đồng-tử tiêu sầu năm ba;
Đuôi con mắt châu sa thấm giấy.
Đầu ngón tay máu chẩy pha son.
Người đau phong cảnh cũng buồn.
Thông gầy như trúc, cúc mòn như mai.
Mối tâm sự rối mười phần thảm,
Gánh gia-tình nặng tám năm dư.

Khi ngày mong bức xá-thư,
Khi đêm than bóng, khi trưa hỏi lòng.
Hương thề-nguyện khói nồng trước gió,
Tờ tố-oan mở ngỏ giữa giời.
Tờ oan kể hết bao lời,
Hương thề sao chửa thấu nơi cửu-trùng?
Ngẫm đời trước vốn không oan-trái,
Sao kiếp này vướng mãi gian-truân?
Lo xa thôi lại nghĩ gần,
Thôi ngơ-ngẩn sớm, lại chằn-chọc khuya.
Ngơ-ngẩn nhẽ đường kia nỗi nọ,
Ngao-ngán thay phận nhỏ sầu to,
Một mình riêng những đắn-đo,
Thường tình nhi nữ khôn giò nông sâu.
Thôi dĩ-vãng đã không kéo lại,
Còn tương-lai liệu phải đền-bồi.
Hoạ may cảm-động đến giời,
Lấy thân mà trả nợ đời cho thân.
Dẫu đầy kiếp phong-trần dám xá,
Dãi được lòng khuyển mã là vinh.
Một là mở tấm đan-thành,
Hai là rửa tiếng nguyệt-bình chê bai.
Để tiên-tổ ngậm cười chín xuối,
May gia-khương còn nối về sau.
Hay ra lại rạng cơ cừu,
Hèn ra sơn thủy tiêu sầu cũng khoan.
Cho nên nỗi gian nan xá kể,
Liệu rồi ra tìm thế gỡ dần.
Thôn-trang tìm thú ân-cần,
Một phần thê-tử, hai phần thảo-hoa.
Tưởng khuây-khỏa ngày qua tháng tới,
Bỗng hãi-hùng gió thổi mưa chan.
Nổi chìm chìm nổi bể oan,

Mấy năm hầu cạn, một cơn lại đầy.
Nặng kiếp trước vò-giầy chi mãi?
Ngẫm tình này oan-trái sao cân?
Nghĩ thân mà ngán cho thân.
Một thân mang nợ mấy lần chưa thôi!
Chữ bạc-mệnh, ai ơi sót với,
Câu đa-gian, giời hỡi thấu chăng?
Gớm thay! ngọn lửa đốt rừng,
Dập tàn tàn lại bừng bừng bỗng không.
Ghê cho kẻ mọc lông trong bụng,
Đặt nên điều vẽ bóng ngoài môi.
Ngựa hươu thay đổi như chơi,
Dấu gươm đầu lưỡi, thọc dùi trong tay.
Gây ra sự: chia cây rụng lá,
Để cho ai: chìm cá giạt bèo.
Năm ba kẻ thước người hèo,
Ngõ Nhan lôi cái đan-biều đập tan.
Gà éo-óc vừa tàn giấc mộng,
Nhặng vo-ve sực động hồn kinh.
Tiểu-đồng thổn-thức chung quanh.
Thê nhi lăn-lóc bên mình khóc-than.
Phút nửa khắc muôn ngàn thê-thảm,
Trong một mình bẩy tám biệt-ly.
Ngảnh vào ái-ngại thê-nhi,
Ngảnh ra án cũ cầm thi ngại-ngần.
Lay ngọn cúc gió dằn lăn-lóc,
Thấm cành mai sương khóc chan-hòa.
Trông hoa đau-đớn cùng hoa,
Ai ngờ từ đấy hóa ra vô tình.
Áo sốc-xếch nửa manh chắp-nối,
Tóc loăn-xoăn trăm mối bòng-bong.
Sầu dài chia nửa vào song,
Bước ra dùng-dắng lại trông giở vào.

Hồn khuê-phụ lao-đao lặng ngắt,
Người hương-quan quanh-quất thương thay!
Bèo mây lỡ bước từ đây[đính chính 3],
Nước non tiễn khách là ngày hai nhăm.
Đau-đớn nỗi kẻ thăm người hỏi,
Ngẩn-ngơ buồn miệng nói chân đưa.
Giọt phiền lai-láng như mưa,
Rượu nồng chẳng nhắp say-sưa những sầu.
Bẻ cành liễu ngâm câu ly-hợp,
Khuất ngàn dâu qua lớp đoản-tràng.
Bước sầu ai vẽ giữa đàng,
Mây in sắc lúa nửa vàng nửa xanh.
Sương thấm lối gập-ghềnh từng bước,
Gió lần cành sao-xác tai nghe.
Đoái trông cầu quán so-le,
Cỏ ngăn lối ngõ, cây che mái nhà.
Mòn con mắt nẻo xa đằng-đẵng,
Chồn bước chân dặm thẳng ngùi-ngùi.
Sông quanh chín khúc mấy hồi,
Con đường man-mát mười thôi nhọc-nhằn.
Cầu Ô-mễ mấy lần mây lại,
Ngàn Hương-Sơn một giải núi đưa;
Lối này lạc bước từ xưa,
Ai ngờ thơ-thẩn bây giờ lại đây.
Bóng thấp thoáng yến bay buổi tối,
Tiếng mau thưa quyên gọi dậm trường.
Những là sợ gió e sương,
Thương thân chua-sót, nghĩ đường xa-xôi;
Chuông Cổ-tự điểm hồi rộn dục,
Trống quan-thành vừa lúc sưu-không.
Sầu kia ai kể siết lòng,
Chiều thôi lại tối, đêm xong lại ngày.
Gông ba thước ai bầy nên nợ,
Cũi một gian khéo giở ra trò,

Mới qua là kẻ văn-nho,
Bỗng nay đổi dạng từ-đồ bởi đâu!
Tấm-tức nỗi ngậm sầu nuốt giận,
Thổn-thức thay thở vắn than dài.
Đến nay mới rõ thói đời,
Giả tình trước mặt, dối[đính chính 4] lời sau lưng.
Trận gió thổi vang lừng trống giục,
Lối bụi mù chen-chúc quân gian,
Tám vai quẩy nặng người oan,
Gần xa trăm miệng đồn vang phố-phường.
Bên năn-nỉ người thương người hỏi,
Ngoài sôn-sao kẻ nói kẻ cười.
Phong-tao ra dạng con người,
Dịu-dàng nét mặt ra loài văn-nhân.
Nỡ đầy đọa phong-trần nặng kiếp,
Để tơ vương oan-nghiệt lạ đời.
Đã đầy một đóa hoa mai,
Phẩm-tiên lưu-lạc trần-ai lạ-lùng.
Nhờ nhật nguyệt soi trong can phế,
Xin giang sơn giãi vẻ tâm trường.
Nặng lòng chân-trọng lời thương,
Thương nhau là khách qua đường biết sao.
Qua cửu-mạch cao-cao cửa đỏ,
Trông lục-nhai lồ-lộ gác vàng.
Những quen só-sỉnh điền-trang,
Hãi-hùng nghi-vệ công-đường viển-vông.
Mặt bảo-kính soi lòng ki-lữ,
Đuốc linh-tê thấu chữ kỳ-oan.
Bức tranh vẽ bước gian-nan,
Thanh-thiên bạch-nhật niềm-đan giãi trình.
Nay phó xuống đông-thành tạm trú,
Mai truyền sang bắc-lộ duổi ra.
Thân sao như gánh hàng hoa,

Sớm qua chợ sớm, chiều qua chợ chiều.
Người đất khách phó liều mưa nắng,
Thuyền sông mê chở nặng biệt-ly.
Tràng-đê một dải xanh rì,
Nước chôi đỏ thắm, mây đi trắng ngần.
Hồn phần-tử mười phân lưu-lạc,
Cõi phong-ba mấy hước nổi chìm.
Sóng đào kêu mãi không im,
Giọt xương rã-rích hầu êm lại tràn.
Dâu cao thấp qua ngàn bến Ái, (Ái-mộ)
Cây mau thưa ngảnh lại huyện Gia. (Gia-Lâm)
Thương tâm này nước non nhà,
Cảnh còn như cũ người đà khác xưa.
Đường lẩn-lút gió đưa mưa rước,
Cõi phong-trần mây ngược nước xuôi.
Sông sầu một gốc chia đôi,
Lối sầu trăm dặm một thôi đoản tràng.
Ô chếch-chếch xế ngang non bạc,
Sếu xa-xa bay lạc ngàn xanh.
Giang-sơn thêm nặng li-tình,
Giang-thành vừa sớm, sơn-thành lại hôm.
Giời hầu tối hơi lam giục-giã,
Mây kéo cơn tầm-tã sa mưa.
Ơn trên thấm-thía cho chưa,
Ơn giời trước đã mau thưa đượm-nhuần.
Ví đầy kiếp phong-trần cho bõ,
Cũng xét tình oan-khổ mới nao.
Dẫu rằng đất thấp giời cao,
Người còn trăm miệng lẽ nào một thân.
Nghe Hiến-chỉ truyền ran lịnh-tiến,
Dục tinh sương đối diện công-đình.
Thực hư may được rành rành,
Mười tay mười mắt phân-minh giữa giời.

Việc yêu quái tăm hơi mù-mịt,
Điều oan-vu xương thịt báo-đền.
Lạc đàn trong bấy nhiêu niên,
Nào ngờ thất-giáo cho nên lụy mình.
Loài đồng-khí đã đành nặng nợ,
Lòng bỉnh-di sao nỡ bỏ hoài?
Ngón tay còn có vắn dài,
Huống chi lành giữ lòng người khác nhau.
Sóng bình-địa trước sau trùng-điệp,
Gió phi-tai đơn kép dầy vò.
Càng ngày hoạn-nạn càng to,
Cha con cùng một chuyến đò bể oan.
Một chiếc bóng giang-san dãi-tỏ.
Bấy nhiêu lâu thôn-ổ ân-cần.
Nhỡ-nhàng đến bước gian-truân,
Dẫu là hiền-trí khôn phần nài sao.
Lánh cho khỏi tanh-tao là quí,
Giữ được điều liêm-sỉ là hay,
Lòng kia đen, trắng, gian, ngay,
Gió giăng bầu-bạn lâu nay biết lòng.
Đã chắc hẳn đứng không thẹn bóng,
Nào tưởng đâu lá bỗng ngược cành.
Chắc rằng gắn bó đan-thành,
Chút thân chẳng bận hôi tanh mảy-mày.
Sao đến nỗi tai bay vạ lạc,
Thà bỏ thân đáy nước, cành cây.
Thân sao thân đến thế này,
Mấy năm dũ sạch một ngày bụi dơ.
Ơn tiên-thế bao giờ báo-đáp,
Nợ phù-sinh mấy kiếp đền-bồi.
Phù-sinh thôi thế thì thôi,
Dẫu thân chuộc lại cũng đời bỏ đi,

Sao gia-vận biến-di đến thế,
Nào tiên-nhân tích-lũy để đâu?
Cao cao xanh ngắt một mầu,
Biết rằng có thấu nguyên-đầu cho chăng?
Chữ khổ-tiết khăng khăng cầm chắc,
Nợ đa-truân dằng-dặc cố theo.
Trước sau vẫn chút bấy nhiêu,
Nặng vì cốt nhục phải liều phát-phu.
Tình phụ-tử cay chua đến ruột,
Nỗi thất-gia đau buốt tận xương.
Từ nay nhắn-nhủ thế-thường,
Ai ơi! xin chớ ngâm chương mộng-hùng.
Hồn nghĩa-lý chơi dong mây bạc,
Lệ văn-chương sái lạc suối vàng.
Mai sau còn kẻ tình thương,
Vài thiên ai-cảm, mấy chương phẩm-bình.
Luống tích-thiện sao không phùng-thiện,
Chưa minh-oan lại đến hàm-oan!
Băng-hồ rơi xuống lầm-than,
Thà cho một chén tân-toan đi đời.
Khi lên xuống Tam-Thai, Bích-Lạc,
Lúc đi về Ngũ-Nhạc, Huyền-Đô.
Thoảng không trăm giận nghìn lo,
Trải chân bến khổ, qua đò sông mê.
Còn vướng nỗi đề-huề nhiều ít,
Nỡ liều thân vĩnh-quyết sao đành.
Tiên-phần còn gửi mây xanh,
Sót thân lưu-lạc phù-bình bấy lâu.
Nợ Đại-tạo mai sau khoan-thải,
Chút hiếu-trung may lại báo-đền.
Cho nên ngậm tủi nuốt phiền,
Cắn răng cố nhịn muôn nghìn thương tâm.
Nhà Huyên bấy nhiêu năm lưu-lạc,

Chân bèo trôi một bước một đau.
Hoặc là thấu đến cao sâu,
Tấm lòng tấc cỏ mai sau còn rành.
Lại còn nỗi gia-đình tự-tục,
Đau-đớn lòng cố, phục, cù, lao.
Phúc xưa mòn-mỏi thế nào?
Chút dòng thanh-bạch nỡ nào mất không!
Chút đau-đớn khuê phòng gối lẻ,
Bỗng vì đâu chia rẽ mối tơ.
Liễu-bồ đôi chút cành thơ,
Bao giờ bìu-díu, bao giờ bồng-mang.
Đã cay-đắng nhiều đường rộn-rã,
Lại nhục-nhằn đến cả vợ con.
Mấy năm chút nghĩa ôn-tồn,
Gieo đào, trả mận lòng còn bâng-khuâng.
Đường kia nọ nửa chừng bề-bộn,
Nỗi trước sau trăm món ngổn-ngang.
Mắt kia thác cũng còn gương,
Hồn kia muốn dứt còn vương nỗi này.
Đành tiền-kiếp chịu đầy lầm-cát,
Mong tái-sinh nhờ hạt móc-mưa.
Phúc nhà còn mảnh sợi tơ,
Họa may báo-đáp còn chờ về sau.
Thân nghĩ lại cùng-sầu đã chán,
Số sui ra vận-hạn khôn đành.
Ví liều quyết chẳng tiếc mình,
Sạch mình đã vậy, thế tình còn nghi.
Khuôn Tạo-hóa dẫu nguy còn phúc,
Tấm linh-đài khỏi nhục là vinh.
Bo-bo hãy gắng lấy mình,
Bấy lâu gìn-giữ sao đành liều đi.
Xin Tạo-Hóa phù-trì chớ bỏ.
Để thế-gian xem rõ kẻo lầm.

Đen nào dơ được đan-thầm?
Sầu nào ngăn được cao-ngâm dõi ngày?
Gần mùa hạ chim bay đuổi thỏ,
Rắp đầu thu ngọn gió cuốn mây.
Lọt then ngày tháng hơi may,
Đồng-hồ thảnh-thót vơi đầy năm canh.
Nam-cai khuất non xanh man-mát,
Thái-hàng xa mây bạc lần-vần.
Hồn bay ngàn dậm cũng gần,
Trong năm mươi khắc năm lần thấy cha.
Chợp sực thức, la-đà gối bị,
Nằm, lại ngồi, rầu-rĩ chiếu manh.
Hóa-công khéo giữ nhàn-tình,
Đem người yên-thủy bó vành lao-lung.
Đem lầm đục rẩy trong băng-tuyết,
Rắc bụi trần điểm vết khuê-chương.
Then mau khóa kín một đường,
Hổ thân loan hạc, ra tuồng chó dê.
Chiếc ngựa trắng đi về góc bể,
Đàn chó xanh lẻ-tẻ bên giời.
Một mình với bóng là hai,
Rèm buông mỏng-mảnh, song cài so-le.
Mòn con mắt đi về hương-lĩnh,
Ngỏ tấm lòng với mảnh phù-vân.
Phù-vân đem lại cho gần,
Gửi về hương-lĩnh ân-cần mấy câu.
Ngồi tựa gối rãi sầu với gió,
Mới đâu chừng đêm nọ tới nay.
Hơi may héo-hắt từ đây,
Giang-nam phong-vị độ này ra sao?
Năn-nỉ với hai sao bên Hán,
Giải tràng giang giời hạn đông tây.
Hai sao soi biết nạn này,

Xin cho thất-tịch cùng ngày đoàn-viên.
Vừng giăng trước về miền vân-thủy,
Soi những người thiên lý tương-tư.
Đi qua vườn cũ lơ-thơ,
Thử xem án cũ cầm thư thế nào?
Trông đàn yến bay cao phấp-phới,
Sịch then song gọi với trước mành.
Tiện đây nhờ gửi chữ tình,
Chờ xuân nhắn gửi chim xanh còn chầy.
Tình nam bắc thâu ngày qua tháng,
Sầu biệt-ly vơi sáng đầy chiều,
Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Cậy ai về nẻo Thước-Kiều hỏi tin.
Quanh mao-quật gió hiên, giăng mái,
Giải tình-giang rượu sớm thơ chiều.
Nào thơ nào rượu rập-rìu,
Trông giăng tựa gió đìu-hiu một mình,
Những say tỉnh Bắc-Kinh mưa gió,
Vẫn mơ-màng phòng cũ chiếu chăn.
Gối sầu cách áng mây Tần,
Băn-khoăn tay áo chân quần ở đây.
Án nọ nưng ngang mày sớm tối,
Nay tháng ngày no đói với ai.
Gió thu một tiếng bên tai,
Thuần-lư sực nhớ đến mùi Giang-Nam.
Kìa ngọn núi in làm bút-giá,
Nọ đám mây mở lá thi-bình.
Bút xưa trang điểm chữ tình,
Bình-thi cuốn gửi Hồ-Đình bấy lâu.
Tưởng thư-viện những sầu cách-diễn,
Nghĩ hoa-viên càng ngán xa xôi.
Giếng vàng một tiếng thu rơi,
Quan-sơn nghìn dặm, mấy hồi tương-tư.

Rắp mượn cá đem thư thăm hỏi,
Thoắt nghe chim tựa gối ngẩn-ngơ.
Trông hoa luống nặng tình xưa,
Tiếc hoa luống ngại nắng mưa dãi-dầu,
Dễ khuây-khỏa trăm sầu ngàn giận,
Những xụt-xùi thở ngắn than dài,
Biệt-ly ai kể xiết lời,
Vì hoa cách mặt cho người thương tâm.
Người đưa rượu hỏi thăm Bàn-Trạch,
Kẻ say giăng tìm khách Đào-Chu.
Nào ai chang-điểm mầu thu,
Hoa vàng chén bạc tạc-thù với ai?
Miền Dứu-Lĩnh tin mai gắn-bó,
Đỉnh Cô-sơn mối gió đợi-chờ.
Muốn mang chén rượu câu thơ,
Lạnh-lùng trong tuyết, hững-hờ dưới giăng.
Chồi tiểu-bạch vừa chừng hơn thước,
Tay chủ-nhân ngày trước vun giồng,
Dẫu khi xương-tuyết lạnh-lùng,
Xa-xôi dám phụ tấm lòng kiên-trinh.
Mây vô-định bay quanh ngoài mái,
Trăng hữu-tình soi lại trước sân;
Non đông tin-tức cách ngần,
Tường-vi rầy đã mấy lần khai-hoa?
Nhắn hỏi tiễn xuân là mấy khóm,
Vẻ tiên-hồng trang-điểm dường nào?
Lầu-trang gió bỡn giăng chào,
Kim-thoa đưa nhớ, tiễn đau, cắt buồn.
Vườn thược-dược thâu mòn cửa trúc,
Rẫy ba-tiêu chen-chúc song hồ.
Biệt-ly vắng ngắt cảnh thu.
Thanh-cư ai vẽ nên đồ Võng-Xuyên.
Nhắn hỏi đến mộc liên hai ngọn,

Phóng tin hoa gần-gận gió may.
Hoa kia hãi nhắn thư này,
Buổi thu còn vắng người say trước đình.
Tiếng tất-xuất bên mình dục-dã,
Ngọn trà-mi trước giá lơ-thơ.
Buổi thu chớ ngại công chờ,
Con ong cái kiến ỡm-ờ giới thay.
Nhờ tin gió hỏi cây thạch-lựu,
Thu hầu sang hạ-cửu gần qua.
Đan-tân còn chút gọi là,
Giữ-gìn băng-ngọc đừng pha bụi trần.
Đường hoa trải mùi xuân lác-đác,
Cánh loan-tiên bay lạc lối ngoài.
Với ai khoe tía khoe tươi,
Chậu vàng ngần-ngại những người nghiên-xương.
Tưởng sơn-trúc thạch-hương đã ngán,
Hỏi hồ-đào long-nhãn càng đau.
Hồng-mai rã-rích giọt châu,
Hững-hờ sương tảo, giãi-dầu sương cam,
Góp trăm mối đem làm tâm sự,
Tính trăm hoa đầy cả gió xương.
Chập-chờn say tỉnh giữa đường,
Hoa kia có biết đoạn-trường này chăng?
Nỗi ly-hận nói-năng sao xiết,
Tình tương-tư nào biết bao nhiêu.
Tính xem ly-biệt ít nhiều,
Thương cho mai cúc nặng điều tương-tư.
Nhờ trận gió gửi thư thăm hỏi,
Mượn bóng giăng giãi nói ân-cần,
Giá đành phong-nguyệt chủ-nhân,
Nỡ nào đầy-đoạ phong-trần sót-thương.
Xin hoa chứa phong-quang như cũ,
Chủ-nhân còn đoàn-tụ có khi.

Trả cho sạch nợ lưu-ly,
Tân-toan rửa hết đến kỳ cam-lai.
Gửi tình trọng thay lời thương nhớ,
Cậy đồng tâm lo đỡ ít nhiều.
Có khi lau-chuốt đan biều,
Khi trưa phơi sách, khi chiều tưới cây.
Lúc thanh-hạ đặt bầy giá bút,
Buổi rồi-dài lau chuốt án thơ.
Dười đèn giở thước xe tơ,
Sửa-sang áo rét đợi-chờ thu qua.
Tình khuê-các gần xa lắm nỗi,
Người quan-sơn sớm tối một mình.
Trông về giời bể mông-mênh,
Lúc đi còn vướng mối tình tư-qui.
Ngàn nam-mẫu vừa khi canh-tác,
Dải tây-giang ngọn nước đầy vơi.
Dưới giăng thuyền chúc thảnh-thơi,
Phong-lưu năm ngoái là người năm nay.
Xếp tình cũ từ đây trở lại,
Hoài công đâu kể mãi việc nhàn.
Đã đành hội, biệt, bi, hoan,
Mặc khuôn Tạo-Hoá tuần-hoàn nghĩ chi.
Chữ thông-tắc phải tùy sở ngộ,
Lẽ thị phi không hổ với đời.
Chiếc thân đứng giữa cõi người,
Trên giời nhật nguyệt, duới giời sơn xuyên.
Chứa trong bụng đầy thiên kinh-sử,
Đội trên đầu nặng chữ quân-thân.
Bầu băng giá ngọc trắng ngần,
Dẫu dầm giọt nước phong-trần chẳng hoen.
Lối kim cổ là miền liêm sỉ,
Bia thị-phì còn để nhục-vinh.
Mắt tai hiền truyện thánh kinh,

Lẽ đâu cầm độc ô danh quan thường.
Nhờ Tạo-Hóa rộng đường phúc-trạch,
Giăng thiên-la vét sạch hung-ngoan.
Một phen cười với thế-gian,
Rồi ra tùy ngộ nhi an xin đành.
Hãy đem món thường-tình xếp lại,
Tạm tính đều thế-trái để ra.
Đêm đêm lạy hỏi giời già,
Thân này ô-chọc hay là thanh-cao?
Còn trên thế ít nhiều dư-phúc,
Chắc linh-đài chín khúc đan-tâm.
Hóa cơ vãng phục chẳng lầm,
Để cho tác-thiện lục-trầm lẽ đâu?
Thu nước mắt nghĩ câu thận-độc,
Rong ngọn đèn ngâm khúc mạc-ai.
Bút nghiên tiêu-khiển ngày giài,
Chẳng vì tâm khổ bỏ hoài quang-âm.
Nhân thong-thả lại ngâm quốc-ngữ,
Đem thủy-chung tình-tự nói năng.
Nôm-na câu được câu chăng,
Đỡ khi buồn-bã lại dâng một cười.

  1. Gốc: dành được sửa thành đành: chi tiết
  2. Gốc: mây được sửa thành mấy: chi tiết
  3. Gốc: dây được sửa thành đây: chi tiết
  4. Gốc: đối được sửa thành dối: chi tiết

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.