Bước tới nội dung

Tiếng gọi đàn/2

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tiếng gọi đàn của Dương Bá Trạc
Một bậc thượng lưu thực hoàn toàn xứng đáng ở xã hội Việt Nam ta bây giờ
MỘT BẬC THƯỢNG-LƯU THỰC HOÀN-TOÀN XỨNG ĐÁNG Ở XÃ-HỘI VIỆT-NAM TA BÂY GIỜ

Ở Hy-lạp có một pho tượng thần rất đẹp để làm biểu-hiệu một cái thân thể người ta đến được như thế thì thực là tuyệt phẩm hoàn-toàn. Ở xã-hội Việt-Nam ta bây giờ mà tưởng-tượng cho có được một bậc thượng-lưu thực là tuyệt phẩm hoàn-toàn, không biết có tay danh họa nào hay nhà điêu-khắc nào có thể vẽ ra cho ta thấy hẳn được cái chân-dung, nặn ra cho ta nhìn hẳn được cái bản-tướng của một bậc người như thế hay không? Nhưng cứ theo cái lòng mong mỏi, cái sự yêu-cầu của xã-hội ta bây giờ, dù ta không có thể vẽ hẳn được cái chân-dung, nặn hẳn được cái bản-tướng một bậc người như thế ra, ta cũng nên phác-họa cái tính-tình, cái phẩm cách, cái học thức, cái tài-lược, cái đảm-lực cho đến cả cái nết ăn ở, cái cách giao-tế của bậc người ấy ra thể nào để lấy đấy làm cái khuôn cái mẫu một bậc thượng-lưu thật là tuyệt-phẩm hoàn-toàn mà ta sùng-bái, ta khâm mộ, ta hương-hoa cầu nguyện cho trong quan-trường ta, trong học-giới ta, trong những nhà có vị-vọng, có thế-lực ở nước ta có nhiều người trông cái khuôn ấy mà dập cho in, ngắm cái mẫu ấy mà tô cho hệt, thì may ra trong cái giòng giống con Hồng cháu Lạc ta sẽ sản xuất được một bậc thượng-lưu xứng đáng, đưa đường chỉ nẻo cho lũ dân em đương ngong-ngóng như con không có cha, nhà không có nóc bây giờ, điều đó chính là một điều hi-vọng tối-thiết của quốc-dân ta ngày nay vậy.

Ta định phác họa một bậc thượng-lưu tuyệt-phẩm hoàn-toàn ở xã-hội Việt-Nam ta, trước hết ta phải xét cái bậc người ấy là bậc người thế nào ở trong xã-hội và một xã-hội như xã-hội Việt-Nam ta đối với bậc người ấy quan-hệ là thế nào đã. Từ xưa đến nay, nước nào cũng vậy, cũng có kẻ trí người ngu, kẻ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn, kẻ trên người dưới, cái phần kẻ trí, kẻ giàu, kẻ sang, kẻ trên vẫn ít, mà cái phần người ngu, người nghèo, người hèn, người dưới vẫn nhiều; dù là nước quân-chủ, nước lập-hiến hay là nước cộng-hòa đi nữa thì cái địa-vị xướng-xuat, dìu-dắt, khu-khiển trong cả một nước vẫn thuộc về một phần thiểu-số là những người có cái vị-vọng, cái thế-lực hơn người. Ngạn-ngữ tây có câu: Bậc anh-hùng là bậc ân-nhân của thế-giới. Sách nho cũng có câu: Người trên như gió, người dưới như cỏ; gió đi thì cỏ phải lướt theo. Hai câu đó đều để tỏ cái địa-vị một bậc thượng-lưu ở trong xã-hội quan-trọng là nhường nào vậy. Nói đến cái xã-hội Việt-Nam ta thì cái địạ-vị một bậc thượng-lưu lại càng quan-trọng hơn nữa. Nước ta đã mấy ngàn năm nay, cách tổ-chức trong xã-hội theo một cái chế-độ tộc-trưởng; ở trong nhà thì quyền quản-đốc thuộc về cha anh mà con em chỉ đứng vào cái địa-vị phục-tòng, ra tới xóm làng, đâu đấy cũng đều có cái trật-tự thượng hạ tôn ti rất là nghiêm-chỉnh; quyền chính giáo cả trong nước thì trên có một ngôi hoàng-đế, chịu mệnh trời mà thống suất muôn phương, giúp vua trị dân là các quan, quan đối với dân tức là thay má vua mà nắm cái toàn quyền phát hiệu thi lệnh. Cái chế-độ ấy đã gây nên một cái tập-quán rất thâm căn cố đế ở trong xã-hội, người ta lấy sự phục-tòng như là một sự tín-ngưỡng về tôn-giáo, coi những người trên mình, quân sư phụ là ba đấng chí tôn tuyệt đối rồi, không dám nói, mà cho đến những người gọi là có chút son phấn nhà vua, những người hoặc vì tuổi-tác đạo-mạo, hoặc vì danh-vọng ngôi thứ xấp-xỉ với bậc cha bậc thầy mình thì đều lấy làm quí-trọng, lấy làm kính sợ, từ một câu nói, một việc làm đều lấy đó làm tiêu-biểu mà không mấy người dám việt phận phạm-thượng bao giờ. Nay thử xét cái lịch-sử thịnh suy trị loạn của nước nhà trong khoảng hơn bốn ngàn năm, những lúc thịnh-trị mà dân được thái-bình sung-sướng, nước được mạnh-mẽ vẻ-vang tất là những lúc có vua thánh tôi hiền, trong nước nhiều vĩ-nhân kiệt-sĩ, những lúc suy loạn mà dân phải khốn khổ lầm-than, nước phải yếu-hèn sa-sút tất là những lúc có tôi gian vua ám, trong nước hiếm kẻ giỏi người hay; công cũng bậc thượng-lưu là thủ mà tội cũng bậc thượng-lưu là khôi. hạng dân thường bao giờ cũng vẫn là vô thưởng vô phạt. Lại thử xét đến từng làng, từng nhà thì cũng thấy cái hay cái dở của người trên trong một làng, một nhà có ảnh-hưởng cho cái làng ấy, cái nhà ấy rất to và rất mạnh; làng nào mà làm ăn thịnh vượng, phong tục thuần lương chẳng phải là cái làng ấy đã có được người đàn anh đứng đắn cần-mẫn đấy ư? còn những làng mà đàn anh đã vào hạng mục-nát thì đố làm thế nào cho cái làng ấy khỏi tai hại tan-hoang; nhà nào mà con thảo cháu hiền, thượng hòa hạ mục chẳng phải là cái nhà ấy đã có được người gia-trưởng mối-dường khuôn phép đấy ư? còn những nhà mà gia-trưởng đã vào ngữ loang-toàng thì đố làm thế nào cho cái nhà ấy khỏi lung-tung lộn bậy. Ấy cái địa-vị bậc thượng-lưu ở xã-hội Việt-Nam ta quan-trọng đến như thế; biết như thế thì sẽ cân nhắc được cái bậc người th nào là cái bậc người thật hoàn toàn xứng đáng làm bậc thượng-lưu ở cái xã-hội Việt-Nam ta vậy. Sau xin nói phác, họa một cái bậc người như thế.

Cái tính tình của bậc người ấy. — Như trước đã nói, bậc thượng lưu trong nước là một bậc người có cái trách-nhiệm xướng-đạo cho dân em mà dân-tộc ta là một dân-tộc sẵn cái tính-chất phục-tòng, hay dở nên hư lại càng phải trông cậy vào người trên lắm. Vậy đã gọi là một bậc thượng-lưu thật hoàn-toàn xứng đáng ở trong xã-hội Việt-Nam ta bây giờ tất là một bậc người có cái tính-tình, cái phẩm-cách đủ làm mô-phạm cho quốc-dân để kiểu-chính cái tính-tình thiển bạc, nâng cao cái phẩm-cách ti-liệt của quốc-dân ta ngày nay, lại có cái học-thức, cái tài-lược thích dụng với mọi công việc cần kíp trong xã-hội ta ngày nay để đứng ra mà gây dựng cho dân em những sự-nghiệp lớn-lao về đường công-ích, sau nữa có cái đảm-lực kiên định để giữ vẹn được cái tính-tình, cái phẩm-cách ấy mà không bị cái khí tập trong xã-hội nó chuyển đi được mình và thi-thố được cái học thức cái tài-lược ấy mà không chịu cái trở-lực trong xã-hội nó tỏa-chiết được mình, nói tóm lại tức là một cái gương trong trẻo vô tì, một cái trụ vững vàng bất bạt cho một cái nhà đương mù-mịt ở trong vòng hắc-ám, một cái đê đương lung-lay ở giữa ngọn cuồng-lan là cái xã-hội Việt-Nam ta ngày nay vậy.

Trước hãy xin nói về cái tính-tình của bậc người ấy. Cái tính-tình hiếu-thượng của người trên thường thường gây nên cái phong-tục tốt xấu của một dân một nước. Những cái phong-tục xấu của xã-hội ta bây giờ cần phải kiểu-chính lại là những cái gì? 1º chẳng là cái phong-tục bạc ác, cách ăn ở của người ta ân-tình chểnh-mảng mà đạo nghị nhạt-phèo cả rồi ư? Nay cái người đứng ra mà kiểu-chính cái phong-tục ấy cho thì tất là cái người có tính-tình trung-hậu lắm mới được; làm cha thì từ, làm con thì hiếu, làm em thì thuận, làm anh thì nhường, trong bày-bạn thì không ra tuồng phúc vũ phiên vân, trong vợ chồng thì không ra giọng lòng chim dạ cá, tự mình có cái tính-tình trung-hậu như thế thì mới khỏi làm đầu têu cho những kẻ vong ơn bội nghĩa đổi trắng thay đen. 2º Chẳng là cái phong-tục xa-xỉ, cách sài phí của người ta chơi-bời phung-phá mà ăn mặc hoa-hoét đến đâu đấy ư? Nay cái người đứng ra mà kiểu-chính cái phong-tục ấy thì tất là cái người có tình-tình nhã đạm lắm mới được, ăn vừa đủ no, mặc vừa đủ ấm, nhà cửa quí hồ chỉnh khiết, đồ đạc qúi hồ nhã quan, không nô-nức những xe ngựa lâu đài, không đua đòi những ngọc ngà gấm vóc, tự mình có cái tính-tình nhã đạm như thế thì mới khỏi vẽ đường chạy cho những kẻ ăn liều tiêu càn, vung tay quá trán. 3• Chẳng là cái thói khu-khu ích-kỷ, dành dật nhau để tự-tư tự-lợi mà không có cái công tâm thành thực chút nào cả ư? Nay cái người đứng ra mà kiểu-chính cái phong-tục ấy cho thì tất là cái người có tính cấp công hiếu nghĩa lắm mới được; coi công-ích trọng hơn tư-lợi mà không hề có cái mưu mẹo giả công tế tư, coi công-lý trọng hơn tư-tình mà không hề có cái cử-động vị-tình tạo lý, đem cái bụng nhiệt-thành ưu ái để gọi cái hồn mê mộng của những kẻ đồ lợi doanh tư. 4• Chẳng là cái tính sùng thượng hư vinh, chen chúc nhau để kiếm tiếng kiếm miếng mà không biết cái danh-dự chân chính là cái gì ư? Nay cái người đứng ra mà kiểu chính cái phong-tục ấy cho thì tất là cái người có tính cao-khiết điềm-tĩnh lắm mới được; lấy anh-hùng hào-kiệt tự hứa mình mà phú-quí công-danh chi thèm kể tới, lấy nhân nghĩa trung-tín làm thiên-tước mà muôn chung ngàn tứ coi thoảng như không, đem cái lòng tuyết trắng giá trong để chữa cái bệnh điên cuồng của những kẻ kiếm danh chác phận. 5• Chẳng là cái thói hư-ngụy cẩu-thả, trăm nghề trăm nghiệp trong xã-hội không một cái gì là chịu gia công cố sức làm cho tinh tiến hơn người ư? Nay cái người đứng ra mà kiểu-chính cái thói ấy cho thì tất là cái người có tính đôn-đốc cẩn-trọng lắm mới được; bất kỳ là làm việc gì cũng làm cho thật chu chí kỹ lưỡng, không lấy năm ba năm thiệp-liệp mà gọi là học, không lấy một vài câu chắp-chảnh mà gọi là văn, không phải cày ruộng cuốc bờ, làm ăn quệch quạc mà đã gọi là nông, không phải mua lừa bán lọc, kiếm chác lần hồi mà đã gọi là thương, người đôn-đốc cẩn trọng không hề bao giờ có cái thói hư-ngụy cẩu-thả như thế. 6• Chẳng là cái thói dối giá lật lọng, thông công dịch sự trong xã-hội không có mấy người là chịu ăn ngay nói thật, có thể tin cậy được nhau ư? Nay cái người đứng ra mà kiểu-chính cái thói ấy cho thì tất là cái người có tính trung tín thành thực lắm mới được; bất kỳ là giao-tế với ai cũng giữ cho thủy chung trọn vẹn, không lấy lời ngon ngọt mà làm mồi dử người, không dùng kế điên đảo mà đặt cạm bẫy người, không nói với ai một câu sai lời, không xử với ai một việc bội tín, người trung tín thành thực không hề bao giờ có cái thói dối giá lật-lọng như thế. Cái tính tình hiếu thượng của người trên mà tốt thì khó gì mà chẳng gây nên được cái phong-tục tốt cho xã-hội ta, gây nên được cái phong-tục tốt cho xả-hội ta thì còn ai bảo không phải là một bậc thượng lưu hoàn toàn xứng đáng.

Cái phẩm-cách của bậc người ấy. — Thứ xin nói về cái phẩm-cách của bậc người ấy. Cũng cùng là một dân-tộc trong loài người mà có dân-tộc thì đi đến đâu cũng được sang trọng vẻ-vang, có dân-tộc thì đi đến đâu cũng bị khinh-khi bỉ nhục, cũng cùng là một nước trong thế-giới mà có nước thì oai danh lừng trên đại-địa, có nước thì suy đớn đủ cả mọi bề, là bởi sao? bởi hơn kém nhau về cái phẩm-cách của quốc-dân vậy. Người ta thường nói: hễ chỗ nào có đến ba người Anh ở thì chỗ ấy nghiễm-nhiên là một Anh đại-đế-quốc thứ hai, là vì cái phẩm-cách người Anh ở đâu cũng không mất là một dân đại-đế-quốc vậy. Người ta lại thuật chuyện ở một cái công-viên trong tô-giới Anh tại Thượng-hải có một hồi thấy mấy chữ niêm yết ngoài cửa rằng: Chó với người Tàu không được thiện-tiện vào, là vì cái phẩm-cách người Tàu không được kể vào đồng đẳng với người các nước khác vậy. Mà cái phẩm-cách của quốc-dân hoặc tôn quí, hoặc hèn kém như thế phần nhiều cũng tự bậc thượng-lưu trong nước hun đúc mà nên.

Phẩm-cách là cái gì? là cái mà người ta sở-dĩ đặc biệt với loài vật mà siêu-việt hơn loài vật vậy. Người ta cũng là một giống vật, cũng có cái dục tính hạ-đẳng như loài vật, cũng theo cách sinh-hoạt về nhục-thể như loài vật, nhưng ngoài cái vật tính ấy, người ta nhờ được đã bước lên tới cái bậc thang đầu trong cái thang muôn vật, có cái tư-chất bẩm thụ của trời đất được khôn hơn muôn vật nhiều, nên lại có cái tính tự-tôn tự-do là những cái tình-cảm cao-thượng hơn mà khác hẳn với cái dục-tình hạ đẳng của loài vật, là những cách sinh-hoạt về tinh-thần mà khác hẳn với cái cách sinh-hoạt về nhục-thể của loài vật. Các nhà luân-lý-học nói: trong người ta có hẳn hai con người khác nhau: một con người bằng nhục-thể, một con người bằng tinh-thần; cái phần bằng nhục-thể thì người ta cũng cùng với muôn vật, nhưng cái phần bằng tinh-thần thì người ta đặc biệt với muôn vật mà siêu việt cả muôn vật. Hai con người nó như hai đám giặc đối lũy ở trong một cái thân người ta, tranh nhau từng bước, lấn nhau từng thước mà bên nào cũng dành lấy cái phần thắng lợi về bên mình; phần thắng lợi mà về bên cái con người bằng nhục-thể thì người ta lại lui trở lại cái vật-tính gần hơn, phần thắng lợi mà về bên cái con người bằng tinh-thần thì người ta mới vượt ra khỏi cái vật-tính được xa hơn; ấy cái phẩm-cách người ta tôn quí hay hèn kém là ở đấy.

Nay ta thử lấy cái định-lệ đó làm cái cân thăng bằng mà nhắc xem cái phẩm-cách quốc-dân ta là tôn-trọng hay là hèn kém thì ta đành phải thú thật rằng cái phẩm-cách quốc-dân ta quả chưa mong gì tôn-trọng được như người Anh mà có dễ hèn kém lại có phần tệ hơn người Tàu nữa. Khắp trong xã-hội chỉ quay cuồng xuẩn động về những cái quyền-lợi nhỏ mọn, danh-vọng hão huyền, cái mục-đích tuyệt đối làm người chỉ có làm thế nào cho ăn được nhiều của ngon, mặc được nhiều của tốt, cho có lâu-đài xe ngựa, có bạc vạn tiền nghìn, gian-dối lật-lọng cũng không từ, luồn cúi nhục nhằn cũng không quản, thậm đến bại lý thương luân, lừa thầy phản bạn cũng không kiêng. Ôi! ruột gan ai chẳng là người, ai là có tính người mà làm những chuyện như thế lại chẳng thấy trong tình cảm có khắc khoái bùi-ngùi, trong tinh-thần có ê-chề cắn-rứt, bực-bội về cái tự-do của lương-tâm mình phải đè phải nén, tủi hổ về cái tự-tôn của nhân-cách mình phải dập phải vùi mà nỡ đem lòng cúi mặt, đành để cho cái dục-tình hạ-đẳng nó sai khiến được mình, mưu lấy cái phần về nhục-thể cực-kỳ sung-sướng phủ-phê mà chịu cái phần về tinh-thần cực-kỳ xấu-xa nhơ-nhuốc; như thế thì còn có chút gì là cái phẩm-cách con người nữa hay không?

Hun đúc nên một cái dân-tộc phẩm-cách hèn kém như thế không khỏi có trách-cữu tự bậc thượng-lưu; vậy thì cái bậc thượng-lưu đứng ra làm tiêu-biểu cho một dân-tộc có cái phẩm-cách tôn-quí sau này tất là tự mình có cái phẩm-cách tôn-quí lắm trước đã. Người có phẩm-cách tôn-quí là người biết tự-tôn, là biết giữ cái danh-dự chân-chính của mình, tự mình tiến đức tu nghiệp cho có một cái bão-phụ khác thường, biết cái đó là cái hoa thơm, cái của báu riêng của mình, không mượn tước vị mới là vinh, không mượn tiền của mới là sang, không mượn quyền-thế mới là trọng, cái bão-phụ của mình gặp cái cảnh phú quí cũng không làm cho đắm đuối, gập cái cảnh nghèo hèn cũng không làm cho di-dịch được, mà dù gặp cái sức oai vũ cũng không làm cho tỏa khuất được, như thế là tự-tôn. Người có phẩm-cách tôn quí là người không mất tự-do, là tự mình làm chủ được cái ý chí của mình, tự mình giữ khỏi tội lỗi mà không để ai tra trị được mình, tự mình làm trọn chức-vụ mà không phải ai kiểm đốc đến mình, trong không để cao cái dục-tình phóng-túng nó khu-khiển được mình, ngoài không để cho cái hoàn-cảnh xấu-xa nó cám dỗ được mình, cái sự nghiệp tự mình lấy làm đáng quí thì mới quí mà không ai thưởng phạt dữ đoạt được mình, cái việc phải tự mình lấy làm nên làm thì cứ làm mà không kể thành bại đắc thất tới mình, như thế là không mất tự-do. Biết tự tôn, không mất tự-do thì là cái phẩm-cách con người hoàn-toàn vậy. Lấy cái phẩm-cách tôn-quí như thế mà làm tiểu-biểu cho người trong nước thì cái phẩm-cách quốc-dân thế nào lại chẳng nhờ sự quan-cảm đó mà có tăng tiến lên được ít nhiều dư?

Cái tài lược của bậc người ấy. — Thứ nữa xin nói về cái tài lược của bậc người ấy. Tài lược là gì? là cái lưng vốn thứ nhất của người ta để mà làm nên công việc; người nào làm công việc gì thì tất phải có cái tài lược đủ ứng phó về công việc ấy: như người làm việc buôn thì phải có cái tài lược về việc buôn là hiểu thị-tình, tường vật-giá, biết mối mua mối bán, vận-tải thế nào cho mau chóng, cổ-động thế nào cho chạy hàng; lại như người làm việc binh thì phải có cái tài lược về việc binh là tinh thao lược, thuộc trận-đồ, biết đường lên đường lui, khí giới làm sao cho tinh-minh, hàng ngũ làm sao cho chỉnh-túc; cho đến trăm công ngàn việc, tay cờ đã đến mình phải phất thì cũng đều phải có cái thủ-đoạn, cái phương pháp vừa với cái công việc mình làm đó thì mới mong ứng phó đợưc-khỏi luống-cuống hồ-đồ. Nay gọi là bậc thượng-lưu trong xã-hội thì cái công việc về phần mình phải ra tay gánh vác chẳng là cái công việc giúp nước cứu dân dư? Đã nhận lấy cái công việc như thế thì cái lưng vốn thứ nhất phải dự bị là cái gì? Chắc cũng phải có cái tài lược tương-đương thế nào mới được. Cái công việc phải làm là cái công việc giúp nước cứu dân thì cái tài lược để mà làm nên công việc ấy, tất phải là cái tài lược có thể thi-thố ra mà cứu dân giúp nước, cho nên cái tài lược của một bậc thượng-lưu trong xã-hội quyết không phải cái tài lược luồn lọt bôn xu giỏi, vận-động mánh-khóe khôn, mà cũng không phải cái tài lược trí-trá đảo điên, cơ quyền lật lọng. Ta thường nghe bây giờ thiên-hạ kháo nhau những là ông nọ tài lấy tiền, ông kia tài giao-thiệp; những cái tài ấy hoặc giả về phần riêng một thân, một nhà của các ông thì có lẽ có ích cho cái hi-vọng ăn sung mặc sướng, tử ấm thê vinh thật, nhưng chắc là không ích gì cho dân, cho nước được mảy-may nào, thì không kể là cái tài lược của một bậc người có cái nhiệm-vụ cứu dân giúp nước được.

Cái tài lược có thể thi thố ra mà cứu dân giúp nước là cái tài lược như thế này: thông hiểu cái tình thế trong nước mình, am thuộc cái lợi bệnh trong dân mình mà dự bị cho có đủ cái phương thuật để cách tân chấn-loát cho nớưc mình, hưng lợi trừ tệ cho dân mình. Cái tình thế nước mình bây giờ, trên có chính phủ bảo-hộ nhân cái chức trách khai-hóa cho nước ta mà vì sự giao-thiệp với người mình còn nhiều điều trở cách, tình ý có chỗ không thông, không khỏi có cái hi-vọng tối thiết của người mình mà chính-phủ không sao thấu hết được; mình là người giới-thiệu cho nhân-dân với chính-phủ, phải dùng những phương thuật gì khiến cho cái dân-ý chân-chính của mình lọt vào được tai mắt chính-phủ mà giúp sức chính-phủ về những sự kiến-thiết có thực ích thực lợi cho dân mình; dưới quốc dân mình thì chưa có đủ cái năng-lực tự động mà mưu toan một cái sự-nghiệp công-cộng gì, dù là lương-pháp mỹ-ý thế nào, mà cứ cái tích lập hư ngụy cẩu thả của người mình thì không khéo cũng thành ra bánh vẽ cả; mình là hạng đầu-mục của nhân dân, phải tự lượng cái tài lược của mình đối với các sự nghiệp công cộng trong xã hội thích hợp về một việc gì thì tự mình đề xướng lên mà rồi lại chính mình phải săn sóc vào, phải giám đốc luôn, đem mình làm một người đốc công cho cái công xưởng chế tạo nên cái sự nghiệp ấy, đặt mình làm một bộ thần kinh cho cái cơ quan vận động ra cái sự-nghiệp ấy, cho được xứng đáng làm một bậc người giới thiệu của chính phủ, đầu mục của nhân dân, mà giúp nên được những việc kiến thiết có thực ích thực lợi cho dân, gây hành được một cái sự nghiệp công cộng cho xã hội, tức là cái tài lược của một bậc thượng-lưu vậy.

Nếu trong xã hội Việt-Nam ta bây giờ mà có được một bậc thượng-lưu có cái tài lược như thế thì những việc kiến thiết của chính-phủ, việc gì là việc chẳng có thành hiệu, mà những sự nghiệp công cộng trong xã-hội có đâu đến nỗi mười cái thất bại đến chín rưỡi, cái thì hữu thủy vô chung, cái thì hữu danh vô thực, mà có người phải than vãn ngần ngại về nỗi công ích trở thành công hại dư.

Cái học-thức của bậc người ấy. — Thứ nữa xin nói về cái học thức của bậc người ấy. Ở nước nào cũng vậy, đời nào cũng vậy, đã nghiễm-nhiên tự mệnh là thượng-lưu nhân-vật trong xã-hội thì không có lẽ lại đến nỗi xem một tờ báo không chạy, viết một cái thư không thông, bài diễn-thuyết còn phải mượn người tá tài, tờ tuyên-bố còn phải mượn người đại bút, hay tệ nữa lại đến nỗi biên một cái danh thiếp mà chữ này cũng lầm ra chữ khác, nói một câu chuyện thường mà tiếng nọ cũng trọ ra tiếng kia, trừ ra có một cái xã-hội nào ở vào cái thời buổi nhóa-nhem lộn-xộn quá, vàng thau hỗn-độn, đen trắng đảo điên thì không đời nào, nước nào lại có cái bậc thượng-lưu « cà mèn » như thế; gọi là thượng-lưu trong một xã-hội thì tất là người có học rộng biết nhiều, có trí-thức kinh-nghiệm hơn người thường cả; nhưng đã là bậc thượng-lưu thì cái chức-vụ trọng nhất, cái công-nghiệp quí nhất chẳng là cái chức-vụ, cái công-nghiệp cứu vớt cho nước nhà khỏi suy-lạc, giúp đỡ cho nòi giống được vẻ-vang ru? mà làm được cái chức vụ ấy, không phải lấy cái học-thức từ đời cổ sơ mà ứng dụng về thời nay được, cũng không phải chỉ lấy cái học-thức của người nước khác mà thi-thố ra nước mình được, tất phải là cái học-thức một người Việt-Nam lõi, nghĩa là cái học-thức chỉ đặc biệt của một người Việt-Nam gốc, thừa thụ được của tổ tiên đầm thấm được của xã-hội, tiếp xúc được của thời thế, hun xông được của hoàn-cảnh ở một cái nước cổ trong cái thế giới giao thông, ngày mới tháng lạ vào cái thế-kỷ thứ hai mươi này thì mới là cái học-thức ứng dụng được với thời nay, thi-thố được ra nước mình mà mong có thể cứu nước giúp nòi được vậy.

Nay thử xét cái tình cảnh riêng của xã-hội Việt-Nam ta đương cái thời-đại này thế nào? Từ cái phong trào duy tân ở Âu-châu tràn sang-khắp cả cái đại-lục Đông-á, nước ta cũng không khỏi cuốn vào trong cái phong trào ấy mà hết thảy mọi sự mọi vật, cái gì cũng là cái mới cái lạ ở tai mắt mình hết, mà cái mới cái lạ ấy lại là cái tốt đẹp trọn vẹn khiến cho tai ta nghe, mắt ta thấy mà thần-hồn ta phải mê mải, ý tưởng ta phải thèm thuồng; vả cái đại vũ-đài thế-giới đã mở màn ra mà thành hẳn một chỗ chen vai thích cánh chung cả các giống người, cái mới cái lạ ấy thành hẳn là cái dụng-cụ cần thiết cho các quốc-gia sinh-tồn, các dân tộc tiến-hóa, muốn sinh-tồn, muốn tiến-hóa không thể xu-hướng về cái mới cái lạ ấy mà cùng người góp một vai trên sân khấu, múa may về đường chính-trị, về, đường kinh-tế, về đường văn-hóa cho đến trăm nghề trăm nghiệp trên thế-gian; song, đứng trên một cái đại vũ-đài họp mặt cả năm châu sáu giống đó, quốc-gia nào, dân-tộc nào cũng lại có một cái, quốc-túy riêng một cái quốc-hồn riêng của quốc-gia ấy, dân-tộc ấy; ta đối với người, ta là một nước cổ đã mấy ngàn năm có cái lịch-sử thịnh suy đắc thất, cái tiếng xa văng-vẳng của tổ-tiên mấy mươi trăm đời, đời nọ kế tiếp đến đời kia, truyền phán lẫn cho nhau, có học-thuật, có tôn-giáo, có đạo-đức, có phong-tục, có văn-chương, có pháp-luật, có chế độ tổ-chức thành một cái xã-hội không phải là không thâm căn cố đế rồi; bây giờ phải ra cùng người góp một vai trên sân khấu, phải làm sao theo cách sinh-hoạt mới lạ được như người, nhưng lại phải làm sao biểu lộ được cái quốc-túy, phát-dương được cái quốc-hồn riêng của mình cũng như các quốc-gia, các dân-tộc khác mà quốc-túy của người ta rực rỡ, quốc-hồn của người ta tươi tỉnh là nhường nào

Ấy cái tình cảnh riêng của xã-hội Việt-Nam ta đương cái thời-đại này như thế, thiết tưởng có một cái học-thức như các cụ lương-tướng danh-thần ta đời trước vị tất đã ứng dụng được với đời nay; cụ Tô-hiến-Thành giúp được cái cơ-nghiệp thịnh cường về đời Lý, cụ Nguyễn-Trãi dựng được cái kỳ-công khai quốc về đời Lê mà không hẳn về đời nay đã làm nên sự-nghiệp gì được; không những thế, dù có một cái học-thức như các bậc đại triết-học, đại khoa-học đại văn-học ở các nước khác cũng vị tất đã thi-thố ra được ở nước mình; giả thiết có một nhà chính-trị đại tài nào ở nước Mỹ, một nhà văn-học trứ danh nào ở nước Nhật, một nhà đại kinh-tế nào ở nước Ý, một nhà đại khoa-học nào ở nước Anh, mấy người đó dịch địa mà đứng vào cái chân lĩnh-tụ của quốc-dân ta, cái tính-tình phong-tục của người mình không am thuộc, cái giường mối chế-độ của nước mình, không tinh-tường, giao tiếp các nhân đẳng không đắc tình, xử-trí mọi công việc không đắc pháp thì phỏng có thi-thố gì mà cứu cho nước nhà mình giúp cho nòi giống mình được không? Một bậc thượng-lưu mà có cái học-thức đủ để mà cứu-vớt cho nước nhà khỏi suy-lạc, giúp đỡ cho nòi giống được vẻ vang, thì chắc là phải có học-thức mới của Thái-tây bây giờ là cái học-thức làm được giầu dân mạnh nước, thâu-thái được cái phần tốt đẹp trọn vẹn của cái văn-minh Âu-châu mà tu-bổ những điều khiếm-khuyết, chỉnh đốn những điều tệ-lậu của nước mình cũ, nhưng lại phải có đủ những điều khôn biết từng trải về xã-hội mình, có nghiên-cứu thâm-thúy về cái văn-minh cũ của mình, vì những cái ấy chính là cái quốc-hồn, cái quốc-túy riêng của mình, có còn biểu-lộ được cái quốc-túy ấy, phát-dương được cái quốc-hồn ấy với đời thì nòi giống mình mới thật vẻ-vang, nước nhà mình mới khỏi suy-lạc vậy. Không có cái học-thức mới của Thái-tây bây giờ thì là cái học-thức của một bậc thượng-lưu nào đâu tự đời Đinh đời Lý mà không phải là cái học-thức của bậc thượng-lưu bây giờ. Không có cái học-thức về xã-hội mình, về cái văn-minh cũ của mình thì là một bậc thượng-lưu nào ở đâu nước Tây nước Tầu mà không phải là cái học-thức của bậc thượng-lưu nước mình vậy.

Cái đảm-lực của bậc người ấy. — Thứ nữa xin nói về cái đảm-lực của bậc người ấy. Cổ-nhân đã có câu: Thành sự tại đảm. Phàm người ta bất kỳ làm một cái sự-nghiệp gì, muốn cho cái sự-nghiệp ấy thành lập được hẳn hoi, không đến nỗi giữa quãng tháo lui, hay chung qui thất bại thì cái bả-ác tối yếu là cái đảm-lực của mình; vì việc thiên-hạ không có việc gì là không trở-lực; cảnh-ngộ có chỗ thuận cũng có chỗ nghịch; thời vận có lúc hanh cũng có lúc truân; người cục-ngoại có kẻ lạc biểu đồng tình cũng có kẻ gia công phản đối; người đứng chủ-trương công việc phải đối phó với hết thảy cái cảnh-ngộ ấy, thuận ứng với hết thảy cái thời vận ấy, bài trừ được hết thảy những phe phản đối mà cấu kết được hết thảy những bạn đồng tình, khác nào như một ông tướng cầm quân, tả xung hữu đột, đông sanh tây trì, hơi một chút hồ đồ thì quân phải đổ lập tức, lại khác nào như chiếc thuyền biển, tay lái tay buồm, vừa sóng vừa gió, hơi một chút bối-rối thì thuyền phải đắm theo ngay; giữ làm sao cho khỏi bối-rối, khỏi hồ-đồ là nhờ về cái đảm-lực cả; cái sự-nghiệp càng to rộng chừng nào thì thành-tựu càng lâu, kinh doanh càng khó, cái cảnh-ngộ thuận, cái thời vận hanh càng ít, mà cái cảnh-ngộ nghịch, cái thời-vận truân càng nhiều, kẻ đồng tình thì kiếm mãi chẳng ra mà kẻ phản đối thì xua đi không hết, càng cần phải có cái đảm-lực kiên định lắm mới mong chót lọt được cả mọi cái mà thu được cái phần thắng lợi cuối cùng. Ấy cái đảm-lực có quan-hệ với sự-nghiệp người ta như thế.

Nay đã gọi là một bậc thượng-lưu trong xã-hội thì tất phải vì xã-hội mà gánh vác các cái sự-nghiệp chung, nghĩa là phàm những sự-nghiệp riêng từng người từng nhà không thể gây dựng được nên mà gây dựng được nên thì có cái thực ích thực lợi công-cộng cho cả toàn-quốc, cho cả đồng-bào vậy. Cái sự-nghiệp như thế có phải là nhỏ nhen gì, có phải khinh dị coi thường được ư? có phải lấy cái đảm-lực nhỏ như chuột, nhát như cáy mà cán-đáng nổi được ư? nhất là làm một bậc thượng-lưu ở trong xã-hội Việt-Nam ta bây giờ thì cái sự-nghiệp phải gánh vác lại càng nặng nề lắm; xã-hội ta đương cái thời buổi bán khai, trăm công nghìn việc còn đương lộn-xộn dở-dang, bao nhiêu những sự-nghiệp công-cộng có thực ích thực lợi cho tổ-quốc, cho giống nòi, cái thì có xác không hồn, cái thì có đi không tới, cái thì thủy thành mà chung tệ, cái thi hành thị mà thực phi, chưa có cái gì mà thấy được mảy-may gọi là kết quả cả; người thì hiếm của thì kiệm; kẻ cộng sự thì phi giả công doanh tư lại hư-ngụy cẩu-thả; kẻ bàng-quan thì phi đặt điều kiếm chuyện lại độc ngấm hại ngầm; trên đối với chính-phủ Bảo-hộ thì tình ý khó thông, u-ẩn khó đạt; dưới đối với lũ dân ngu hèn thì sinh-kế chưa đủ, trí-thức chưa thông; cái cảnh-ngộ thật chỉ có nghịch mà ít có thuận; cái thời-vận thật chỉ truân-kiển mà ít có hanh thông; bài trừ được cái sức phản đối mà câu-kết được cái lực đồng tình thật không dễ; như thế mà đứng ra cán-đáng một cái công việc gì cho có thành tựu, cho giúp được công-nghiệp khai hóa của chính-phủ Bảo-hộ, tỏa được cái nguyện-vọng cận trị của quốc-dân, mà không bị những cái trở-lực nó làm hư hỏng đi, cần phải có cái đảm-lực kiên định biết là nhường nào!

Thật là một bậc thượng-lưu ở trong xã-hội Việt-Nam ta bây giờ thì tất là có cái đảm-lực hơn người lắm, không vì phú quí mà sao nhãng cái chí-nghiệp của mình, không vì bần tiện mà thay đổi cái thao-thủ của mình, không để cho cái mùi ngon ngọt của danh lợi nó cám dỗ được mình, không để cho cái giây tróc phọc của vợ con nó cầm giữ được mình, cả nước đều lấy thế làm vinh mà mình không chuyển bụng, cả đời đều cho thế là dại mà mình không sờn lòng, thủy chung cứ theo đuổi một cái sự-nghiệp cao-thượng mà mình đã vì xã-hội mình gách vác làm việc cơm bữa của mình, ngoài cái thời giờ kiếm cho có ăn, ăn cho lấy sống, vừa đủ được không đói không rét, qua tháng qua ngày, còn bao nhiêu khí-lực, bao nhiêu tinh thần, nhất quyết là hi-sinh về việc đó cả, cho đến thân gia có lúc có thể cát xả được, nguy hiểm có lúc có thể xông pha được, mà cái mục-đích tuyệt đối của cả một đời mình là cái sự-nghiệp cao-thượng, mình đã vì xã-hội mình gánh vác kia không khi nào chịu thay phương đổi hướng; cái đảm-lực như thế mới là cái đảm-lực kiên-định thay!

Dưỡng thành cái đảm-lực ấy thì trước hết phải lập chí cho cao, trì chí cho vững, nhận định cái sự-nghiệp cao-thượng mà mình đã vì xã-hội mình gánh vác là cái danh dự, cái quyền lợi độc-nhất-vô-nhị của mình, không chức tước quyền vị nào sánh được ngang, không tiền bạc của cải nào cân được bằng, không sung-sướng vui thú nào đổi được đáng, lại phải thanh tâm quả dục, xa những vật thanh sắc ngoạn hảo, tập những nết thực bần cư tiện, không quản ngại những sự mạo hiểm li nguy. Cổ nhân đã có câu: hễ nuốt được rễ cỏ trôi thì làm gì cũng nổi; ta cũng xin nối lời câu ấy mà nói thêm rằng: hễ mặc áo vải mà không màng tới gấm vóc đoạn sa, đi cuốc xe đạp mà không màng tới ô-tô song mã, ngồi rù đọc quyển sách mà không màng tới ca-quán tửu-lâu thì mới giữ được cái đảm-lực kiên định hơn người mà làm nên sự-nghiệp trên người là cái sự-nghiệp một bậc thượng-lưu ở trong xã-hội Việt-Nam ta bây giờ vậy.

Cái cách cư-xử giao-tế của bậc người ấy. — Thứ nữa xin nói về cái cách cư-xử giao-tế của bậc người ấy. Cái này tự-hồ không lấy gì làm quan-hệ đến sự-nghiệp của người ta cho lắm, nhưng đối với những người ở sơn lâm ẩn độn, riêng một mình một trời đất, không can dự gì tới việc nước việc đời thì cách cư-xử giao-tế với người ngoài còn có thể hốt lược được, chứ đã gọi là một bậc thượng-lưu trong xã-hội thì không có lẽ để mình ra ngoài xã-hội được, thế nào cũng phải có can dự vào việc nước việc đời, thì không có lẽ lấy cái sức một tay một chân mình mà làm nổi cái công việc phải gánh vác cho đời, cho nước; thánh như ông Châu-công mà đương bữa ăn cơm và đương khi gội đầu phải nhiều lần dừng giậy để tiếp đãi nhân-sĩ bốn phương; anh-hùng như ông Hoa-thịnh-Đốn mà ở trong hàng trận không quản cùng cam khổ với ba quân; dũng-lược như vua Nã-phá-Luân mà đi trong quân kẻ khó nhọc thì thưởng, kẻ tật bệnh thì thăm, không hề ở mất lòng một tên hạ-tốt; nói ngay như các cụ ta đời trước như đức Trần-Hưng-đạo cũng nhờ khéo thu dưỡng được các tay kiêu-kiện như lũ ông Phạm-ngũ-Lão, ông Yết-Kiêu, ông Giã-Tượng, mà lập được cái vĩ-nghiệp bình Nguyên, vua Lê Thái-tổ cũng nhờ được biết chiêu-nạp những nhà hào-kiệt, có người cảm kích đến liều thân mà cứu chúa, có người mến phục đến lặn-lội mà theo phò, mà nên được cái kỳ-công kiến-quốc; trải xem hành trạng của các bực thượng-lưu từ xưa đến nay, không luận ở xứ nào, cũng điều có cái thái-độ khiêm cung, cái nết na hòa dị, cái ý khí hào mại hơn người cả. Tiên thánh đã có dạy; Người mà đã đến kiêu và lận thì dù có tài tốt đến đâu cũng chẳng ra gì. Cái cách cư-xử giao-tế ở đời thiết kỵ nhất là kiêu và lận; không kiêu không lận thì mới thu-phục cố-kết được lòng người, có thu phục cố-kết được lòng người thì mới có kẻ chung cùng giúp đỡ với mình mà làm nên việc này việc khác; người thường mà có chứng kiêu lận cũng đến mất chúng mất bạn mà đường làm ăn thành ra eo hẹp, lúc hoãn cấp không ai phù-trì, huống chi là một bậc thượng-lưu, những công việc mà mình phải lo gánh vác cho xã-hội trọng đại là nhường nào! phiền kịch là nhường nào! dù lấy cái tài lực của một mình mình tinh minh cần cán đến đâu cũng không sao khỏi nhờ tới tả phù hữu bật, tung có người hứng, gọi có người thưa, thì những cái công việc trọng-đại phiền-kịch mà mình định ra tay gánh vác cho xã-hội kia mới không sợ tài bạc sức cô mà đến nỗi bán đồ chung chỉ; có lắm người tài cao học rộng, cũng có cái bão-phụ phi thường mà cả đời lắng-đắng chẳng thi-thố ra được việc gì, cái chí nghiệp cứu dân cứu nước rút lại là chỉ được mấy tiếng ô-hô, ngồi mà nhiếc cả nước không ai biết gì, hay lại than thở oán hờn về nỗi một đời là thù địch với mình tất, có biết đâu rằng dụng nhân như dụng mộc, một mẩu một tấc mà không phải không đem vào được cho việc đống-lương, tự mình đã có cái thói ngoay-ngảy cự người, kẻ dũng không muốn vì mình xuất lực, kẻ trí không muốn vì mình xuất mưu, còn xét được ai là kẻ nên người hư, kẻ hơn người kém, mình không thu phục cố-kết được người mà để cho người với mình phải chia đường rẽ nẻo, lúc ngày tối dặm trường, thơ thẩn có một mình một bóng, còn trách ai ngang trái không cùng ta bầu-bạn cho vui. Ấy điều bởi cái cách cư-xử giao-tế của mình không khéo cả.

Người cư-xử giao-tế khéo thì đối với kẻ hơn mình, mình trọng làm huynh-trưởng, đối với kẻ bằng mình, mình dẫn làm tâm-phúc, đối với kẻ kém mình, mình mượn làm chân tay, cho đến kẻ thù-địch cùng mình cũng lấy cái lòng công-chính, cái lượng khoan hồng mà dìu dắt dần dần cũng có khi trở nên người bạn tốt được. Đức Khổng-tử có dạy: Quý người hay mà thương kẻ chẳng tài. Đức Gia-tô cũng dạy: yêu kẻ thù-địch cũng như bạn mình. Đã là người có trách-nhiệm với nước với đời mà muốn cho công việc được trót lọt hẳn hoi, hoàn-toàn được cái trách-nhiệm lớn lao ấy thì hai câu cách-ngôn của tiên thánh thật là cái phương-châm xử thế có một không hai; vì làm việc lớn gốc ở nhân-tâm, mình cư xử giao-tế mà đã đến thất nhân-tâm thì không phải là người biết làm việc nhớn nữa, không biết làm việc lớn thì còn vác mặt là một bực thượng-lưu trong xã-hội nỗi gì!

Ta phác họa cái bậc người vào bậc thượng-lưu thật hoàn-toàn xứng đáng ở trong xã-hội Việt-Nam ta bây giờ, cái tính tình như thế, cái phẩm-cách như thế, cái học thức như thế, cái tài-lược như thế, cái đảm-lực như thế, cho đến cái cách cư-xử giao-tế ở đời như thế, ta nhìn đi ngắm lại, không dám chắc là đã truyền được toàn-thần chưa? mà trong tâm mục ta thì thật đã thấy như một pho tượng long-thần thượng-lưu hiện hết kim-thân rồi vậy, nhưng chẳng hay ngày nào là ngày điểm nhãn mà ta được trông thấy pho tượng ấy khai quang?