Bước tới nội dung

Tiền căn báo hậu/IX

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tiền căn báo hậu của Alexandre Dumas, do Kỳ Lân Các dịch
IX. Chiều bữa lể hỏi

IX
Chiều bữa lể hỏi.

Khi quan phó Biện-lý Huynh-pho kêu ông Cò-mi-xe dặn nhỏ biểu giải Đăn-tế vô Đại thiên-lao rồi bèn trở về nhà cha vợ thì thấy khách đã mảng tiệc đà sang qua phòng khác mà uống cà phe.

Nàng dâu và họ đương có ý trông quan phó Biện-lý, nên khi thấy ngài bước vô ai ai cũng nói diểu cợt chơi: Ớ ông quốc gia lương đống ôi, vậy chớ công chuyện làm sao, nói lại nghe chơi.

Người khác hỏi: Vậy chớ cuộc kinh hoàng trở lại nữa sao?

Người thứ ba hỏi: Vậy chớ ông Ghẹ-Cọt đã ra khỏi hang rồi sao?

Ông phó Biện-lý bước lại gần bà Hầu mà nói rằng: Bẩm Lịnh-bà tôi xin lổi vì tôi còn phải đi nữa... Bẩm Đức-ông, tôi muốn nói chuyện riêng với Đức-ông một chút.

Bà Hầu thấy mặt quan phó Biện-lý có hơi lo lắng bèn hỏi rằng: Vậy chớ công việc trọng hệ lắm sao mà phải lo lắng như vậy?

— Dạ, bẩm Lịnh-bà, trọng hệ cho đến đổi tôi phải vắn mặt vài bữa.

Nói rồi day mặt lại nàng dâu mà thốt rằng: Bởi vì công việc trọng hệ lắm, nên tôi phải đi như vậy, Cô Hai thấy không?

Nàng dâu hỏi: Té vậy ông phải đi hay sao?

— Không thế nào không đi cho đặng.

Bà Hầu hỏi: Vậy mà tính đi đâu?

— Bẩm Lịnh-bà, việc nầy là việc mật nhiệm án đường, nhưng trong chư quan khách ai có muốn nhắn, cậy việc chi về kinh-đô, thì nhơn dịp một người đồng liêu tôi đi về Ba-ri chiều nầy thì cũng nên thừa dịp ấy.

Họ đương ngó nhau mà nhìn.

Ông Hầu hỏi: Quan phó Biện-lý muốn nói chuyện riêng với a phải chăng?

— Dạ, xin Đức-ông bước qua phòng bên nây.

Khi qua đến phòng thì ông Hầu hỏi rằng: Công chuyện làm sao, nói nghe coi?

— Bẩm Đức-ông, công việc rất trọng, tôi phải đi lập tức mới đặng. Vậy chớ Đức-ông có cho nhà nước vay nhiều ít chăng?

— Có, nội gia tài ta gần sáu bảy chục muôn quan tiền mà ta đã cho nhà nước vay ráo.

— Ấy vậy xin Đức-ông phải bán giấy vay ấy, bằng không thì sẻ mất cũa.

— Ở đây mà làm sao bán được?

— Vậy chớ ở tại kinh-đô, Đức-ông không có giao với người nào lo việc ấy sao?

— Có, để ta viết thơ lập tức bão nó bán đi.

Nói rồi ông Hầu lại ngồi bàn mà viết thơ phong lại trao cho quan phó Biện-lý.

Quan phó Biện-lý bèn hỏi rằng: Thơ nầy đã xong mà tôi còn phải cần dùng một phong thơ khác.

— Phong thơ khác cho ai?

— Cho vua.

— Ta làm sao dám cã gan viết thơ cho vua?

— Bởi vậy tôi mới cậy Đức-ông đến xin ông Đờ Xanh-vơ một cái thơ đặng vào thẳng trong hoàng-cung mà kiến giá cho khỏi mất ngày giờ chờ đợi theo nghi tiết trào đình.

— Vậy chớ quan phó Biện-lý không biết rằng quan Chưởng-ấn vô ra hoàng-cung thong thả sao? Ấy vậy hảy đến cậy ngài tiến dẩn vào đền vua cho.

— Dạ, bẩm Đức-ông, tôi cũng biết rỏ, nhưng công cáng cũa tôi, tôi chẳng muốn chia cho người khác. Nếu tôi đến cậy quan Chưởng-ấn tiến dẩn thì ngài sẻ đoạt công của tôi, hóa ra tôi đi mệt nhọc vô ích. Nếu chuyến nầy mà tôi vào hoàng-cung được thì đường công danh tôi sẻ phát đạt lắm, vì vua chẳng hề khi nào quên ơn trọng trong việc tôi đến mà tâu cho vua rỏ đó.

— Nếu vậy thì quan phó Biện-lý về sữa soạn nang thát, còn ta sẻ cho mời ông Đờ Xanh-vơ cậy ổng viết thơ tiến dẫn cho.

— Dạ, bẩm Đức-ông, xin chớ diên trì, vì một khắc đồng hồ nữa thì tôi thượng trình.

— Quan phó Biện-lý sẻ ngừng xe trước cữa ta mà lấy thơ.

— Cúi xin Đức-ông nói lại giùm với Lịnh-bà cùng cô Hai xin tha tội cho tôi, bởi có chuyện cẩn cấp phải đi mới được.

— Quan phó Biện-lý sẻ gặp bà Hầu với con Hai tại phòng khách mà từ giả lấy.

— Tôi cám ơn Đức-ông muôn phần, xin lo giùm cái thơ cho gấp.

Ông Hầu run chuông kêu gia-đinh sai đi mời ông Bá đờ Xanh-vơ lập tức, rồi day lại nói với quan phó Biện-lý rằng: Thôi, hảy đi về nhà rồi trở lại cho gấp.

— Dạ, thưa vâng, tôi đi rồi sẻ trở lại liền.

Quan phó Biện-lý tuốc ra khỏi nhà ông Hầu mà chạy về nhà. Song khi ra khỏi cữa bèn nghĩ rằng: Nếu thiên hạ thấy quan phó Biện-lý đi đâu mà bôn ba như vậy thì chắc cã thành phải náo động, nên ngài mới dừng chơn lại thĩnh thoản nghiêm trang mà đi về nhà.

Khi về tới trước cữa nhà thì thấy có người mặc đồ trắng đứng điềm nhiên mà đợi đó.

Khi thấy quan phó Biện-lý gần bước vào cữa thì người ấy xơm tới chận đường mà hỏi thăm tin tức của Ết-mông Đăn-Tết.

Số là Mẹt-xê-đết chẳng rỏ tánh mạng Đăn-tết ra thể nào, nên ban đêm lén đi đến nhà quan phó Biện-lý mà hỏi thăm. Vẩn Ết-mông Đăn-tết trong khi bị tra có khai rằng gần cưới vợ mà bị bắt, nên quan phó Biện-lý khi thấy người nầy liền hiểu là Mẹt-xê-đết. Song quan phó Biện-lý thấy mà lấy làm lạ: người sao tuyệt sắc mà lại đoan trang. Khi nghe hỏi vậy thì quan phó Biện-lý tưởng mình là bị cáo, còn cô nầy là án-quan, bèn trả lời vụt chạt rằng: Tên ấy đã phạm tội đại ác, ta không lẻ dung thứ được.

Nghe nói vậy thì Mẹt-xê-đết bèn khóc rống lên.

Quan phó Biện-lý muốn đi tuốc vào nhà, song bị cô ấy cãn lại mà hỏi rằng: Vậy chớ quan lớn giam chồng tôi chổ nào, tánh mạng nó ra làm sao, xin cho tôi biết.

— Ta không biết, vì ta đã giao nó lại cho quan khác rồi.

Nói rồi xô vẹt Mẹt-xê-đết mà vào nhà chẳng vỉ gì đến sự buồn thảm của người.

Song khi quan phó Biện-lý vào nhà đóng cữa rồi thì trong lòng bắt buồn thảm, chưn run lập cập, thở dài một cái, rồi té ngồi xuống ghế phô-tơi, nằm nhắm mắt mơ màng mà suy tưởng, liền thấy Đăn-tết mặt mày xanh xao, bộ tướng hềm thù, cặp tay vợ mà theo kêu oan bên lưng mình, vì mình làm hại cho người vô tội đặng cứu cha mình là người có tội.

Chớ thường thường quan phó Biện-lý xin Tòa áo-đỏ xữ tữ biết mấy mạng, mà chẳng hề lương tâm rối loạn như bây giờ.

Ết-mông Đăn-tết là người vô tội, còn một giờ nữa thì cưới vợ và còn vài bữa nữa thì làm Cạp-bì-tên. Nay bởi mình muốn gở tội cho cha mình, nên mới dạy biệt giam người ta chung thân vì tội quốc-sự phạm trọng. Ấy là quên bổn phận mình làm án-quan phải lấy lẻ công bình mà tra xét, nay vì có lòng tư vị, họa phù thân đái, thiệt là người vô nhứt điểm lương tâm.

Quan phó Biện-lý nằm mơ màng suy nghĩ như vậy mà dực mình.

Chớ phải khi ấy có ai đến mà xin tha tội cho Đăn-tết, thì chắc quan phó Biện-lý sẻ đà tha tức thì.

Kế đó người gia-đinh vào phòng mà thưa rằng: Xe ngựa đã bắt kế rồi.

Quan phó Biện-lý bèn vụt đứng dậy, chạy đến tủ bàn giấy lấy hết bạc bỏ vào túi, tay thì ôm trán, miệng nói lầm thầm, đi quanh lộn trong phòng một hồi; nhờ có tên gia-đinh đem áo choàn gát lên vai, nên quan phó Biện-lý mới tĩnh lại, lên xe hối kẻ chấp tiên chạy riết tới nhà ông Hầu Đờ Xanh-mê-răn.

Như thế thì Đăn-tết chẳng trông gì ra khỏi tù được.

Khi xe ghé lại trước cữa nhà cha vợ, quan phó Biện-lý bèn đi thẳng vào phòng khách gặp mẹ vợ, cha vợ, và vợ, bèn phập phồng lá gan nghi vợ mình sẻ xin dung thứ Đăn-tết, vì hồi xế có xin một lần rồi, mà ngặt cô Hai mắc lo việc chồng đi xa, nên chẳng nghĩ đến tánh mạng ai ráo.

Vã lại cô Hai chồng gần cưới, nay vì chuyện Đăn-tết mà chồng phải đi xa chẳng biết chừng nào về, nên mới trù rủa Đăn-tết làm báo hại, ấy mới biết nhơn-tình lãnh nản, thường hay độc thiện kỳ thân.

Nàng dâu kia nghĩ vậy, còn nàng dâu Mẹt-xê-đết nghĩ sao?

Nói về khi quan phó Biện-lý vào nhà rồi thì Cô Mẹt-xê-đết bỏ ra về, đi tới ngã tư gặp Phẹt-năng đứng đó; Mẹt-xê-đết làm thinh đi thẳng về làng Ca-tà-lăn muôn thảm ngàn sầu, nằm đại lên giường thiêm thiếp. Phẹt-năng quì gối gần giường cầm tay Mẹt-xê-đết mà hôn, thấy tay lạnh như đồng, mà Mẹt-xê-đết chẳng hay chẳng biết chi hết.

Cã đêm nằm nín làm thinh vậy, tiêm lụn dầu hao, cho đến trời sáng trưa trợt mà chẳng biết chẳng hay, vì sự đau đớn nó làm cho cặp con mắt dường như đui như mù vậy, chỉ thấy một mình hình dạng Đăn-tết mà thôi.

Một hồi lâu bèn day lại thấy Phẹt-năng, mới hỏi rằng: Uả em, em lại đó hồi nào?

Phẹt-năng thỡ ra mà trã lời rằng: Cã đêm tôi cứ ở đây gìn giữ chị hoài.

Nói về ông Mô-ren tuy công chuyện như vậy, mà chẳng ngã lòng, còn lo chạy cho Đăn-tết.

Nhưng khi ấy ai ai cũng tưởng rằng vua Na-bô-lê-ông chẳng hề khi nào phục nghiệp lại được, nên khi ông Mo-ren tới đâu ai cũng làm lãng làm lơ, ông Mo-ren bèn ngã lòng rũn chí, trỡ về nhà thỡ ra mà than rằng: Việc nầy rất trọng hệ không sao cứu nỗi.

Nói về Ca-đờ-rút có lòng lo sợ bâng khuân, tuy thương Đăn-tết mà biết sao bây giờ, bèn mua hai ve rượu rồi đóng cữa lại, cứ việc uống rượu mà giãi khuây.

Nói về Đăng-lạc chẳng có nhứt điễm lương tâm, cứ việc vui mầng, vì đã làm hại được Đăn-tết rồi, thì bề nào chức Cạp-bì-tên tàu Pha-ra-ông cũng phãi về mình. Vẫn Đăng-lạc là một người hay độc-thiện kỳ-thân, cứ lo mưu nầy thế kia đặng mà kiếm tiền, treo dê bán chó, buôn Lèo bán Mọi chẳng hề gớm tay, dường như nó tự ấu chí trưởng, hằng ngày mép tai giắt cây viết, còn lòng dạ nó là cái bàn toán mà thôi: Nó coi tánh mạng con người chẳng bằng một con số toán cũa nó, nó cứ việc trừ, cọng, nhơn, chia đặng mà nhăn đầu chi lợi.

Hại Đăn-tết vào chốn Đại thiên-lao được rồi, thì nó cứ việc ăn no ngũ kĩ.

Nói về quan phó Biện-lý khi lãnh được thơ cũa ông đờ Xanh-vơ rồi, bèn hôn mặt vợ, hôn tay bà gia cùng là bông-rua nhạc-phụ mà lên đường.

Còn Ết-mông Đăn-tết thì nằm dưới ngục tối mà than thân trách phận khôn cùng, thời vận đão điên, phải sao chịu vậy.