Bước tới nội dung

Tiếng gọi đàn/3

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
CÁI SỰ-NGHIỆP CỦA BẬC THƯỢNG-LƯU TA ĐỐI VỚI XÃ-HỘI

Trong mấy bài trước ta đã phác họa cái tính-tình cái phẩm cách, cái học-thức, cái tài-lược, cái đảm-lực, cho đến cái cách cư-xử giao-tế của một bậc người như thế nào thì là một bậc thượng-lưu thật hoàn-toàn xứng-đáng ở xã-hội Việt-Nam ta bây giờ rồi. Nếu cái khí thiêng-liêng non Tản sông Lô này chưa đến nỗi tiêu-duyệt, cái giống thần-minh con Hồng cháu Lạc ta không đến nỗi trụy-lạc, cái hồn nước thanh danh văn vật mấy ngàn năm ở một góc trời Nam phương Á-lục còn dóng-dả như khóc, như than, như gào, như gọi mà bật ra được một bậc người như thế đúng kỳ đúng vận mà đản sinh ra giữa cái lúc thời thế đương yêu-cầu, nhân-tâm đương mong mỏi, quốc-dân đương chịu đủ bề khốn khó vì không có một bậc người ấy, như bây giờ, thì cái công việc mà xã-hội ta trông cậy vào cái bậc người ấy là những công việc gì? cái sự-nghiệp mà cái bậc người ấy có thể t i-thố ra xã-hội ta là những sự-nghiệp gì? Ta lại xin xét về cái tình thế hiện thời, theo về cái lòng người khuynh-hướng mà kể lược ra sau đây; tuy người đói mõm không phải nói đến cơm mà đã no được ngay, nhưng ta cũng là một phần-tử trong quốc-dân ta, bách tự cái lòng thành ao ước của cả quốc-dân, cũng không thể đừng được không kêu lên một tiếng hỏi trời, họa may cái giấc ngủ quân-thiên có lai tỉnh dần dần, thấu tới cái lòng thành khao-khát ấy cho, thì anh-hùng hào-kiệt cũng không là cái của thật hiếm có tự xưa nay, mà cái sự-nghiệp giúp dân cứu quốc ở tay những đứng anh-hùng hào kiệt gây nên ở xã-hội ta cũng không phải là không có mảy-may hi-vọng vậy.

Nay nói cái bậc người mà gọi là thượng-lưu ở trong xã-hội Việt-Nam ta thì trước nhất là các vị trong quan-trường. Ở nước nào cũng vậy, đời nào cũng vậy, dù là chính-thể quân-chủ, lập-hiến hay cộng-hòa, quan đối với dân vẫn có cái trách-nhiệm phải dìu-dắt bênh-vực mà có cái quyền vị được quản trị giám đốc người dân; đến quan-trường nước ta thì cái quyền vị ấy lại càng to, mà cái trách-nhiệm ấy lại càng trọng lắm: nước ta đã mấy ngàn năm nay là một nước theo chính-thể quân-chủ, mà cái chính-thể quân-chủ ở nước mình không chỉ thuộc về đường chính-trị tổ-chức như các nước quân-chủ Âu-châu trước, lại còn thuộc về đường học-thuyết, về đường tôn-giáo nữa, gốc từ cái thống-hệ tộc-trưởng mà sinh ra; theo cái tổ truyền của dân-tộc mình thì vua là tôn-tử của trời, các quan là những gia-tướng của tôn-tử trời, trời sinh ra nhân-dân mà trao cái đại mệnh làm chúa làm thầy nuôi dạy nhân-dân cho vua, các quan là người thay mặt vua mà nhận cái chức-trách nuôi dân dạy dân, cả nước như một cái họ lớn, vua tức là trưởng họ, hết thảy công việc trong họ là chủ quyền ở vua, vua phân ủy các công việc ấy cho quan, dân coi vua là chúa, là t ầy thì cũng coi quan là người thay má ông chúa, ông thầy mình, chẳng những giống như ở các nước khác, về đường chính-trị, quan có quyền cai-trị dân, dân sẵn lòng thụ trị quan, mà về-đường học-thuyết cũng công-nhận quan là cha mẹ, là sư-trưởng của dân. về đường tôn-giáo, kính trời sợ trời thì tức là phải kính vua sợ vua là tôn-tử của trời, lại phải kính quan sợ quan là gia-tướng của tôn tử trời. coi cái oai quyền cái tôn quí của ông quan là có phúc có mạng tự trời cho, cũng như cái lòng tưởng vọng phật thánh, kính lễ quỉ thần, không cứ là có làm phúc làm họa ai, mà họa gì cũng là thần thánh phạt hành, phúc gì cũng là thần thánh ủng hộ. Ấy cái quyền vị của quan-trường ta to đến như thế thì cái trách-nhiệm càng trọng là nhường nào!

Một bậc người có cái quyền vị to mà cái trách nhiệm trọng ở trong xã-hội đến như thế, mà nếu thật là người hoàn-toàn xứng đáng thì tất lo hết lòng hết sức hưng lợi trừ tệ cho dân con; đành rằng những cái lương pháp mỹ ý của chánh-phủ ủy thác cho mình phải thừa hành, phải xét thấu những mối tệ ẩn lậu ở chỗ nào, những cách thức thi hành nên làm sao cho dân được chịu cái thực ích thực lợi về những chính lệnh đó, khỏi vì nha dịch nó ẩn tế, tổng lý nó khi man, mà thành ra hư ngụy cẩu thả, ân huệ không tới được chỗ hạ hộ cùng-lư, tệ nữa lại có khi nhân sự sinh phong mà hống-hách biển trá hà lạm của dân nữa cũng có, đại khái như phong dịch cho trâu bò, phát phân phát giống cho nông-nghiệp được cải-lương, đo ruộng đo đất cho thuế-khóa được bình doãn mà nhiều khi dân gian không rõ hư thực, bị những lời dọa nạt lừa dối, mà cũng thành một cái bổng ngoại cho những kẻ tham nhũng điêu gian, lại như thu thuế có bài-chỉ mà lúc san bổ thì cái số tiền trình, tiền kiểm, tiền hành thu, tiền họp bổ, bao giờ cũng chui lủi hết vào được trong cái ngạch mấy hạng chính cung, đắp đê có cố công mà lúc làm đê thì cái khoản tiền phu, tiền tre tiền khất-khám, tiền phần đường, bao giờ cũng gán xếp hết vào được cái công mấy thằng khố bện, có làm sao thi-hành một cách cẩn thận tinh mật mà giữ hết được những cái mối tệ ấy thì mới làm được thực-huệ cho dân, đó là cái chức phận về hành chính đã cố nhiên phải để ý săn-sóc lắm rồi; còn đến việc tố-tụng thì lấy cung chứng sao cho được thực tình, xét án lý sao cho được công chính, khó nhất là giữ sao cho nén bạc khỏi đâm toạc tờ giấy mà đến thành ra đổi trắng thay đen; việc tuần phòng thì dò thám sao biết hết được những dứa du đãng gian phi mà tìm phương cấm trấp; việc khuyến nông thì khảo ng iệm sao cho hiểu hết được những cách cải-lương tiến chủng mà gia sức bảo ban; việc vệ-sinh thì chăm chút cho dân từ cái nhà ở nước uống cho đến sự phòng-bệnh hộ sinh, không phải cứ có cái hình-thức một cái nhà đẻ, một cái giếng xây mà đã vội hồ-đồ tắc trách; việc giáo-dục thì xem xét cho dân từ người lớn đến trẻ con, từ lễ nghĩa đến phong-tục, không phải cứ có cái cụ-văn một lớp trường công, một thầy giáo-tập mà đã vội cẩu-thả qua lần; nói tóm lại là phàm việc gì có lợi cho dân đều phải xét biết mà làm cho kỳ thành, phàm việc gì có hại cho dân đều phải tìm ra mà bỏ cho kỳ hết, sinh-kế của dân phải làm thế nào cho ngày thêm phong-dụ, trí-thức của dân phải làm thế nào cho ngày t êm khai thông, thói-tục của dân phải làm thế nào cho ngày thêm thuần-mỹ, hạnh-phúc của dân phải làm thế nào cho ngày thêm tăng-tiến; nói cho đúng nữa là mình đối với dân tức là một ông chủ nhà đối với người nhà, một ông thầy học đối với học-trò, làm thế nào cho người nhà không đói rách, không hư-hoang, học-trò được giỏi-giang được tấn tới, cho xứng-đáng là một ông chủ nhà đứng mực, một ông t ầy học mô-phạm của nhân-dân vậy.

Thứ nữa là các vị hưu-quan. Các vị hưu-quan tuy đối với chánh-phủ đã là người thoái tản qui nhàn, không còn có chính-vụ gì phải lo toan, chức-trách gì phải đảm-nhiệm, cái thân ngoại vật là tiên trên đời; nhưng đối với xã-hội thì tuổi càng cao, danh càng lớn, càng là một bậc người phụ trọng vọng trong sĩ-phu, đứng tiêu biểu trong công-chúng, một mình kiêm cả đức xỉ tước là ba cái thiên-hạ lấy làm đạt-tôn, cái địa-vị ở trong xã-hội càng tôn chừng nào thì cái công việc phải gánh vác cho xã-hội càng nặng chừng nấy, có phải hưu-quan mà hưu cả xã-hội được đâu. Người ta đối với xã-hội có cái nợ đồng lần; trong một xã-hội là một cái trường thông công dịch sự với nhau, người làm việc này, kẻ làm việc kia để cung cấp cái sự cần dùng lẫn cho nhau; thử ngắm ngay trong một cái thân mình, ai cày mà có gạo cho mình ăn, ai dệt mà có áo cho mình mặc, ai chế tạo vận-tải mà có đủ mọi vật nhu-yếu cho ta? chẳng phải là ta đã chịu một món nợ với xã-hội ta rất nặng dư; ta nếu ăn dưng ngồi rồi, không làm một cái sự-nghiệp gì đóng góp với xã-hội ta, tức là ta vỗ truội món nợ rất nặng của xã-hội ta mà ta không trả vậy; cái nợ ấy ta còn sống một ngày là ta còn phải mang mà ta còn lo trả, có lẽ nào bỏ vũ-trụ mặc đàn em gánh vác mà đắp tai cài trốc cho qua cái ngày tháng hư sinh ấy hay sao? Mà càng là người vị cao vọng trọng, sử dụng của xã-hội càng nhiều, hưởng thụ của xã-hội càng hậu, thì cái nợ ấy lại càng mang nặng mà càng phải lo trả bội hơn người thường; các vị hưu-quan chính là người mang nợ xã-hội nặng hơn mà phải lo trả nợ xã-hội bội hơn người khác vậy.

Ta không nói đâu xa, nói ngay như ở nước Pháp, biết bao những bậc hưu-quan làm nên công-nghiệp cho cả dân cả nước nhờ cậy lớn-lao, một đời tận tụy về việc nước việc dân, đến bẩy tám mươi tuổi đầu đã vào lúc công thành thân thoái mà không hề thấy một ngài nào chịu ngồi yên di dưỡng cái thân già ở một nơi nhà cao cửa rộng, vợ đẹp hầu non, sáng yến chiều thang, nay tuồng mai hát; hay là la-cà tới những chỗ mòn-sinh cố-lại để đẽo cái khoản tiền tặng hảo thù ơn, lọm khọm vào những chỗ quyền quí đương đồ, để mưu cái địa-vị cho con cho cháu, đi doanh-cầu lấy những cái lợi lộc không chánh đáng làm cái của tự phụng khoái lạc cho cái giá cơm túi áo lụn tháng qua ngày; cụ nào cũng không tiếc tinh-thần, không quản khó nhọc, lo làm sách làm báo, du lịch nước này nước khác, giao-thiệp việc nọ việc kia, mong giúp cho thế nước được vững bền, gọi cho hồn nước được tỉnh-táo: chính quan Sarraut Toàn-quyền Đông-pháp ta trước ngài cũng thường nói sau khi ngài thoái lão, ngài sẽ lại quay về cái nghề làm báo của ngài, gần đây nhân một sự xung-đột trong chính-giới, ngài bị đảng xã-hội cấp-tiến là chính-đảng ngài bãi truất, ngài định tạm thoát ly ra ngoài chính-vụ mà ngài cũng tuyên-bố sẽ ở nhà ra sức cổ động trù-hoạch cho thành cái công nghiệp thuộc-địa của nước nhà, không vì thôi quan mà nhãng bo việc nước chút nào cả. Ấy các vị hưu-quan nước Pháp đấy.

Lại nói ngay các cụ hưu-quan ta đời trước, khi nộp ấn treo xe, trở về hương-lý, cụ thì lập trường học, cụ thì mở đồn điền: như cụ Tư-ng iệp Hoàng-giáp-Duyên, cụ Tuần-phủ Phó-bảng Lượng, lấy văn-chương đạo-đức đào tạo kẻ hậu-tiến, học trò thành đạt kể có hàng trăm, mải miết nơi bàn văn án sách cho đến lúc đầu bạc răng long mà giảng tập không hề biết mỏi; cụ Ký-xuyên lúc thôi làm bố-chính, cụ Phương-khê lúc thôi làm án-sát, về nhà khẩn ruộng lập ấp, khai thông thủy-đạo, chiêu mộ điền-tốt, bảo dân cầy cấy giồng giọt, đến nay non hai huyện trong tỉnh Bình-thuận, mười mấy làng trong vùng Thanh-hóa, đương là chỗ chuôm lầy cỏ rậm mà biến thành ra mấy ngàn nhà lạc nghiệp an cư, tử đệ điền trù, cái công mở-mang của các cụ còn để cho người sau tưởng nhớ. Ấy các vị hưu-quan ta đời trước đấy. Nếu các vị hưu-quan ta bây giờ mà có được một bậc người thật là bậc thượng-lưu hoàn-toàn xứng đáng thì tất rộng trông gương được các vị hưu-quan nước Pháp, gần noi dấu được các vị hưu-quan ngày xưa; cái vị-vọng của các ngài đã đủ khiến cho người ta phải kính, phải trọng, cái tiếng nói của các ngài đã đủ khiến cho người ta phải phục phải theo, cái thế-lực của các ngài đã kẻ vị người nể nhiều, kẻ tin người cậy cũng lắm, mà nhất là cái tư-sản của các ngài thì chẳng những các vị hưu-quan ta trước không sao bì được mà có dễ các vị hưu-quan nước Pháp cũng c ưa chắc đã bằng; lấy cái tính-tình, cái phẩm-cách, cái học-thức, cái tài-lược, cái đảm-lực, cái cách cư-xử giao-tế cái gì cũng siêu-việt tầm-thường mà lợi-dụng cái địa-vị của mình, chuyển-bát cái tư sản của mình đứng ra làm trụ cốt cho quốc-dân, mà tổ-chức, mà trủ-trì, mà kinh doanh, mà gìn giữ một cái sự-nghiệp công ích công lợi gì, thì thiết tưởng những công việc hiện thời mà quốc-dân ta đương mong mỏi như việc khẩn đất hoang, việc mở nhà máy, xe nước ở các cánh đồng khô, trường học ở các miền thôn-gĩa, thư-xã để làm sách dịch sách, thương cục để trữ hàng phát hàng vân vân, cái tư-bản, cái tài lực người thường không thể xướng khởi được, đều có thể lấy cái địa-vị, cái tư-sản của các ngài mà đảm-nhiệm cho xã-hội được thành-lập hoàn toàn, có đâu đến nỗi để cho một đàn sâu mọt mượn được cái tiếng còi công-ích, dựa được cái hiệu cờ thực-nghiệp mà lừa gạt quốc-dân, thôn thực công khoản, mười việc thủy thành chung tệ mất cả mười. Mà cái địa-vị của các ngài mạnh mẽ đắc lực là nhường nào! quyết không phải chỉ thành là một cái lợi-khí để bóc lột đàn em, hống hách làng xóm mà thôi đâu, cái tư-sản của các ngài hữu dụng là bao nhiêu! cũng quyết không phải chỉ thành là một cái bả độc để dủ thói kiêu xa, xui lòng dâm dật mà thôi đâu vậy.

Thứ nữa đến các vị trong sĩ-lưu. Sĩ-lưu là những người có học-thức có tư-tưởng, được cái may-mắn hơn kẻ dân thường là có được cái tư-chất thông-tuệ, chịu được cái trình-độ giáo-dục hoàn-toàn hơn kẻ dân thường, cái khí thanh-thục của giang-sơn tổ-quốc chung đúc cả vào mình, cái gia-tài hương-hỏa chung của cả nước tự mấy mươi đời người tân cần tích lũy mà gây dựng nên được là cái quốc-hồn, cái văn-hóa riêng trong một nước ký thác ở trong tay mình, trên thì vua quan cũng có ý suy trọng mình, dưới thì nhân dân đều đem lòng tôn kính mình; người ta vẫn thường nói người học-thức là tinh-hoa của một nước, kẻ sĩ-phu là tiêu-biểu của người dân; không luận là đời nào, nước nào, cái thế-đạo thăng giáng, cái quốc-vận thịnh-suy, sĩ-lưu cũng vẫn dự có một phần công tội lớn ở trong đó. Không có ông Lư-Thoa, (Rousseau) ông Mạnh-đức-tư-Cưu (Montesquieu), ông Phúc-lộc-đặc-Nhĩ (Voltaire) thì nước Pháp làm sao dựng nên cái nền dân-chủ. Không có ông Cát-điền-tùng-âm, ông Đại-cửu-bảo, ông Tây-hương-long-thịnh thì nước Nhật làm sao lập được cái nghiệp duy-tân. Nhất là ở xã-hội Việt-Nam ta thì cái địa-vị sĩ-lưu càng tôn mà cái chức-trách sĩ-lưu càng trọng lắm; cái tập-quán tổ-truyền ở nước ta là cái tục quý sĩ; trong tứ dân thì sĩ đứng vào bực nhất; ta há chẳng từng nghe khắp cửa miệng trong xã-hội đều có một câu rất thông tục là cái câu nhất sĩ nhì nông đấy ư? Lại như câu: chẳng tham ruộng cả ao liền, tham về cái bút cài nghiên anh đồ; chẳng là một câu phong rao thông hành nhất trong xã-hội đấy ư? Sĩ làm sao mà nhất? anh đồ làm sao mà đáng tham, chẳng phải là xã-hội trông cậy về kẻ sĩ rất nhiều; phụ thế trưởng dân cũng về phần kẻ sĩ; hưng bang kiến quốc cũng về phần kẻ sĩ; di phong dịch tục cũng về phần kẻ sĩ; duy-trì thế-giáo, phù-thực cương-thường cũng về phần kẻ sĩ; tác-thành nhân-tài, dẫn dụ hậu-tiến cũng về phần kẻ sĩ; kẻ sĩ là bậc tiên-tri tiên-giác, người hậu-tri hậu-giác không trông cậy về kẻ sĩ thì trông cậy ai; tiến làm quan, thoái làm thầy, phù nguy định loạn, cứu thế độ dân là cái công-nghiệp của kẻ sĩ có thể gánh vác cho đời được cả. Các vị sĩ-lưu ta ngày xưa như cụ Chu-văn-An, cụ Lý-tử-Cấu, cụ Lê-cảnh-Tuân về đời Trần, cụ Đàm-thận-Huy, cụ Phạm-lập-Trai, cụ Lê-Trác về đời Lê, gặp lúc vận nước gian nan, việc đời khốn khó, chính hình điên-đảo, phong-tục suy đồi, cụ thì treo mũ về làng, mở trường dạy học, cụ thì sạch mình giữ tiết, nói thẳng trừ gian, lấy cao phong thanh-tháo khích-lệ lòng người, lấy ngôn-luận văn-chương phù-trì danh giáo, khiến cho kẻ ngoan biết liêm, kẻ nọa biết lập, kẻ nghe phong mà hứng-khởi, kẻ mến trí mà noi theo, cái công các cụ cứu nước giúp đời, không phải là không có bóng xa vang rộng vậy.

Sĩ-lưu ở xã-hội ta bây giờ là ai? chẳng cần phải nói thì các nhà cựu-học cùng các nhà tân-học ta cũng tự mình hỏi mình mà không thể suy nhượng, không thể chối từ được, nhà cựu-học không thể nói được rằng: ta đây là một hạng người lão-hủ, đối với xã-hội là người thừa rồi, ta chỉ biết xoay-xỏa lần hồi, hoặc tướng, hoặc số, hoặc lang thang, hoặc đồng cốt, hoặc địa-liền địa-lý, hoặc thày cung thày cò, kiếm cái bát cơm của ta cho vừa hồ-khẩu, ngoài ra cái sự nghiệp lập đức lập ngôn, giúp dân giúp nước đâu đến phần ta; nhà tân-học cũng không thể nói được rằng: ta nay gặp được thời may vận tốt, đối với xã-hội, ta là kẻ được mùa riêng, ta có quyền có vị, có bổng có lộc, có tiền trăm bạc chục hơn ai, ta ăn chơi phung phá cho thỏa một đời ta; dân mà chi, nước mà chi, nòi giống nữa mà chi, hơi nào mà ta nhọc chí về những chuyện đâu đâu; nhà lầu xe ngựa, rượu ngọt chè ngon, bạc đánh cho hào, áo mặc cho mốt, cơm tây cơm tầu cho sang trọng, của ngon vật lạ cho đủ mùi, tối vui xuân năm bẩy ả quỳnh-tương, chiều dạo mát một vài me khoác cánh, tưởng cái khoái lạc nhân sinh đến thế, ai khổ ai sầu, ai đau ai não, chứ khổ đau sầu não gì đến ta mà ta phải lo hão thương hoài đến nước, đến dân, đến nòi, đến giống. Không, không có lẽ nào các ngài lại suy nhượng, lại chối từ cái tên sĩ-lưu ở xã-hội ta được, cái địa-vị rất tôn ấy, xã-hội ta vốn gán hẳn cho các ngài, cái chức-trách rất trọng ấy, xã-hội ta tất phải giao phó ở các ngài.

Quả các ngài là sĩ-lưu trong xã-hội, không còn trộc-trệch nữa, cái địa-vị sĩ-lưu các ngài thật là tôn, cái chức-trách sĩ-lưu các ngài thật là trọng. Nếu thật là một bậc thượng-lưu hoàn toàn xứng đáng thì về phần các ngài cựu-học tất không chịu rẻ-rúng cái phẩm giá của mình, cái nghề đai cân võng lọng, nương vào đó mà vinh thân phì gia vốn không phải là cái bão-phụ bình-sinh, vậy thì cái tàn-cục khoa-hoạn của mình có làm chi mà phải phàn-nàn, than tiếc; còn cái chí nguyện bản lai của mình là cái chí nguyện lập đức lập ngôn, giúp đời giúp nước thì dẫu thì buổi nào mà chẳng thi-thố ra được một hai; cái học của ta không đắc dụng với đời nữa thì ta chỉ thiếu mất một cái phú quý là cái mà ta vẫn không thiết không cầu; nhưng cứ cái bản sắc thực bần cư tiện, kiếm một nghề gì mà lại chẳng đủ dung thân; cái đạo đức thánh hiền, cái luân lý tổ-tôn, cái văn minh nước cũ, ta đem ra mà cung hành thực-tiễn, lấy thân giáo lấy ngôn giáo, kiểu-chính phong-tục, phòng phạm lòng người, tưởng cái sức cảm hóa của người ta, cái quyền vị, cái uy hình chưa chắc đã bằng cái gương thực hành ở trước con mắt thiên-hạ; hoặc du-thuyết ở các nơi quyền quí mà vận-động công to việc lớn, cái ý hay lẽ phải không hẳn toàn là nước đổ lá khoai; hoặc tham dự vào những việc hương thôn mà lo toan lợi dấy tệ trừ, cái công-đức công-tâm không hẳn đến nỗi giã-tráng xe cát. Về phần các ngài tân-học, tất không nỡ bỏ phí cái thì giờ quí báu của mình, mình đương cái độ niên phú lực cường, trông xa thấy rộng, cái món ăn của mình đã được nếm mùi biết vị là cái tân-học từ Thái-tây thâu nhập nó vốn là một thứ bổ-dưỡng-phẩm cho kể bao nhiêu quốc-gia, bao nhiêu dân-tộc đã nhờ đó mà nên mạnh nên giầu, ta nghiên cứu cho thâm, tập rèn cho chín, cho có thể thu được tinh-thần mà không chỉ là con sáo biết nói, hệt được cốt cách mà không chỉ là con gà mượn lông, thế nào là chính-trị học; thế nào là pháp-luật học; thế nào là kinh-tế học; thế nào là triết-học, thế nào là khoa học, thế nào là cơ-khí kỹ xảo, thế nào là nông-khoáng công thương, ta học cho đến nơi, cho có thể mà đem ra ứng dụng được ở xã-hội ta cho dân ta cũng nhờ đó mà giỏi mà hay, nước ta cũng nhờ đó mà giàu mà thịnh. Vả lại ở nước ta bây giờ vì khoa cử bỏ mà nho-học đã tro tàn, vì truyền bá thiển mà tây học còn non-nớt, cái tư tưởng học thuật trong nước đương vào lúc thanh hoàng giáp hạt, đò nát sang sông, mà quốc văn ta mới thai thoát thành hình, muốn mở mang lấy một cái nền quốc-học cho tư tưởng học-thuật của người nước không lạc nẻo sai đường thì hững sách vở chữ nho, những nghĩa lý về đạo nho có thể chắt lọc mà lưu tồn lại trong quốc-văn ta để giữ lấy cái quốc-túy mấy ngàn năm, đều là cái công phiên-dịch trước-tác của các nhà cựu-học cả, mà những sách vở chữ tây, những tân-lý-thuyết, tân phát minh của người Thái-tây có thể thu thái mà dung hóa vào trong quốc-văn ta để tập lấy cái thuật sinh tồn trên thế-giới, đều là cái công dìu-dắt chỉ bảo của các nhà tân-học cả. Dù cựu-học, dù tân-học, hai bên chia đường tịnh tiến, theo cái cảnh vị, cái tài lực mà làm cái công nghiệp phải gánh vác riêng về phần mình, lại đồng tâm hiệp lực, lấy cái tinh thần đạo nghĩa, cái tình nghị chủng tộc mà cùng nhau đảm nhận cái sự nghiệp công cộng cho nước cho dân. Ta thường nói: con hơn cha, nhà có phúc; thời đại mới, nhân vật mới, sĩ-lưu ta bây giờ, cái sự nghiệp may có phần lại to tát hơn các vị sĩ-lưu ta đời trước vậy.

Thứ nữa đến các vị phú-hào. Các vị phú-hào mà ta kể vào một bậc thượng-lưu trong xã-hội đây không phải hễ cứ người nào có của ăn của để, bạc vạn tiền nghìn, ruộng cả ao liền, nhà ngói cây mít, hoặc có được năm bảy cái lầu tây cho thuê ở thành-phố, hoặc có được một vài muôn đồng bạc thả lãi ở nhà quê, rậm rịch nào xe, nào ngựa, nào song-mã, nào ô-tô; lòe loẹt nào hột, nào vòng, nào vàng trát người, nào ngọc đầy cổ, mà đều mạo nhận cả được cái huy-hiệu phú-hào, đều ngang-nhiên tự phụ là một bậc thượng-lưu trong xã-hội cả được đâu. Gọi là phú-hào là những người có chí-khí to, độ-lượng rộng, sản-nghiệp lớn, kinh-doanh nhiều, là những người vốn hào mà làm nên giàu, đã giàu lại hào, càng giàu càng hào vậy. Những kẻ tốt số giàu tự trong trứng giàu ra, sinh trưởng ở trong đống bạc đống tiền mà chỉ biết hưởng nhờ phụ-ấm, đem cái của mồ hôi nước mắt của người trước tân-cần tích-lũy mà huy-hoặc xa-xỉ, cam tâm cống hiến cho ả phiện, thần men, ma tình, quỉ đổ, nó làm cho nhân-cách phải trụy-lạc, sự-nghiệp phải tiêu-ma, cũng có kẻ ngứa tiền rửng mỡ, húng của thi hơi, vác của ông của cha đi mà chịu theo vào đấy những sự nhục-nhã tày đình, vào cửa họ ra cửa kia, luồn người này cúi người khác, để mua chuộc lấy cái hư-vinh vô-vị ông hàn ông bá, hay lo-lắng về cái kiện-sự lạp-nhạp mảnh ao mảnh vườn; lại những kẻ phùng cơ cấu hội mà vớ được một đôi cái hoạnh-tài, hoặc vì khéo bôn xu cầu cạnh, theo đóm ăn tàn, hoặc vì bạo ăn sống nuốt tươi, rán sành ra mỡ, tấy lên rồi thì làm ông hoàng, ông hạng, ăn chơi phỉ sức, sang trọng vào nhòng, ai chết mặc ai, hầu-bao thắt chặt; những kẻ ấy đã có tên chữ gọi là « thủ tiền lỗ », mà ngay ở trong xã-hội ta cũng có những tiếng gọi rất thông-thường là thần giữ tiền, là phường keo tấy. Cái huy hiệu phú-hào tốt đẹp là nhường nào! tôn trọng là nhường nào! có khi nào những kẻ hèn-mạt xấu-xa đó lại mạo nhận được, mà xã-hội nào lại chịu đem cái địa-vị một bậc thượng-lưu là cái địa-vị rất quí-trọng của xã-hội ghép nhảm cho lũ đó bao giờ,

Gọi là phú-hào như ở trong lịch-sử ta có ông Phạm-lệnh-Công về đời Ngô tuất cô cứu nạn, ông Trần-quốc-Toản về đời Trần tán của cấp quân, ông Lê-Lợi ở một giải Lam-sơn, thí trợ nhiều mà phương dân đều mến phục, ông Vũ-Tính ở một vùng Gia-định, chiêu kết rộng mà hào-kiệt thảy qui tâm; bên nước Tầu thì như ông Mạnh-Thường mở khách-quán để nuôi hiền-sĩ, ông Phạm-văn-Chính đặt nghĩa-trang để giúp người nghèo; còn đến những chuyện phú-hào ở các nước Âu Mỹ đời nay. nào mở trường đại học, nào lập viện đồ-thư, nào đặt giải thưởng cho các nhà học-vấn phát-minh, nào giúp kinh-phí cho các nhà khoa-học văn-học, nào làm ra những sở bần-dân tập nghệ, nào đặt ra những nhà trẻ con mồ côi, nào y-tế-cục cho người bệnh sẵn chỗ thuốc thang, nào ký túc xá cho học trò tiện nơi đèn sách, không quản xuất công xuất của hàng ức hàng triệu để gây dựng nên những việc công-ích công-lợi cho cả bàn dân. Ấy cái dấu thơm của các vị phú-hào ta trước thì như kia, mà cái gương tốt của các vị phú-hào Âu Mỹ đời nay thì như thế đấy.

Nếu xã-hội ta bây giờ cũng có được một số kha-khá các vị phú-hào thật là bậc thượng-lưu hoàn toàn xứng đáng, thì cái đồng tiền ở xã-hội ta quyết không đến nỗi chỉ có một cái công dụng hẹp hòi, cái thế lực đểu-dả là chỉ đem dùng vào những việc mua danh chác phận, chuộng lịch tham thanh, kiện gian bàn ngay, thay đen đổi trắng, buôn lật bán lừa mà lấy cơ lấy nghiệp của thiên-hạ, cho vay đặt lãi mà hút máu hút mủ của đồng-bào; đã mang lấy cái mặt phú-hào, quyết không khi nào chịu sử dụng cái đồng tiền của mình một cách đê-tiện tàn-ác như thế. Ở cái thế-giới kim tiền vạn năng này, trăm công nghìn việc làm ra được cho có ích đến nước, cho có lợi đến đời, dù là bởi cái tài đức cao cả đến chừng nào, cái bão-phụ vĩ-đại đến chừng nào, cái tâm lực gắng-gỏi đến chừng nào cũng không một cái gì ngoài cái sức ủng-hộ của đức chúa kim-tiền mà có thể tổ-chức cho thành, duy-trí cho vững, khoáng-trương cho to được. Nhất là ở một xã-hội người còn hiếm, của còn kiệm như xã-hội Việt-Nam ta ngày nay, đừng nói đến chuyện cao xa quá vội làm gì; hãy nói ngay trong nước ruộng đất bỏ hoang mà toàn là ruộng đất rất phì-mỹ cả, mười phần còn tới bốn năm, lợi rừng, lợi bể chưa khai thái được biết là bao, công-nghệ, thương-nghiệp chưa mở mang được một thí gì, không phải là không kiếm được nhân tài chuyên môn, không có được nhân công tác dụng mà chỉ vì tư-bản thiếu-thốn, đành để của chìm của nổi bừa bãi vùi dấp đấy làm một cái kho riêng của người Tầu người Nhật tha hồ mà khoắng mà moi, lại còn nỗi giáo-dục trong nước chưa phổ cập, trường công của chính-phủ, vì sổ thu chi chật hẹp, lập ra có hạn, những thiếu-niên trai lành gái tốt trong nước là quốc-dân dự-bị về sau này đến quá nửa chưa được mon-men vào con đường học-thức, sách vở thì ít ỏi quá, trừ được mấy quyển thi, ca, tiểu-thuyết, kịch-bản, chẳng bổ ích gì cho trí-thức được bao nhiêu, khắp trong nước không có được lấy một cái cuộc dịch sách, một cái sở tu-thư, không phải là hết thảy trong cựu-học-giới cùng tân-học-giới ở cả một nước này lại không bói đâu thấy được lấy giăm ba nhà trước thuật để làm sách dịch sách cho sách vở một ngày một nhiều thêm, hay không đào đâu có những nhà giáo dục để nhận cái chức vụ giảng dạy ở các trường tư cho con em được rộng nơi học tập, mà cũng chỉ vì đồng tiền không có, cái khó đành phải bó hết cái khôn; ấy đan cử hai việc trị sinh khai trí là việc thiết yếu nhất của một nước một dân mà còn chưa làm sao trù biện nổi như thế; cái giá-trị đồng tiền ở xã-hội ta bây giờ càng cần mà càng quí biết bao nhiêu! cái lợi-khí rất cần mà rất quí ấy chính ở trong tay các vị phú-hào. Các ngài có thể nhờ cái công-dụng đồng tiền của các ngài làm cho bể thành bạc, rừng thành tiền, những bãi cát đồi cây biến thành kho vàng đụn thóc, cờ tầu buôn có thể phấp-phới bay cùng các cửa bể, khói nhà máy có thể nghi ngút bốc lên tận mây xanh, có thể thâu xuất vật sản đi khắp hoàn-cầu, vãn-hồi lợi-quyền cho một dân tộc đương nghèo đương yếu. Cái thế lực đồng tiền của các ngài có thể khiến cho anh em con cháu giòng họ của các ngài đương ngu hóa khôn, đương đần hóa giỏi, đương hèn mọn yếu-ớt hóa mạnh-mẽ bảnh bao. bảo tồn được quốc-túy của cố quốc trong mấy ngàn năm, hấp thụ được văn hóa của Thái-tây về các môn học, bọn thiếu-niên sau sẽ là một cái hoa thơm quả ngọt làm cho cái vườn lão Việt-Nam này thêm đẹp đẽ rực rỡ mà cái công gieo nhân vun gốc là tự ở các ngài. Cái vị thần tài mà các ngài đương phụng-sự, đương cầu-đảo, đương chiếu mệnh cho các ngài bây giờ sẽ là một vị thần hộ mệnh cho cả dân ta bước lên chốn giàu mạnh văn-minh sau này vậy.

Thứ nữa xin nói về các ông đại-biểu của các dân-đoàn. Nước ta gần đây vì cái chính-thể cộng-hòa của người Pháp đem vào, nhờ cái ánh sáng hợp-quần của Thái-tây chiếu tới, cũng đã hơi nhú có cái hình-thức dân-đoàn mà nảy ra được một mớ cái danh-vị đại-biểu; nào đại-biểu các hội-đồng kỳ-hào, nào đại-biểu các hội-đồng tư-vấn, nào đại-biểu các hộ trong thành-phố, nào đại-biểu các họ trong hương-thôn, nào đại-biểu các phòng canh-nông, nào đại-biểu các phòng thương-mại, nào đại-biểu hội nọ hội kia; kể những dân đoàn của ta, danh không phải là không đẹp, bề ngoài không phải là không tốt, nhưng thật ra thì ta không thể không tự thú nhận rằng một cái dân-tộc còn trẻ con thì cái gì cũng là chập-chững non-nớt cả, sánh với dân-đoàn ở các nước tiên tiến thì cũng mới là cái xác đấy, chứ hồn thì còn xa lắm, chỉ là cái vỏ đấy chứ ruột thì thật rỗng không. Song dù xác đấy, dù vỏ đấy mà đã có cái tên hội-đồng này, hội-đồng k ác, chỗ này một cái hội, chỗ khác một cái hội thì cũng gọi là đủ cái hình-thức các dân-đoàn rồi; mà có mỗi một cái dân-đoàn tức là mỗi một hạng người đại-biểu theo cái dân-đoàn ấy mà sản sinh ngay; cái hồn, cái ruột của mỗi một cái dân-đoàn bởi đâu mà có, bởi đâu mà ra? ta dám nói quyết rằng chính ở như các ông đại-biểu đó. Đời nào chẳng vậy, nước nào chẳng vậy, trong một toán quân, giỏi dở chỉ tại một ông chủ tướng, trong một công-ty, nên hư chỉ tại một ông quản-lý, trong một dân-đoàn cũng vậy, vận dụng cái dân-đoàn ấy cho được có thế lực mạnh-mẽ, có tinh thần tỉnh tao để quán-triệt được một cái mục-đích cao xa, thi-hành được một cái chương-trình rộng lớn mà gây nên cái hồn, đúc nên cái ruột của một cái dân-đoàn xứng đáng, cũng chỉ cốt tại các ông đại-biểu — hay theo cái tục khốc-hiếu của người mình thì tôn là các « quan » đại-biểu — trong các dân-đoàn ấy mà thôi; nói cho đúng ra thì ngay ở các nước Âu Mỹ là chỗ dân-đoàn rất phát-đạt mà thử dò kỹ trong một nghị-viện, trong một chính-đảng hay trong một đảng hội nào có phải là ai cũng đủ tài lực, đủ trí-thức, đủ can-đảm, đủ mưu-lược mà cáng đáng cho cái sự-nghiệp công cộng đó được mười phần trọn-vẹn cả đâu; một nghị-viện chẳng qua cũng chỉ có một số ít người xuất sắc, một chính-đảng chẳng qua cũng chỉ có một số ít người lãnh-tụ, một đảng hội, chẳng qua cũng chỉ có một số ít người đứng đầu mà có tài-lực đảm-đang, trí-thức toàn bị, can-đảm bền vững, mưu-lược khôn-ngoan, thế là cái nghị-viện ấy nổi danh, cái chính đảng ấy đắc thắng, cái đảng hội ấy một ngày một củng cố mà khoáng trương; nên ở nước ta bây giờ tuy mới gọi là cái dân-đoàn xác, cái dân-đoàn vỏ, vậy mà đã có nảy ra được một mớ cái danh-vị đại-biểu, nếu các ông đại-biểu đó mà thật là bậc thượng-lưu hoàn toàn xứng đáng thì vỏ đấy mà khó gì chẳng đúc nên được ruột, xác đấy mà khó gì chẳng gây nên được hồn.

Thật là các ông đại-biểu xứng đáng thì chẳng những không manh có cái bụng hèn ích-kỷ, không mang có cái mặt nạ lừa người, không mượn tiếng mấy câu nghĩa-vụ công-ích dối dá hão huyền, không bịa đặt ra những chuyện giúp dân cứu quốc, nào mở mang việc nọ, nào lo tính việc kia, nào đề xướng cái này, nào tưởng lệ cái khác, để gạt hàng trăm hàng ngàn kẻ đồng-bào thực-thà khờ-khĩnh, mến công ích, trọng nghĩa-vụ, xuất công xuất của mà kê cho mình chiếm lấy cái danh giá nhỏ-mọn, quặc lấy cái mối lợi đê hèn. Không, quyết không khi nào lại nỡ rắp cái tim đen quỉ quyệt gian tham, giở cái thủ-đoạn tì-ô đểu-dả như thế; mà đã đứng đại-biểu cho một cái dân-đoàn nào thì trước hết đã tự lượng cái tài-lực, cái trí-thức, cái can-đảm, cái mưu-lược có đủ mà thành-tựu cái sự-nghiệp công-cộng đó không, đem hết cái tài-lực, cái trí-thức, cái can đảm, cái mưu-lược đích đáng của mình mà giúp cho cái bụng nhiệt-thành chân chính vì dân vì nước, không tưởng hư danh, không thiết cận lợi, cúc cung tận tụy mà làm cho cái mục đích cao-xa đạt tới được, cái chương-trình rộng lớn thi-thố nên; hoặc đại-biểu ở hội-đồng kỳ-hào thì trong một tỉnh hạt cái lợi gì nên hưng, cái tệ gì nên trừ, không chịu để cho dân tình còn có chỗ than van, quan trên còn có điều ủng-tế; hoặc đại-biểu ở hội-đồng tư-vấn thì trong một kỳ hạt khoản gì nên làm, cái khoản gì nên bãi, không chịu để cho Chính-phủ phải có đều lầm lỗi, nhân dân phải có nỗi bất bình; hoặc đại-biểu các hộ trong thành-phố thì việc hành chính trong thành phố làm sao thay nhân dân trong thàn-phố mà kiến thiết cho chu-tường; hoặc đại-biểu các họ trong hương-thôn thì việc cải-lương trong hương-thôn làm sao vị con em trong hương-thôn mà lo toan cho ổn thỏa; hoặc đại-biểu ở các phòng canh nông, phòng thương-mại, thì việc nông thương là thực-nghiệp tối cần cho vận-mệnh cả nước, nói đến nông làm thế nào cho ruộng nương khẩn mở, giồng giọt tinh lương, nói đến thương làm thế nào cho hàng-hóa tiêu lưu, tư-bản sung-dụ, mà giữ quyền lợi cho khỏi lạc tới tay người; hoặc đại-biểu cho các hội dân hội buôn, thì sự lập hội là yếu-thuật sinh tồn của thế-giới ngày nay, về hội dân làm thế nào cho dân-trí khai minh, dân đức tăng tiến; về hội buôn làm thế nào cho tín dụng bền vững, doanh nghiệp khoáng trương, mà mưu công ích khỏi thành ra công hại; cái địa vị các ông đại-biểu ta thật có thể gây cho các dân-đoàn ta có cái hồn linh thiêng, đúc cho các dân-đoàn ta có cái ruột đầy đủ, chẳng những không chỉ là cái dân-đoàn xác, cái dân-đoàn vỏ như người ta thường nói bây giờ, mà các dân-đoàn sẽ trở nên cái nền móng nước thịnh dân khôn sau này vậy.

Thứ nữa xin nói về các nhà trong giáo-giới. Các nhà trong giáo-giới thì cái quyền-lợi ở trong xã-hội không được to rộng, cái cảnh-ngộ thường là lãnh-tịch, cái thân-thế thường là đạm-bạc, không có được tốt bổng hậu lộc, lắm bạc nhiều tiền, cái thể-diện giao-tế trong xã-hội thường không lấy đâu mà thi sang chọi lịch, cửa cao nhà rộng, lên ngự xuống xe, rượu ngọt chè ngon, quần là áo lượt được như người, theo cái địa-vị chênh-lệch ở một cái xã-hội nhóa nhem, chỉ biết lấy cái bộ cánh đẹp hay xấu, cái tủ sắt đầy hay vơi mà làm cái thước đo vắn dài, cái cân lường nặng nhẹ cho nhân-phẩm thì có dễ bị cước ra ngoài cái sổ thượng-lưu nhân-vật mất. Nhưng mà không, không có lẽ thế, dù có cái xã-hội nào ngửa nghiêng điên đảo như thế thật đi nữa thì cái biểu nhân phẩm ấy cũng chỉ là sự thăng giáng tạm thời mà thôi; đời nào, nước nào, hễ đã có xã-hội thì cũng phải quí chuộng nhân-tài là cái nguyên-khí của xã-hội, phải tôn-trọng luân-lý là cái trật-tự của xã-hội, phải cần có trí-thức là cái lợi-khí sinh-tồn, cái tinh-hoa tốt đẹp của xã-hội, mà gây dựng nên cho có được nhân-tài, bồi đắp vào cho có được luân-lý, mở mang ra cho có được trí-thức là ai? chẳng phả là các nhà trong giáo-giới dư? một cái nhiệm-vụi rất quan trọng, một cái công-nghiệp rất lâu dài, một sự trông cậy rất to lớn của xã-hội mà giao pho cả ở trong tay các nhà giáo-dục, thì cái địa-vị rất tôn sùng ở trong xã-hội cũng tất phải để dành riêng một chiếu để phần các ông. Các ông không có thể tự phỉ bạc, chối cái địa-vị thượng-lưu của các ông mà rằng: Ta duyên ôi phận hẩm không mon men được vào chỗ qưan lớn quan bé như người, cực chẳng đã đi gõ đầu trẻ để kiếm chút hồ khẩu cho qua ngày, chỉ miễn sao bài vở đủ, sổ sách đúng, thời-khác công-khóa không thiếu không sai cho lẩm trôi cái lương « gạo cháu » là yên, công-danh sự-nghiệp đâu đến cái ngữ mình mà lo những chuyện xa-xôi giác dân dụ hậu. Các ông cũng không có thể tự bạo khí, bỏ cái địa-vị thượng-lưu của các ông mà rằng: Thế-giới bây giờ chỉ có hai cái chủ-nghĩa tối cao là cái chủ-nghĩa « kim tiền » với cái chủ-nghĩa « khoái-lạc »; thời buổi nào kỷ-cương ấy, làm ông thầy bây giờ có phải cần gì mô-phạm, cần gì đạo-đức như ông thầy đời xưa, mà cái « chân » ông thầy như mình đây chẳng qua là một tên làm công của nhà nước, có ân nghị thầy trò với ai như ông thầy đời xưa mà ta uổng lao thần khổ hình về cái hi-vọng mơ-màng chực giồng cây ăn quả; người ta ăn sung mặc sướng, bạc đánh hào, chầu đập mốt, « hạnh phúc » là nhường nào! Ta dẫu hèn cũng còn có quyền-lực « cai-trị » nổi một lũ trẻ ranh, ta cũng có thể lợi dụng cái quyền-lực của ta mà xoay-xỏa cách nọ cách kia, cũng « kiếm ra xu » mà huy-hoắc với bà con chúng bạn. Không, quyết không thế được, các ông thế nào cũng phải nhận cái địa-vị thượng-lưu mà chịu lấy cái sự trông cậy to lớn, gánh lấy cái nhiệm-vụ quan trọng, gây lấy cái công-nghiệp lâu dài của một bậc thượng-lưu trong xã-hội, chối sao được, bỏ sao đành.

Nếu các nhà trong giáo-giới ta mà có người thật là bậc thượng-lưu hoàn-toàn xứng-đáng thì cái đạo làm thầy của mình tất là cẩn nghiêm, cái công tác nhân của mình tất là gắng gỏi, thân-giáo làm sao cho tròn khuôn đứng mực, ngôn giáo làm sao cho vạch óc mở lòng; chẳng những sự chơi bời phóng-túng, đàng-điếm hư-hoang, khi nào vác cái mặt mũi ông thầy mà bôi nhọ bằng những cái vết xấu xa ô-tiện thế, mà gương hiếu hữu tự mình treo cho tỏ, nêu tín-nghĩa tự mình dựng cho ngay, từ một tiếng cười, một câu nói, một bước đi, một việc làm điều cẩn thận giữ gìn cho có thể làm khuôn làm phép cho học-trò cả; chẳng những thưởng nịnh phạt thù, sắp lớp đảo điên, cho nốt lộn-xộn, lấy cái tát cái đá làm võ-khí, lấy bắt quỳ bắt đứng làm thiên-oai, mượn cái thế-lực nhà trường mà thi hành cái quỉ-kế cũng « khoét tiền » cũng « ăn bạc, » cái thủ-đoạn tham-bỉ ấy không nỡ muối cái lương-tâm thầy bổ đi bóp cổ con em, mà đối với học-trò, trong sự sinh coi hầu như phụ tử, dù cái nghề dạy học đời nay là một nghề bạc chủ thật, mà đã theo cái nghề ấy tức tự cho mình là chịu một cái nghĩa-vụ trong xã-hội rất cao, rất trọng là cái nghĩa-vụ tác-thành gây dựng ra cái lũ người quốc-dân dự-bị của tổ-quốc sau này, lũ người đó sau này mà trở nên những quốc-dân khôn mạnh của tổ-quốc ta thì tự mình lấy làm cái sung-sướng vẻ-vang không gì bằng, nếu trở nên những quốc-dân hèn dại của tổ-quốc ta thì tự mình lấy làm cái khổ-sở nhục-nhằn không thể chịu; ở trong lớp học thì giảng tập thật là cần, công khóa thật là chuyên, lựa theo sinh lý, tâm-lý của từng đứa học-trò mà làm cho cái tinh-thần ham học cổ vũ thêm lên, cái bản năng làm người phát-triển hết được; về sự gia-đình giáo-dục thì tìm phương liên-hợp với cha anh con trẻ mà biểu-dương cái điều hay cho con trẻ có khuyến-miễn, đe nẹt cái điều giở cho con trẻ biết sợ răn; về sự xã-hội giáo-dục thì nghĩ cách kiểu chính những tục tệ thói đồi cho con trẻ khỏi thành ra nhiễm ác, tôn chuộng những nết hay đức tốt cho con trẻ được trông vào làm gương. Sách có chữ: giáo bất nghiêm, sư chi nọa; lại có câu: mô bất mô, phạm bất phạm, hà rĩ vi sư; đã là một bậc thượng-lưu hoàn-toàn xứng đáng mà để mình vào trong giáo-giới thì không có lẽ nào lại thành là một ông thầy bất mô bất phạm hay mang tiếng là một kẻ nọa-sư. Xưa ông Phúc-trạch-dụ-cát dạy học ở Nhật-bản, nhân-tài duy-tân đều ở trong trường Khánh-ứng của ông mà ra cả; nước ta sau này mà dân-trí có ngày được khai mình, nhân-tài có ngày được tiến-bộ chẳng cũng tự các nhà trong giáo-giới ta mà gây nên dư?

Thứ nữa xin nói về các ông tòng-sự ở các sở các tòa. Gọi là « tòng-sự » thì là người giúp việc, người làm phụ, vốn không có cái sức chủ-động ở trong cái công việc của mình làm; nước ta hiện ở vào một cái cảnh-ngộ riêng, vì cuộc lịch-sử tình-cờ mà người Đại-pháp sang nhận cái chức-vụ khai-hóa cho mình, người mình đối với người Đại-pháp, học-thức, tài-lực, kinh-nghiệm, thông-thạo, nói tóm lại là phàm những cái tư-cách biện-sự, chưa một cái gì bằng; mà thời-đại bây giờ là cái thời-đại thế giới giao-thông, hơn được kém thua, sai một li đi một dặm, bất kỳ việc lớn việc nhỏ, hễ ươn dại kém người chút nào là hư hỏng thua người chút ấy, không phải như cái thời-đại còn bế quan tỏa cảng, nhân lậu tựu giản, làm sao xong việc thì thôi được, ta may mà được người Đại-pháp là người văn-minh khôn khéo nhất trong thế-giới đưa đường chỉ nẻo cho ta, hiện việc lớn việc nhỏ trong nước ta bây giờ đều có người Đại-pháp đứng nảy mực cầm cân mà ta thì « tham », thì « tá », thì « thông-sự », thì « phán sự », thì « dự thẩm », thì « thừa phái » thì « thuộc quyền », làm tay ủy sử, làm kẻ đỡ đần cho người Đại-pháp; nhờ cái học-thức, cái tài-lực, cái kinh-nghiêm, cái thông-thạo của người Đại-pháp đi trước cho ta theo sau, ra mẫu cho ta rập kiểu, mà trăm công nghìn việc ta cũng đều làm được chót lọt hẳn hoi. Tục-ngữ ta đã có câu: Không thầy đố mày làm nên. Ta chưa đủ sức làm nên mà ta được cái có thầy, thế là may cho ta, tiện cho ta quá. Song tiểu-công mãi rồi cũng có ngày lên ngôi phó cả, trẻ con mãi rồi cũng có lúc tới bậc trưởng-thành, làm học-trò mãi mà lại không có lúc làm thầy được hay sao? học thầy mong sao cũng làm thầy là cái bụng chung của người ta như thế. Quan Sarraut là một vị đại-biểu nước Đại-pháp sang làm Toàn-quyền Đông-pháp ta trước chẳng đã từng dạy cho ta biết cái nhẽ công nhiên bất dịch đấy ư? trong một bài diễn-thuyết ngài có nói: « Các ông cứ cố học đi, tập đi, đến cái ngày mà việc gì các ông cũng làm lấy được, gọi đến ai có người nấy, hỏi cái gì có cái ấy thì chúng tôi có hẹp gì mà chẳng để cho các ông tự quản-trị lấy hết thảy mọi công việc của nước các ông. » (Bài diễn-thuyết tại tiệc trà hội Khai-trí) Vậy thì ta là người giúp việc bây giờ không phải là sau đây không có cái tư-cách chủ-sự, ta là người làm phụ bây giờ không phải là sau đây không có cái địa-vị làm đầu; các ông tòng-sự ở các tòa các sở ta đối với ông Tây thì là tay dưới thật mà đối với xã-hội ta cũng vẫn nghiễm-nhiên là một bậc thượng-lưu; ta chẳng từng thấy các ông tham, ông phán làm việc ở các tỉnh, các ông thầy thuốc, ông thú-y, ông công-chính-tá-vụ, hoặc đi khám dịch hoặc đi đo đất ở các vùng nhà-quê đến đâu cũng đồng-thanh kêu là « quan lớn » cả đấy ư? ta lại chẳng từng nghe thiên-hạ kháo nhau nói những là nhà nọ có phúc, có con làm tham-biện, cháu làm phán-sự, nhà kia danh-giá, anh làm thầy thuốc, em làm thông-sự đấy ư? Xã-hội ta thật vẫn công nhận các ông là một bậc thượng-lưu; các ông không có thể từ chối cái danh-phận thượng-lưu của các ông mà tự phỉ-bạc rằng: Ta cũng may nhanh chân nhẹ bước mà choán được một góc ghế ở các sở các tòa, kể cái lương-bổng cũng có phần hậu, cái quyền-vị cũng có phần trọng hơn người; mà nghĩ người ta ở đời mong được quyền cao chức lớn, tiền trăm bạc nghìn để làm gì? trước nhất tự phụng cho sung suớng cái thân ta, sau là vinh thê ấm tử ta, nước nhà thịnh suy, nhân quần tiến thoái, có thưởng phạt gì đến ta, ta không vì lo nòi lo nước mà chóng được thăng chức tăng lương, cũng không vì quên nước quên nòi mà đến phải truất ngôi phạt bổng, cái thì giờ khoái-lạc của ta nào mặc trơn ăn trắng, nào lên ngựa xuống xe, ta dại gì mà đem tiêu phí vào những việc đời việc nước cho mệt trí phiền lòng. Không, các ông không có thể bạo khí quá như thế được, cái danh phận thượng-lưu trong xã-hội ta, dù các ông không muốn thì xã-hội cũng nhất định gán cho các ông rồi.

Nếu thật là bậc thượng-lưu hoàn-toàn xứng đáng thì tòng-sự tại tòa nào, sở nào tất là dốc một lòng nhận chân biện sự về cái công việc ở tòa ấy, sở ấy, nhận chân biện sự đây không phải là sợ quan trên quở phạt, theo pháp lệnh bó buộc mà không dám giở những lối vờ-vĩnh cẩu-thả, bê-chề lười-lĩnh ra, nhận chân biện sự đây là để tập luyện cái tư-cách của mình, học theo cái khôn khéo của người, như một đứa học-trò mà học cho được đúng cái trình-độ bằng ông thầy mình, như một tên phó em mà học cho được đủ cái mẫu mực như người thợ cả; đến lúc mà công việc gì mình cũng làm được như người Tây cả, như lời quan Sarraut nói: gọi đến ai có người nấy, hỏi cái gì có cái ấy, tự mình có thể quản-trị được hết mọi công việc của nước mình thì chẳng là cái hi-vọng rất tốt cho nước mình dư? Cái hi-vọng ấy còn xa, còn cái hi-vọng tối thiết ngay bây giờ, thì hiện thời công việc trong nước mình tuy chắc ở người Tây chủ-trương mà phần nhiều cũng cốt tự người giúp việc, người làm phụ là người mình cả; người mình đối với công việc trong nước mình, tính-tình phong-tục thông thuộc có phần hơn, nếu biết siêng-năng chu-chí, làm việc gì đến chốn đến nơi, mà lại chịu khó học tập được cái tư-cách biện sự của người Tây, cũng khôn khéo, cũng mẫn-cán, cũng lão-luyện được như người Tây thì cái ảnh-hưởng về sự lợi ích của người mình tất không ít; thí-dụ như một ông thầy thuốc ta mà cũng siêng, cũng giỏi như ông thầy thuốc Tây thật thì người bệnh mình tin cậy mà nhờ được công cứu chữa biết bao nhiêu! Một quan dự-thẩm ta mà cũng minh mẫn, cũng công-chính như quan tòa Tây thật thì kiện sự mình minh-bạch mà nhờ được xử đoán bình-doãn biết bao nhiêu! Ấy cái sự nghiệp to tát vẻ vang đến thế đấy mà chính là cái sự-nghiệp của các ông tòng-sự ta vậy.

Thứ nữa xin nói về các nhà trong văn-giới. Văn-giới đây không phải kể những ông trì sinh trong cái bể văn Tàu, thi thiên, phú bách, văn-sách năm-mươi, dành cái nghề trích cú tầm chương, thả cái giọng phong hoa tuyết nguyệt mà đã có cái biệt-hiệu « rung đùi »; cũng không phải kể những ông múa-may trong cái rạp văn Tây, mở miệng ra thì xì-xồ vu vu moa moa hàng một xâu dài, hạ bút xuống thì chắp-chảnh nào Racine, nào Voltaire từng một đoạn tướng, cũng ve (vers) cũng vãn, cũng kịch cũng cục mà đã được người ngoại-quốc tặng cho cái huy-hiệu là « sáo hót hay »; những nhà văn ấy, họa may có thể tấp tểnh theo đòi với các nhà văn Tàu, các nhà văn Tây mà vọng phường vào văn-giới Tàu, văn-giới Tây chăng, chứ văn-giới ta thì không có lẽ đón rước những văn-hào như thế được; vì văn Tàu văn Tây dù hay đến bậc nào đi nữa, hay như mây bay nước chảy, hay đến quỉ khốc thần kinh, thì đối với xã-hội Tàu xã-hội Tây không biết có bóng xa vang rộng tới nhân-tâm thế-đạo chút nào không, chứ đối với xã-hội ta thì cái hay ấy chỉ đủ mình tự thưởng với mình hay là để bắc bậc làm cao với những kẻ xung quanh mình, mẹ đĩ bố cu, vô tri vô giác, ngoài ra không phát-dương được một phần gì quốc-túy, không nhắc nhở được một phần gì quốc-hồn, không tô-điểm được một phần gì quốc-hoa, không bổ ích cho anh em con cháu cùng nòi cùng giống mình, chỉ biết nghe cái thứ tiếng của tiên-tổ mấy trăm đời sinh trưởng tiến-hóa ở cõi đất Việt-Nam là cái thứ tiếng Việt-Nam ta từ lúc lọt lòng « mẹ đẻ »; thứ tiếng ấy viết ra thành văn, gọi là quốc-văn; văn có viết bằng quốc-văn thì mới làm cho những người nói tiếng « mẹ đẻ » nghe hiểu được vào tai, nghĩ ngấm được vào bụng, nhân-tâm thế-đạo mới có được một vài phần bổ ích, quốc-túy mới nhờ đó mà được rõ-rệt, quốc-hồn mới nhờ đó mà được tỉnh-tao, mới thật là các nhà trong văn-giới nước ta vậy.

Nước ta là một nước trải mấy ngàn năm chỉ học mượn viết nhờ, cứ nói cho đúng ra thì các nhà trong văn-giới ta kể cũng còn hiếm quá; song, vào khoảng vài chục năm nay, nhờ cái hồn linh-thiêng phảng-phất của những người cùng nói cái thứ tiếng Việt-Nam này ngậm-ngùi tức tối ở dưới cửu-nguyên, âm-thầm xui giục mà cái phong-trào quốc-văn đã nổi lên một ngày một bành-trướng, một ngày một tràn lan! trong bọn các nhà văn Tàu, các nhà văn Tây cũng đã có được một số kha-khá người không chịu cam tâm kiều-cư ký-ngụ trong văn-giới Tàu, văn-giới Tây mà đã gióng trống mở cờ, lập lên ở cái miếng đất sông Lô non Tản cũng có một cái văn-giới ta, tuy mới phôi-phác thành hình mà không phải không có cái cơ vững bền chắc-chắn; mà chẳng những là vững bền chắc-chắn, may ra lại mong có ngày tráng-lệ nguy-nga; cái nền quốc-văn của ta đương lúc mới gây dựng như bây giờ đã là đúc lại cả hai lối văn Tàu văn Tây thì đến lúc trưởng thành sau này tất là cũng hòa hợp được cả hai lối văn ấy; mà hai lối văn ấy chính đều là lối văn rất phong phú, rất tốt đẹp mà rất hoàn-bị trong các lối văn ở thế-giới từ xưa đến nay! tòa lâu-đài quốc-văn của ta mà kiến-trúc bằng những vật-liệu lương-hảo như thế thì còn g bằng.

Các nhà trong văn-giới ta mà nếu thực là bậc thượng-lưu hoàn toàn xứng-đáng thì hoặc là Pháp học đã thâm-thúy mà Hán-học cũng có uyên-nguyên, hoặc là Hán-học đã tinh thông mà Pháp học cũng biết đại-khái, tư-tưởng tất là thuần-túy mà cao-thượng, học-thức tất là xem rộng mà biết nhiều, nghiên cứu cái tình-thế bản-quốc đã tường, quan-sát cái cục-diện hiện-thời lại rõ, từng trải việc đời hay giở đã lắm, phán đoán những điều khuyết-điểm quốc-dân lại rành, giốc một bầu nhiệt-huyết yêu nước yêu nòi mà huy-sái trên nét mực đen, tờ giấy trắng; không vì danh lợi mà đổi bụng, không lấy khen chê mà khác lòng, không a-dua cái hiếu-thượng thiên lệch của xã-hội mà cố đem ngọn bút làm lưỡi gươm kiểu-chính những tệ-tục đồi-phong, không kiêng nể cái oai thế hống-hách của cường quyền mà cố đem quyển sách làm tấm gương soi-mói những mưu gian chước độc, cái tinh-thần chỉ-thú của thánh-hiền đời trước xiển-phát cho hết để luyện nên những tễ thuốc nuôi hồn, cái tân-lý kỳ-tưởng của Âu Mỹ đời nay, thu nhặt cho sành để chế lấy những thang bổ óc, về thông-tục giáo-dục thì hoặc báo-chương hoặc tạp-chí, hoặc thi-ca, hoặc tiểu-thuyết, hoặc kịch-bản, lấy miệng thêu lòng gấm mà dệt thành những lời khuyến giới đằm-thắm khôn-ngoan; về thanh-niên giáo-dục thì sách luân-lý, sách sử-ký, sách địa-dư, sách khoa-học, sách chuyên-môn, lấy nhị Á hoa Âu mà xếp thành những tập giáo-khoa tường-minh giản-quát; không kể những cái văn đạo dục tăng bi, bại hoại phong-tục, cùng những cái văn khua môi múa mép, nhặt nhạnh dông-dài, không hề khi nào dám để cho trong văn-giới ta mọc ra có cái mầm xấu-xa nhớp-nhúa như thế, mà mỗi khi cầm đến cây bút, cái nhiệt-huyết yêu nước yêu nòi thường sôi nổi ở trong trí nghĩ mà mình tự hỏi cây bút của mình rằng: Mi định viết cái gì đây? Viết ra mà có ích gì cho nhân-tâm thế-đạo, bổ-cứu cho thời-tệ, mở mang cho trí-thức được phần nào không? hay chực viết ra để cầu lấy cái danh gì, kiếm lấy cái lợi gì, mua chuộc lấy cái lòng khờ-dại ham ưa của công-chúng gì đấy chăng? Đã viết câu văn nào là như lời một nhà văn-hào Tây nói: « Có máu mới có văn »; văn để mà thổ lộ cái tư-tưởng thuần túy cao-thượng của mình, để mà truyền đạt cái học thức xem rộng biết nhiều của mình, để mà xoay-xỏa với cái tình-thế của bản-quốc mình, để mà đối phó với cái cục-diện của hiện-thời mình, để mà chỉ đường dắt lối cho những công việc đời hay dở, để mà bổ thiên cứu tệ cho những điều khuyết điểm quốc-dân. Người ta vẫn thường nói: văn-chương quan thế vận thịnh suy; đến lúc mà thiếu-niên tử-đệ trong nước mình nhờ sách vở của mình mà dại trở nên khôn, hèn trở nên hay, yếu trở nên mạnh, những đồng-bào trong nước mình nhờ câu văn của mình mà kiến-thức đương hẹp-hòi hóa ra rộng-rãi, tính nết đương xấu hóa tốt, phong-tục đương dở hóa hay, đúng được cái câu sấm-ngữ: vận-mệnh nước mình sau này mà hay được là nhờ ở quốc-văn, thì cái công-nghiệp của các nhà trong văn-giới ta thật không phải chỉ là công-nghiệp « buôn văn bán chữ » như bây giờ, mà đối với xã-hội ta thật có cái công-nghiệp lập ngôn bất hủ vậy.

Thứ nữa xin nói về các bà khuê-các. Theo cái tập-quán của Đông-phương ta thì đàn ông chủ việc ngoài mà đàn bà chỉ chủ việc trong, bao nhiêu những sự-nghiệp công-cộng trong xã-hội là phần riêng của bọn mày râu mà cánh quần-thoa ta hầu như không dự gì đến cả; tuy vậy, người đàn bà ở trong một xã-hội là gì? tức là vợ và là mẹ trong xã-hội vậy; các bà các cô dù không có cái gánh vác nặng nề trực tiếp với xã-hội mà trong xã-hội bao những người mặt to tai lớn, vào trang lãnh-tụ, vào tay trụ cốt của một dân một nước cũng điều cậy có cái công nội-tướng, nhờ có cái đức mẫu-giáo của mình; không có người chặt cửi hăm lười thì ông Mạnh-tử lấy đâu thành được á-thánh; không có người vạch lau dạy viết thì ông Âu-Dương lấy đâu thành được đại-nho; ông Tương-Như không gặp được nàng Văn-Quân thì ai là người nấu rượu canh lò mà để cho mình dưỡng cái văn tài tuyệt thế; ông Lão-tử không lấy được bà Lai-phụ thì ai là người tưới vườn cuốc đất mà để cho mình giữ vững cái cao tiết ẩn cư; xưa nay những đấng thánh-hiền hào-kiệt chí-sĩ danh-nhân, phần nhiều là chịu cảm hóa của đức thầy học trong màn the và nhờ giúp-giặp của vị tướng-quân trong buồng kín cả; mẹ xấu thì khó mong cho cái phẩm hạnh của con được tốt; vợ dở thì thường làm cho cái đức nghiệp của chồng đến hư, ta chẳng thường thấy thiên-hạ cũng hiếm chi người có chí-khí, có tài học, có cái bão-phụ to tát dọc đất ngang trời mà chỉ vì nội-cố không yên, tiếng giao trích của người nhà người cửa làm bối rối mất cả cái tư-tưởng cao-thượng, cái khí-phách hào-hùng, hoặc vì trái cái ý mẹ không đành mà ẩn-nhẫn làm những điều khuất nhục, hoặc vì đeo cái nợ vợ quá nặng mà cặm cụi lo những chuyện riêng tây; rút cục đến ngày qua tháng lụn, chí nghiệp không một tí gì thành-tựu, mà cái thân bảy thước ngang tàng, thông-minh trí-tuệ bị tiêu ma hết cả vào những chuyện ngưỡng sự phủ dục mà không rồi đấy ư? Cho nên cái hi-vọng tối-thiết của một xã-hội đối với bậc thượng-lưu, có thể nói rằng: Cái sự-nghiệp của bậc thượng-lưu nên hay không tức là cái sự-nghiệp của các bà các cô có hay không vậy. Vả lại về đường giao-tế ở trong xã-hội ta, vợ chồng vẫn đứng vào cái địa-vị bình-đẳng, chồng là quan lớn thì vợ tức cũng là bà lớn, chồng nên ông thì vợ tức cũng nên bà; các bà các cô trong xã-hội ta dù chưa phải như đàn bà Âu Mỹ tự lực mình mà gây dựng lấy cái danh-giá, cái thế-lực của mình, song ai đã được phận đẹp duyên lành mà sánh vai với đức ông chồng là một người quyền quý danh tiếng trong xã-hội thì đối với các nhân đẳng khác cũng nghiễm nhiên thành một bậc thượng-lưu, trong xã-hội coi quan ông thế nào thì coi quan bà cũng thế, cũng khiến cho người ta phải kính vì, phải tòng phục, từ cách ăn ở đi đứng cho đến công việc hành-động cũng khiến cho người ta chúc-vọng đến mà theo đó làm hiếu-thượng, lấy đó làm đầu têu; không nói chi xa, hãy nói về một điều phục-sức: ngày xưa các bà ưa đội nón thình-lịnh thì cả nước lấy nón thình-lịnh làm sang; gần đây các bà ưa đi ô thì cả nước lấy đi ô làm đẹp; ngày xưa các bà đi dép thì cả nước theo đi dép, gần đây các bà đi giầy thì cả nước tập đi giầy; các bà chuộng ô-tô thì con gái cưới không được ô-tô, xem chừng lấy làm tủi hổ; các bà chuộng vòng nhẫn thì con gái lớn không được vòng nhẫn, xem chừng lấy làm tuỳu-nguỳu; ấy là đan cử một chuyện đó mà coi, cũng đủ thấy cái nên cái hư, cái hay cái dở của các bà thượng-lưu thật cũng không khác gì các ông thượng-lưu, cũng không phải là không có vang rộng bóng xa đến cái nên cái hư, cái hay, cái dở của xã-hội. Trong khoảng ít năm nay, ở trong xã-hội ta ai cũng thấy phàn nàn than thở về nỗi phong tục đồi bại, đạo-đức ngửa nghiêng, lợi lộc trọng mà nhân nghĩa là khinh, kim tiền quí mà danh tiết là tiện, hào xa lãng xỉ mà tội ác càng ngày càng thêm nhiều, gian giảo điêu ngoa mà sinh-kế càng ngày càng thêm khó, cái hiện-tượng của xã-hội mình thì rành rành như thế, không ai còn có thể chối cãi được; nếu cái công lệ thượng hành hạ hiệu mà đúng cả, cái gì cũng như cái nón với cái ô, cái giầy với cái dép kể trên đó, thì cái nỗi hư nỗi dở ở xã-hội mình ngày nay như thế, chẳng biết các bà thượng-lưu ta có phần trách-cứu gì vào đó hay không nhỉ?

Nay nếu các bà khuê-các ta thật là bậc thượng-lưu hoàn-toàn xứng đáng, thì ngôn dung tất là đoan-chính, đức hạnh tất là cẩn nghiêm, lấy hòa-mục mà chỉnh-đốn gia-phong, lấy cần kiệm mà duy trì gia-đạo, không có những cách hào xa lãng xỉ, không có những thói gian-giảo điêu ngoa, ăn ngay ở thảo, giữ cái âm-chất đời sau, trọng nghĩa khinh tài, theo cái gương trong hiệp-nữ, dạy con lấy điều hay lẽ phải, khuyên chồng lấy công cả nghiệp cao, tảo tần hàn-gắn, gánh lấy cái giang sơn đỡ cho chồng cho con, để người đàn ông khỏi bận bịu về cái tư lụy thất gia mà được chú lực chuyên tâm về cái mục đích cao xa, cái tiền-trình viễn-đại. Người ta đã nói người đàn bà là cái hoa thơm, hòn ngọc báu; cái vẻ hoa sắc ngọc đủ khu khiển được một đời người tráng-sĩ khó-nhọc gì mà quản, nguy hiểm gì mà từ; lạ cho cái sóng khuynh thành, làm cho đổ quán siêu đình như chơi; có cái sức mạnh khiến cho người ta phải đổ quán siêu đình, sao lại chẳng có cái sức mạnh khiến cho người ta phải kiến công lập nghiệp; thiết tưởng làm mẹ mà ai cũng như mẹ ông Vũ-Tính thì khó gì mà chẳng có những ông danh-tướng mở nước bình tàn; làm vợ mà ai cũng như vợ ông Ngô-Hoàn thì khó gì mà chẳng có những bậc trung-thần tận trung báo quốc. Cái phụ-công phụ-đức đã đủ chuyển-di được nhân-tâm, kiểu chính được tệ-tục cho xã-hội nhờ, mà lại giục-giã giúp đáp cho chồng cho con làm nên được cái công nghiệp phúc dân lợi nước, cái sự-nghiệp ấy lại chẳng phải là cái sự-nghiệp đáng tượng đồng bia đá mấy trăm đời hay sao? Một bà khuê-các mà chịu nhận lấy một cái sự-nghiệp này có lẽ còn đẹp gấp mấy đeo ngọc quấn vàng, sang gấp mấy ô-tô song-mã, lạ gấp mấy giầy mũi thêu, dù cánh phượng, áo gấm Thượng-hải, khăn quàng phu-la, mà sướng gấp mấy quàng cổ quàng tay, rút bài, rút bất đấy!

Thứ nữa xin nói về các cô trong tân-học-giới. Nước ta xưa kia chưa có trường học con gái; sự học của cánh quần-thoa ta chỉ một là nhờ cái giáo-dục trong gia-đình là những nữ-huấn, nữ-tắc mà cô dì bác mẹ dạy truyền khẩu, bảo thuộc lòng; hai là nhờ cái giáo-dục của xã-hội là những đức hay nết tốt mà các bà, các mẹ trong làng xóm đã làm gương làm mẫu cho và những lời khen chê, quyền bình-phẩm mà dư luận công-chúng đã dắt đường chỉ nẻo cho, mà cũng đã đủ hun đúc nên được cái phụ-đức đoan-trang, gây dựng nên được cái phụ-công khôn khéo, nuôi nên được cái tính tốt nhân từ bố thí, tập nên được cái thói tốt trọng nghĩa khinh tài; nay thử lần lại những tấm bia miệng trong các dân xã mà đọc hết một hồi thì thấy trong làng khuê-khổn nước nhà kể biết bao nhiêu người tảo tần hàn gắn, một tay gánh vác giang-sơn nhà chồng, nuôi chồng đèn sách cho làm đến bậc ông cống ông nghè, dạy dỗ con thơ cho thành đạt nên tay nên tấm, cha già mẹ yếu, ngon ngọt phụng thờ, trong họ ngoài làng thuận hòa êm ấm; lại biết bao nhiêu người chẳng may gặp phận hẩm duyên hôi, cung đàn nhỡ dịp, lênh đênh góa-bụa, chiếc bách giữa giòng, mà cũng giữ được cái kiên trinh nhẫn nại, đắng cay ngậm quả bồ-hòn, thủy chung cho vẹn đạo tao-khang, sống thác vẫn chọn nguyền sơn hải, có người theo chồng mà tận trung báo quốc, có người giúp chồng mà đánh giặc lập công, có người kèm con chăm học nên danh, có người khuyên con dốc lòng thờ chúa, người thì xuất tiền trăm bạc nghìn mà làm phúc làm đức, người thì mở thóc bồ lúa lẫm mà cứu khổ tuất bần, khiến cho cái phẩm cao hạnh quí của các đứng hiền thê, từ-mẫu, liệt-nữ, nghĩa-phụ giống Lạc Hồng ta đã có một cái đặc-sắc vẻ-vang với người trong thế-giới. Nay các cô trong tân-học-giới nước ta thì lại gặp được thời may số tốt, không phải bó buộc ở trong một cái khu-vũ hẹp-hòi buồng-the bếp nước mà đã được cùng với khách mày râu thi tài đua giỏi ở trong trường văn-mặc bút nghiên; ngoài những sự giáo-dục tổ truyền quí báu như đã kể trên kia, lại thêm được hưởng-thụ những cái học thức tối tân đời nay là những cái hay, cái khôn mà bạn gái mình bên các nước Thái-tây họ đã nhờ đó mà tạo thành cái tư-cách anh-thư, lừng-lẫy cái tiếng-tăm nữ-kiệt; trong một bọn « quần sồi » với nhau đương kẻ thì cặm-cụi về dâu gai cửi sợi, kẻ thì chui rúc về cuốc bẫm cày sâu, kẻ thì tức bực về thêu mướn may thuê, kẻ thì bôn ba về buôn thúng bán mẹt, mà mình được cái vinh-hạnh cũng viết văn, cũng xem sách, cũng chảnh hoảnh một cái ghế ngồi trong công-sở, cũng chễm chệ một cái bàn giấy trong nhà trường, tự con mắt người mình mà so sánh cái bậc thang cao thấp trong một cái xã-hội nhân tài còn hiếm-hoi, trí-thức chưa phổ cập này thì cái địa-vị các cô trong xã hội ta đương lúc bây giờ cũng có thể tôn lên được là một bậc « Nữ-thượng-lưu » trong một nửa số quốc-dân ta là số đàn bà con gái vậy.

Nếu cái hạng người « Nữ thượng-lưu » đó mà thật có đủ cái tư-cách thượng-lưu hoàn-toàn xứng đáng thì tất là về cái giáo dục cũ đã không hề nhãng bỏ, về cái giáo-dục mới lại không đến sai lầm, cái công cần đức kiệm của các bà các mẹ ta trước đã dập mẫu in khuôn, mà cái học thuật tư-tưởng của các nước Âu Mỹ bây giờ cũng thâu bông hút nhụy, càng nghe biết nhiều thì đức hạnh càng thêm tăng tiến, càng giao-tế rộng thì phẩm cách càng thấy cao sang; không nói đến những chuyện lả-lơi ong bướm, cười-cợt gió trăng, ngõ liễu tường hoa, trong dâu trên bộc, mượn cái tiếng « ái-tình » mà lòng chim dạ cá, viện cái thuyết « bình đẳng » mà tai ngược lăng loàn, khoác bộ cánh « văn minh » mà khinh miệt cả bà cả mẹ, núp bóng cờ « độc lập » mà chối-kệ cả chồng cả con, tự do mà đến tối nào cũng chuyện đúm thả rong, tới đâu cũng quân bài lá bạc; duy-tân mà đến cả ngày chỉ những dồi son điểm phấn, ra đường muốn những quàng cổ khoác tay; triết-lý mà chỉ lờ-mờ được hai chủ nghĩa: có tiền thì chủ-nghĩa « khoái-lạc », không tiền thì chủ-nghĩa « chán đời »; văn học thì chỉ tập tọng được vài bức thư, nay gửi thư cho công-tử-bột này, mai phúc thư cho tình nhân phượu khác; những chuyện xấu-xa bỉ-ổi, dại-dột ươn hèn như thế, không khi nào chịu để cho mọc mầm nảy rễ, bôi cái vết dơ cho nữ học, mà điếm nhục cả cái lịch sử đàn-bà cổ nước Nam đi; mà thường mình tự sách lệ mình, đã đặt mình vào trong tân-học-giới rồi thì mình trách vọng cho mình phải làm sao cho đáng giá cái tên tân-học, chẳng những lo cho có cái đức hạnh, tài-năng, làm được công nghiệp đảm đang hơn những kẻ thất học trong bọn « quần sồi » mình, mà giúp chồng giúp con lại giỏi-giang thao lược hơn, tiết hạnh lại trinh thục hơn, ăn ở lại hiền hậu hơn các bà các mẹ mình thuở trước, cũng tạo thành được cái tư cách anh-thư, cũng lừng-lẫy được cái tiếng-tăm nữ-kiệt như bạn gái mình bên các nước Thái-tây; học đó không phải là chỉ có một cái mục đích thiển-cận kiếm lấy cái tiền phấn sáp mỗi tháng đôi ba chục đồng bạc lương đâu; học đó không phải chỉ để mà đăng một cái quảng cáo « rao người » nét mặt cho nhoáng, bộ cánh cho nền, khóe thu-thủy đưa tình cho sắc sảo, tiếng oanh vàng chào khách cho có duyên, ngày ngày đi diện khắp phố cùng nơi, vớ được một quan tham, quan đốc hay thứ nhất là một quan-lớn nào còn trẻ tuổi, có tiền lương lớn, có bổng lễ nhiều, lúc nào hầu-bao cũng nặng, có tiền cho ta sài phí bảnh bao là mãn nguyện đâu; học đó là để tu luyện cái nhân-cách của mình, chao dồi cái đạo-đức cũ, mở-mang cái trí-thức mới của mình, để rồi mà quản-lý một cái kỹ-nghệ gì, khai trương một cái thương-nghiệp gì, tổ-chức một cái công-cuộc từ thiện gì, chủ-trì một cái sự nghiệp công ích gì, dựng nêu đứng trụ cho chị em bạn gái nước mình không được hưởng cái giáo-dục hoàn-bị như mình mà đương ngong-ngóng trông mong chắc cậy cả vào mình kia, noi lấy cái gương tốt các bậc nữ-hào bên Âu Mỹ; không nữa thì cũng đứng đầu một lớp học mà lấy thân giáo ngôn giáo chăn dắt lũ đàn em cho thành tài đạt đức, giữ việc một nhà sinh mà lấy từ-tâm diệu-thủ cứu chữa người sản dưỡng cho tròn mẹ vuông con, thì cái sự-nghiệp của các nhà « nữ-thượng-lưu » ta không phải là không có phúc lợi lớn-lao cho xã hội vậy.