Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ/Đại ý quyển sách này

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

ĐẠI-Ý QUYỂN SÁCH NÀY.

Xứ Nam-kỳ tức là một cuống họng của ta, đối với trong là một kho tàng to, quay ra ngoài là một thị-trường lớn, công phu cha ông khai thác mấy trăm năm, mới có ngày nay, để cho con cháu làm của gia-tài, đáng lẽ ta không nên để cho ai phạm vào quyền-lợi ấy của ta mới phải.

Thế mà bị 20 vạn người Tầu là một dân-tộc có tài thực dân, kéo nhau sang hạ cái thủ-đoạn kiếp-lược dần dần, bây giờ nghiễm nhiên làm ông chủ-nhân trong trường thương-mại công-nghệ của ta, thôi thì trên bến dưới thuyền, thượng vàng hạ cám, nhất thiết lợi-quyền đều vào tay họ lũng đoạn hết, ta cam tâm để họ đè nén: khó nhọc ta gánh, miếng ngon họ ăn, bao nhiêu lâu nay, ta chịu mãi cái nỗi « cường tân áp chủ » như thế. Ôi! vận-mạng của ta ở xứ Nam-kỳ, tương lai của ta ở xứ Nam-kỳ, không có lẽ ta cứ điềm nhiên để họ kiếp-lược chiếm-cứ ta như vậy mãi được, chắc phải tìm cách nào tước bớt cái thế-lực họ đi, và thu lại những mối lợi mà mình có quyền chính-đáng được hưởng mới được. Song le, muốn tước bớt cái thế-lực họ đi mà thu lại những mối lợi mà mình có quyền chính-đáng được hưởng, thì phải làm thế nào? Quyết không phải chỉ cau mày trợn mắt, làm truyện như « tẩy chay » năm nào, mà thành công được đâu! Vì phải xét họ gây được cái thế-lực to lớn vững vàng ở Nam-kỳ như ngày nay, nào là di dân, nào là bỏ vốn, nào là tốn sức nhọc lòng, nào là mở mang xếp đặt, công phu tích lũy đã mấy thế-kỷ nay rồi, thì tất không phải là thế-lực mà đụng chạm vào là làm nghiêng đổ ngay được. a bây giờ muốn đi đánh lui một toán đại-địch trong thương-trường ấy, không nói gì[đính chính 1] là phải phí trí-lực, phải phí thì giờ, mà trong khí-cụ cần dùng thì xứ Nam-kỳ ta thiếu hẳn một thứ, là nhân-công, tức là một khí-cụ cần nhất trong trường kinh-tế chiến-tranh vậy.

Nam-kỳ thiếu nhân-công thật, còn non hai triệu mẫu đất hoang bỏ chưa khai khẩn, bao nhiêu nguyên liệu vật-sản, bỏ chưa đem dùng, đến ngay tiện nghệ khổ công, cũng không có người làm, nhất thiết công-nghệ buôn bán gì, đều vào tay Hoa-kiều hết, cũng chỉ vì không có người làm, bởi vậy, bây giờ nói việc mở mang xứ Nam-kỳ, tức là cách phá cái thế-lực Hoa-kiều, mưu cuộc phú-cường nay mai, thì nhân-công chính là một tài-liệu mà xứ Nam-kỳ đang phải cần đến lắm.

Nhân-công ấy lấy ở đâu ra được? Người Trung, Bắc-kỳ cất tiếng lên mà đáp rằng: « Tôi đây! »

Thật ra, cái hiện-tình sinh hoạt của dân hai xứ ngoài này đã thấy chen chúc, khổ sở lắm: rừng núi tứ tung, địa thế chật hẹp, nhân-số ngày một đông thêm, mà mọi nghề nghiệp chưa được rộng rãi, dân không đủ làm; ruộng đất hầu đã vỡ hết, nhưng nghề canh nông thật gian nan, mùa thường bị mất; nói tóm lại mọi công việc làm ăn, tuy đã mở mang ra nhiều, nhưng so sánh với số dân, không được tương đương, cho nên bọn dân lam lũ khốn cùng, không nghề không nghiệp, hãy còn nhiều lắm. Lại thêm một nỗi, thường bị nhiều cái tai vạ bất kỳ, thí dụ như mưa tràn nước lụt, thì dân tình càng thấy khổ già: ruộng vườn ngập hết, nhà cửa trôi băng, ở không có nơi, ăn không có miếng, bấy giờ cha con vợ chồng giắt díu nhau đi bơ vơ kiếm ăn, trông tình cảnh rất là ái ngại, dù có hưng-công, dù có phát chẩn, đều là cách tạm thời, chẳng có hiệu quả gì chắc chắn cả. Xét lại thì hai xứ này, đường sinh-hoạt hẹp mà số sản-dục ngày tăng, e rồi có cái vạ nhân-mãn, chẳng đáng lo cho cuộc tiến-hóa lắm ư? Ta phải đi bớt đi mới được.

Có người nói sao người Bắc-kỳ không lên mạn ngược mà khẩn hoang, người Trung-kỳ không vào miền Mọi mà doanh-nghiệp, nhưng không biết đâu sự-lý đã đành, mà tình thế lại khác, mạn ngược thì khí hậu không lành, nên đối với việc làm ăn hơi khó, miền Mọi tuy nguồn lợi vốn sẵn, nhưng luật cấm không cho vào; vả chăng hai chỗ ấy cũng chẳng lợi-dụng được hết nhân-công Trung, Bắc-kỳ, như thế thì bảo lên những chỗ ấy mà thực dân, là một điều chẳng xong rồi, tất phải di đi một nơi khác.

Di đi ngoại quốc chăng? Không, trường hành-động trong nước ta còn có chỗ rộng thênh thang, cần gì phải đi đâu xa xôi, cho cực khổ. Trong khi ngoài Trung, Bắc-kỳ đông người, muốn di đi như vậy, thì trong Nam-kỳ đang cần nhân-công, vậy thì di ngay vào Nam-kỳ chẳng cũng phải là một việc hợp thời, một việc nên làm, một việc có lợi hơn hay sao?

Vấn-đề di dân vào Nam-kỳ, bởi đó mà xuất-hiện ra vậy.

Vấn đề này, xuất-hiện đã lâu, không những gì là dư-luận của phần đông người, mà lại là một nghị-án của chính-phủ, thế mà bản thể-lệ nọ thảo ra, vẫn xếp só ở ngăn bàn, lời thỉnh-cầu kia đệ lên, rồi nằm vò trong sọt giấy, một việc đáng lẽ phải thực-hành từ bao giờ, mà đến nay chẳng thấy gì cả; hoặc bảo là chưa tiện đường giao-thông, phải chờ bao giờ xong con đường Đông pháp thiết-lộ (Le Transindochinois) đã, hoặc bảo lo nắng thì đã có máng nước, giữ lụt thì đã có đê-điều, cứ ở nhà mà cày cấy làm ăn, cần gì phải đi đâu vội, thành ra dân còn loanh-quanh nấn ná trong khu đất chật hẹp khốn nạn của mình, giơ lưng ra mà đỡ lấy tai vạ lụt lội đói kém hằng năm; cái sức gánh vác lâu nay, nghe chừng đã bì quyện lắm rồi, thế thì việc di dân chẳng thực hành ngay đi, còn đợi đến bao giờ nữa.

Duy có điều việc di dân, chưa đến lúc phải là một vấn-đề thuộc về quyền chính-trị, thì còn có nhiều nỗi khó khăn, ngăn trở sự tiến-hành: từ khi ra đi cho đến lúc vào tới nơi, ăn ở thế nào cho hợp vệ-sinh, làm việc thế nào cho xứng tài-năng, sinh-mệnh lấy gì chở che, lữ-huống lấy gì an ủi, toàn là những việc khó nói, mà bấy lâu dư-luận bàn mãi chưa xong, cho nên ta phải xin Chính-phủ tán-thành mà giúp đỡ cho mới được. Vả chăng, Nam-kỳ chẳng phải là xứ toàn là đất hoang rừng rậm, phố vắng đường không, mà nay cần đem nhân-công Trung, Bắc-kỳ chỉ để rẫy cỏ phá rừng, mở xưởng lập tiệm đâu! Cũng có cần thế, nhưng mà Nam-kỳ đã có chủ-nhân rồi, là Hoa-kiều, cho nên nhân-công ngoài này có vào, lại còn cần đem tài năng, đem tính nhẫn-nại mạo-hiểm, là tính-cách sẵn có, vào phải quyết đấu với Hoa-kiều, là những người, ta đi đâu cũng gặp họ như gai góc cản đường, những muốn cho mình chìm đắm trong vòng nô-lệ mãi mãi, để họ chiếm lấy quyền-lợi một mình, ta không được phạm đến. Bởi vậy, việc di dân vào Nam-kỳ, không những là mưu sự hạnh-phúc an-lạc cho đám nhân-công Trung, Bắc-kỳ, mà lại là một việc phải tranh đấu với Hoa-kiều, để đoạt lại cái chủ-quyền kinh-tế, và gây cuộc phú-cường sau này, thành thế ra việc ấy, từ vấn-đề của cá-nhân, tiến lên thành vấn-đề của xã-hội vậy. Nếu chẳng có ý-nghĩa như thế, thì sang Lào mà làm ăn còn hơn, sang Nouvelle-Calédonie làm cu-li cũng được, cần gì phải vào Nam-kỳ?

Tất cả Đông-Pháp này, có 35 vạn Hoa-kiều, thì mình xứ Nam-kỳ 20 vạn, người đông, của nhiều, công-nghệ to, buôn bán lớn, nhất thiết đều tụ cả ở đó, thành ra một cái thế-lực đồ sộ vững vàng, thế thì có muốn cạnh-tranh với họ, tưởng trước hết, phải biết thế-lực của họ ra làm sao mới được. Có biết thế-lực của họ, để điều hay ta theo, điều ác ta tránh, nói tóm lại mới biết đường mà đối phó với họ, nếu không thì không khỏi bị họ tìm cách thâm-hiểm mà hại mình, xưa nay những việc gì ta làm, hễ có ý cạnh-tranh với « các chú » ở trong, thường bị họ dùng độc-thủ mà phá-hoại mình ngả nghiêng, ấy tức là một chứng cớ vậy.

Di dân được vào Nam-kỳ, còn hai ý-nghĩa cao hơn nữa:

Một là tư-bản và nhân-công hợp với nhau. Tư-bản và nhân công là hai tài-liệu để lập nên một nước phú-cường, tất phải tương-tư tương trợ lẫn nhau, rời nhau ra thì đều là vô dụng, lại có hại nữa. Thế-giới ngày nay, xướng lên cái chủ-nghĩa tư-bản, và cái chủ-nghĩa lao-động, có ý phản-đối với nhau, song kết-quả chỉ thấy là phá-hoại: thường khi bọn thợ đình công, mà công-nghệ phải chịu ảnh-hưởng lớn, thường khi ông chủ đóng cửa xưởng, mà bọn thợ đến nỗi mất việc làm, chứng cớ rành rành, là nước Nga gây lên cái chính-sách lao-nông, mà trong nước tan tành ra đó, chỉ nay mai tất ta thấy nước ấy phải quay về chế-độ thường, nghĩa là nhân công phải đi đôi với tư-bản Như thế thì đủ hiểu rằng tư-bản với nhân-công, không thể bỏ nhau mà làm nên việc được. Nước ta, Nam-kỳ sẵn của mà làm việc thiếu người, Trung, Bắc-kỳ sẵn người mà làm việc thiếu vốn, bấy lâu nay lìa rẽ với nhau, cho nên chưa thấy kinh-doanh được việc gì to tát cả, vậy nay di dân vào Nam-kỳ, tức là cách kết hợp nhân-công và tư-bản vậy. Vả chăng ta cũng nên biết rằng: muốn đạt được bao nhiêu cái hy-vọng lớn lao của ta[đính chính 2] sau này, thì phải lấy đất Nam kỳ làm trường hành-động mới được.

Hai là liên-lạc được mấy xứ. Nói đến tiếng liên-lạc cũng là việc cực chẳng đã, vì nước mình suốt từ Bắc đến Nam, sinh cũng một nòi, nói cùng một tiếng, theo cùng một văn-hóa, giữ cùng một tính tình, li-gián từ đâu mà ngày nay phải nói đến chuyện liên-lạc? Duy gần đây, vì sự ngẫu-nhiên của lịch-sử, mà mỗi xứ phục theo dưới một chính-thể riêng, cho nên sự trao đổi tình ý với nhau, không khỏi có chỗ ngăn trở, đến nỗi tưởng lầm rằng: không phải cùng nhau một lịch-sử chung, một nguồn gốc chung, một tiếng nói chung, một lễ-nghĩa chung, thành ra gặp nhau — tiếc thay sự gặp nhau này lại rất hiếm-hoi, vì chẳng có dịp — thì chẳng thấy đầm thấm gì, như thế còn nói đến sự đồng lao cộng tác với nhau làm sao được. Phận-sự làm dân một nước, không cho ta ghẻ lạnh ghen ghét nhau như thế, mà khiến phải thân yêu nhau, giúp đỡ nhau, cùng làm việc với nhau, thì mới sinh-tồn nổi ở đời khó khăn này, vậy một điều cần, là làm sao cho người Nam Bắc được xúc tiếp với nhau luôn, để hiểu tính-cách tâm-lý của nhau mới được. Mà muốn xúc-tiếp với nhau luôn, nếu trông ở người Nam ra Bắc thì không ăn thua, vì người Nam có ra đây, không phải là ra để làm việc công-nghệ buôn bán, mà chỉ ra đi học và làm ở các công-sở, số người đã ít mà chỉ ở những nơi thành-thị, thì sự gặp gỡ truyện trò với nhau, không rộng rãi và thường thường, thì không hiểu nhau được, cho nên phải trông ở người Bắc vào Nam, thì sự liên-lạc mới có hiệu-quả, vì dân ngoài Bắc vào trong Nam làm ăn, tản tác ra khắp từ kẻ chợ nhà quê, đồng bằng mặt nước, gặp gỡ anh em Nam-kỳ ta luôn, thật dễ lấy cái tình chủng tộc, nghĩa quốc dân mà hiểu biết nhau lắm Bởi thế nói di dân vào Nam-kỳ, lại có mục-đích liên-lạc Bắc Nam vậy.

Bấy nhiều điều quan-niệm, sự trông mong, khiến cho tác-giả, tuy sức óc còn non, tầm mắt chưa rộng, mà cũng mạnh bạo sốt sắng bàn về vấn-đề này. do ở một phần lịch-duyệt, một bầu nhiệt-huyết của mình, đem bày tỏ ra để cùng anh em đồng bào cùng bàn bạc; ý kiến hoặc có hẹp hòi, mà sơ-tâm thì thực là trịnh trọng lắm.

Sách chia ra làm hai phần. Một phần đầu thì nghiên-cứu cái thế-lực của các chú trong Nam-kỳ, là nơi « đệ nhị quốc-gia » của họ; xét từ lai-lịch cho đến nhân-số, tư-bản, thương-mại, công-nghệ, học-thuật cùng là mọi tính-cách hay, thủ-đoạn ác của họ vân vân, chưa dám nói là tường tế gì, nhưng cũng đủ những điều ngạnh-khái, để cho ta biết thực-lực của họ, là bọn công-địch của bọn dân ngoài này đi vào, biết đường mà để kháng họ, và mưu cuộc doanh nghiệp cho mình. Phần thứ hai trước chứng tỏ rằng việc di dân vào Nam-kỳ là nên, là lợi, sau thì xét xem việc này bấy lâu khó khăn ngăn trở vì đâu? Bây giờ phải tìm cách gì giải-quyết? Cùng là giới-thiệu để anh em ta ngoài này biết rằng vào trong ấy sẽ có nhiều nghề-nghiệp làm ăn, sẽ được an cư lạc nghiệp, tội gì loanh quanh ở chỗ đất chật hẹp của mình, mà ngồi chịu cái vạ đói rét rách rưới cho khổ thân, phương chi việc di dân đi, lợi cho cá-nhân, mà lợi cho cả xã-hội, không những tình-thế giục đi, mà nghĩa-vụ cũng bắt đi nữa.

Hai phần, tuy tựa như phân biệt, nhưng vẫn là hai cái tiếng thật có hộ ứng với nhau, vì tôi tin rằng: việc di dân vào Nam-kỳ là việc phải làm đã đành rồi, nhưng có biết cái thực lực của Hoa-kiều mà để-kháng họ, thì việc di dân ấy mới có lợi ích, cho nên cuốn sách tầm thường này, lấy tên là « Thế-lực khách-trú và vấn-đề di dân vào Nam-kỳ », là thủ nghĩa như thế vậy.

  1. Gốc: nó, gì được sửa thành nói gì: chi tiết
  2. Gốc: ta được sửa thành của ta: chi tiết