Bước tới nội dung

Tiền căn báo hậu/XIII

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tiền căn báo hậu của Alexandre Dumas, do Kỳ Lân Các dịch
XIII. Bá nhựt triều

XIII
Bá-nhựt-triều.

Ông Noạt-chê quả là tiên tri, nói đâu có đó. Mỗi người đều biết cuộc ông Na-bô-lê-ông ở cù-lao En-bờ thâm nhập Pháp-địa dể như trở tay, thiệt là cuộc lạ thường, xưa nay chưa từng thấy, vậy mà hậu lai cũng không ai bắt chước được.

Vua Lù-y thứ mười tám, chỉ ngăn cản sơ sài chớ không quyết cự đương, ấy cũng bởi vì thất chí không tin lòng quần thần, cho nên chẳng muốn cượng cầu. Hoàng-đồ mới gầy dựng nay lại run rinh, Hoàng-đế Na-bô-lê-ông mới giơ tay, xả tắc đà hưu hĩ.

Huynh-pho được vua cám ơn mà hóa ra vô ích, còn sợ hiểm nguy, cho đến đổi phải giấu cái Bắc-đẩu tứ-đẳng bội-tinh, chẳng dám phô trương, tuy là ông công-tước đờ Bà-la-ca đã y lệnh vua troàn có gởi cắp bằng cho đó rồi.

May phước cho Huynh-pho, nhờ có cha mình là ông Noạt-chê rất oai quờn trong triều bá nhựt[1] đở vớt, chớ không thì sẻ bị Hoàng-đế Na-bô-lê-ông cách chức rồi.

Ấy cũng là cuộc cha con nhờ đi nhờ lại với nhau.

Ông Huynh-pho trong lúc ấy chĩ lo một đều ém nhẹm việc kín cũa mình vì Đăn-tết gần khai ra ráo.

Còn quan chánh Biện-lý bị chúng hồ nghi rằng không một lòng với phe đẳng nên bị cách chức.

Khi Hoàng-đế Na-bô-lê-ông tái phục giang-san rồi, tức thì liền hạ lệnh troàn cấm nhặt chẳng cho sát phạt, mà tại thành Mạt-xây hởi còn rụt rịt, phe đãng sẳn lòng sát phạt những kẻ một lòng với dòng Tôn-thất, hoặc vây nhà, hoặc đón đường làm dữ.

Vẩn cuộc đời đã day trở, thì khi ấy ông Mo-ren tuy là người dè dặt mặc lòng, mà nay đã gặp cuộc khã vi; nhơn cơ hội nầy mà lên tiếng kêu oan ngỏ hầu cứu Đăn-tết.

Chánh Biện-lý đã bị về dân, mà phó Biện-lý còn vững như trồng, song tuy việc đám cưới đã nhứt định rồi, mà phải còn đình lại, đợi thời hữu hạnh sẽ hay.

Nếu Hoàng-đế Na-bô-lê-ông ở ngôi bền bĩ thì bề gì cũng phải kiếm nơi khác mà kết duơn can lệ, thì sẻ có cha là Mông-xừ Noạt-chê lo kiếm chốn hộ đối môn đương. Nhược bằng vua Lù-y thứ mười tám khôi phục được hoàng đồ, thì khi ấy ông Hầu đờ Xanh-mê-rănHuynh-pho sẻ trở nên hưng sùng hơn trước, thì việc cưới gã lại càng rở ràng hơn nữa. (Đầu voi đuôi chuột).

Quan phó Biện-lý nay trở nên nhứt phẩm án-quan tại Mạt-xây, thoạt ngày kia có ông Mo-ren đến xin ra mằt.

Theo thế thường như người khác thì đã lật đật ra nghinh tiếp tỏ dấu mình không có thể thống, chí như ông đờ Huynh-pho là một người thượng trí đã cận thức nhơn tình, biết người biết vật, bèn dạy lính hầu ra nói phải đợi đó, quan lớn mắc việc. Huynh-pho cứ việc coi nhựt trình, đâu một khắc đồng hồ mới dạy lính cho vào.

Ông Mo-ren khi bước vào thì tưởng ông Huynh-pho đã thất chí có dè đâu chẳng đổi sắc chút nào, đàng hoàng nghiêm nghị như thường, cứ lấy việc nho nhả nguội lạnh mà đải người, tỏ dấu rằng ở đời tiểu nhơn quân tữ khác xa ngàn dậm.

Ông Mo-ren tưởng hễ khi nào ông Huynh-pho thấy mặt mình thì sẻ kinh hoàng, ai dè đâu ông Mo-ren phải sợ sệt lại một ông quan oai nghi, đang chống tay trên bàn mà trông đợi.

Ông Mo-ren mới bước vào cữa bèn dừng chơn lại. Ông Huynh-pho nhìn xem dường như không quen thuộc, làm cho ông Mo-ren ngẩn ngơ, cầm nón mà trở qua trở lại.

Đoạn ông Huynh-pho bèn hỏi rằng: Ai đó, phải M. Mo-ren chăng?

— Dạ, phải tôi đây.

— Ngươi hảy đi xơm tới mà nói cho ta biết đến đây có việc chi.

— Té ra ông không ngờ tôi đến đây có việc chi sao?

— Không, nhưng vậy nếu ta có thế thì cũng sẳn lòng làm ơn với ngươi luôn.

— Việc nầy tự lịnh nơi ông.

— Vậy thì xin cắt nghĩa cho ta nghe với.

— Số là trước khi Hoàng-đế đương kiêm nhập Pháp-địa, tôi có đến kêu oan với ông một lần cho người thiếu niên khốn nạn làm chức phó Cạp-bì-tên dưới tàu cũa tôi, bị cáo về tội có giao thông với cù-lao En-bờ, mà có lẻ ông hảy còn nhớ: Khi trước mà giao thông như vậy thì có tội; mà đời nầy tội ấy trở nên công lao với hoàng gia. Khi trước ông làm tôi vua Lù-y thứ mười tám thì ông không dung cho va cũng cho là phải. Mà nay ông làm tôi đức Hoàng-đế Na-bô-lê-ông thì ông phải phù hộ nó, ấy cũng là nhằm việc bỗn phận cũa ông. Nên nay tôi đến hỏi ông, vậy chớ tánh mạng nó ngày nay ra thễ nào.

Ông Huynh-pho ráng gượng mà hỏi rằng: Nó tên chi, xin ngươi hãy làm ơn nói cho ta biết?

— Tên nó là Ết-mông Đăn-tết.

Ết-mông Đăn-tết nào?

Vẫn ông đờ Huynh-pho thà chịu đường tên mủi đạn, chớ chẵng hề chịu ai nói tên Đăn-tết ra, song le ỗng cũng tĩnh tuồng như thường, chẳng hề dùn lắc và nghĩ thầm rằng: Cữ chĩ cách nầy thì họ không cáo mình được rằng vì chuyện tư mà giam cầm Đăn-tết.

— Ngươi nói Đăn-tết nào, lạ dữ be, ta không nhớ.

— Dạ, thưa Ết-mông Đăn-tết bị cáo về tội âm mưu tạo phản.

Huynh-pho bèn làm bộ giở sách nầy, sỗ kia, hộc nọ mà kiếm tên Đăn-tết, rồi day lại mà nói với ông Mo-ren mà hỏi một cách tự nhiên rằng: Ngươi chắc là tên đó sao?

Nếu ông Mo-ren là người thông thạo việc án-đường thì sẻ lấy làm lạ vì quan phó Biện-lý là phi phận sự trong vụ nầy, sao lại đi lục kiếm sổ sách mà làm chi; sẻ lấy làm kỳ sao quan phó Biện-lý không bảo mình vào khám đường mà hỏi dọ tên Đăn-tết đứng sổ khám số mấy. Song le ông Mo-ren chĩ mong có một đều là hể ông Huynh-pho thấy mặt mình đến kêu oan cho Đăn-tết thì sẻ kinh hoàng, mà không thấy dấu sợ sệt lại thấy ngài hạ cố đi lật sách nầy sổ kia làm ơn với mình. Ấy há chẳng phải là ông Huynh-pho biết người biết vật hay sao, nên ông Mo-ren bèn trả lời rằng: Dạ, tôi chắc là tên đó. Vã lại tôi biết nó hơn 10 năm trời, đã làm việc trong hãng tôi được 4 năm. Cách sáu tuần nay, ông cũng còn nhớ: tôi có đến đây mà xin ông lấy lòng nhơn từ tha nó, cũng như nay tôi đến mà xin ông lấy lẻ công bình mà tha tên thiếu niên khốn nạn ấy! Thiệt là khi ấy phe Tôn-thất gắt gao với phe Na-bô-lê-ông quá chừng!

Ông Huynh-pho nay tĩnh táo như thường đáp lại rằng: Ta là phe Tôn-thất, khi ấy ta cũng tưởng dòng Buộc-bông là chánh vì vương, ai hay đâu Hoàng-đế Na-bô-lê-ông thình lình phục nghiệp được, thì ta mới hiểu là khi ấy ta tưởng lầm. Sự tài trí cũa Hoàng-đế Na-bô-lê ông đã thắng trận chiếm được ngôi báu mà vua chánh vì vương thì ai ai cũng còn thương tiếc.

— Luận như thế mới phải cho, tôi lấy làm vui mà nghe và tôi chắc tánh mạng Đăn-tết không sao.

— À, à, ta đã nhớ lại rồi, phải là người bạn biển gần cưới vợ ở làng Ca-tà-lăn chăng?

À, dữ không, nảy giờ mới nhớ, thiệt là việc trọng hệ lắm.

— Sao lại trọng hệ lắm.

— Ngươi có nhớ khi ngươi ra khỏi án-đường rồi, thì lính đã dẩn nó vào khám-đường.

— Dạ, nhớ, rồi sao?

— Rồi ta chạy sớ phúc về kinh, gởi hết tờ giấy xét được trong mình nó luôn theo sớ, ấy là việc bổn phận ta, biết sao bây chừ... rồi sáng ngày sau tên phạm ấy chúng giựt đem đi đâu không rỏ.

— Giựt đem đi đâu?

— Chớ lo, tánh mạng nó không sao, chắc họ dời qua xứ xa cho khác cảnh, có ngày nó cũng sẻ về mà coi tàu cho ngươi.

— Chừng nào nó về, thì sẳn chỗ dành để cho nó đó. Mà sao chưa thấy nó về. Tôi tưởng hể việc đời đã dây trở, thì cái tội âm mưu tạo phản khi trước nay sẻ được hĩ xã, vì hoàng-đế Na-bô-lê-ông đã phục nghiệp rồi.

— Ngươi chớ khá trách móc sớm vậy, vì phải y theo mặt luật mà làm. Lịnh trên đã dạy cầm, thì nay cũng phải đợi lịnh trên dạy tha, mới dám tha chớ. Hoàng-đế Na-bô-lê-ông mới về tới được 15 ngày rày, thì sớ xin hĩ xã các nơi mới vừa tới kinh mà thôi.

— Nay phe ta đã thắng thì bề nào cũng có thế mà thúc hối cho mau tha. Tôi có quen thuộc với vài quan to, để tôi xin bôi sỗ cho Đăn-tết.

— Vẩn cái tội quốc-sự phạm không phải như án tầm thường hòng xin bôi sổ, bởi vì Chánh-phủ có nhiều khi muốn biệt tích tên nào, thì nếu có biên sổ sau sẻ lậu sự ra, mới tính làm sao.

— Ấy là trong đời còn vua dòng Buộc-bông kià, mà nay không phải vậy nữa.

— Đời nào cũng thế, Chánh-phủ truyền kế nhau và giống nhau một thế. Cách trừng trị tù rạt là vua Lù-y thứ 15 lập ra, nay hởi còn y lé tại Bát-tinh thiên-lao (Bastille)! Hoàng-đế lại nghiêm nhặt trong việc trừng trị tù rạt hơn vua bội phần, người bị giam mà không tên trong sỗ thì là vô số.

Quan phó Biện-lý tữ tế, nho nhã dường ấy thì ông Mo-ren không thế nghi nan được, bèn nói rằng: Như vậy thì xin ông hảy giúp chỉ coi tôi phải làm cách nào đặng mà cứu lấy Ết-mông Đăn-tết cho mau ra khỏi thiên-lao.

— Có một thế ngươi phải làm là viết đơn gởi đến cho quan Hình-bộ-thượng-thơ, chớ việc đơn từ ta lấy làm nảo nồng, vì quan Hình-bộ-thượng-thơ mổi ngày tiếp đặng ít nữa là hai trăm cái đơn mà ngài đọc chừng bốn cái là hết sức. Nhưng vậy mà đơn cũa ngươi giơ cho ta ghi chữ ta vào đó gởi cho ngài thì ngài sẻ đọc liền. (Kiếm chuyện gạt cho tới nơi).

— Té ra ông bằng lòng chịu giùm gởi cái đơn tôi lên quan trên hay sao?

— Ta sẳn lòng mà làm ơn với ngươi. Ết-mông Đăn-tết có tội với trào trước, nên hồi đó bổn phận ta phải bắt mà giam cầm, còn ngày nay nó là người vô tội, ta phải giúp mà cứu nó ra.

Quan phó Biện-lý làm như thế thì khỏi lo ông Mo-ren kéo nài chi nữa mà phải bại lộ cơ mưu.

Ông Mo-ren hỏi rằng: Đơn mà làm cho quan Hình-bộ-thượng-thơ thì phải làm cách nào, xin ông dạy giùm?

— Ngươi hảy ngồi lại đây, ta đọc cho ngươi viết. (Xỏ mủi được rồi).

— Ông có lòng tốt tới dường ấy sao?

— Chớ khá nghi ngại, một đến ngồi đây cho mau kẻo mất ngày giờ.

— Phãi phải, ông nói phải, tội nghiệp thằng Ết-mông Đăn-tết, nó ngồi trong tù nó trông nó đợi, đến giờ nầy nó củng đã mỏi lòng rũng chí rồi.

Quan phó Biện-lý nghe nói như vậy thì trong lòng hồi hộp, tưởng có lẻ Đăn-tết ở trong tù sao nó cũng trù ẻo mình, ăn oán nuốt hờn; song buông lao thì phải theo lao.

Bề gì Đăn-tết nó cũng phải chết vì lòng tham tâm vô yểm của quan phó Biện-lý.

Khi ông Mo-ren lại ngồi chỗ quan Biện-lý, lấy viết chấm mực sẳn mà nói rằng: Tôi đợi ông đọc đơn cho tôi viết.

Quan phó Biện-lý bèn đọc cho ông Mo-ren viết, tã lòng trung hậu nhiệt thành cũa Đăn-tết với phe Na-bô-lê-ông; bề gì hể quan Hình-bộ-thượng-thơ thấy cái đơn nầy thì tức thì dạy tha Đăn-tết chẳng sai.

Đơn viết rồi, quan phó Biện-lý lấy mà đọc lớn cùng nói với ông Mo-ren rằng: Làm như vậy mới phải cách. Thôi ngươi hảy yên tâm có ta giùm giúp cho.

— Chừng nào ông tính gởi đơn nầy.

— Nội ngày nay ta sẽ gởi.

— Ông sẻ gạnh ít hàng mà cứu nó?

— Phải, ta gạnh ít hàng mà nhận thiệt những lời ngươi nói trong đơn nầy.

Nói rồi ngồi xuống bèn viết mà nhận thiệt.

Ông Mo-ren lại hỏi rằng: Tôi còn phãi làm việc chi nữa chăng?

— Không, ngươi phãi về mà đợi tin, ta xin bảo lảnh các việc.

Ông Mo-ren bị chúng gạt, hớn hở tấm lòng bèn chạy tuốc về nhà cho ông già Đăn-tết hay rằng con mình vài bữa sẻ ra khỏi thiên-lao.

Còn quan phó Biện-lý thì quyết lòng không gởi cái đơn ấy về kinh đô, một cất lấy ngõ hầu ngày sau lấy đó làm cớ mà hại Đăn-tết, vì coi thời thế có lẻ vua Lù-y thứ mười tám phục nghiệp lần thứ nhì lại được.

Nói về Ết-mông Đăn-tết còn ngồi thiên-lao, nằm dưới khám tối sâu xa, chẳng nghe chẳng hiểu khí số vua Lù-y thứ mười tám đã đão khuynh mà củng chẳng hay biết hoàng-đồ Na-bô-lê-ông đà hưu hĩ.

Quan phó Biện-lý cứ việc châm chĩ xem thời thế. Còn ông Mo-ren đương cơn trào bá nhựt có đến kèo nài với quan phó Biện-lý cho Đăn-tết hai lần, mà bị quan phó Biện-lý gạt hoài, thoạt xãy ra cuộc Na-bô-lê-ông thất trận Hoa-tẹt-lô mà bị lưu, thì vua Lù-y thứ mười tám bèn phục nghiệp lần thứ nhì. Vẩn ông Mo-ren đã hết lòng kêu oan cho Đăn-tết mà đâu chẳng xong đâu, nay qua trào khác bèn ngã lòng, nếu kêu oan nữa thì sẻ bị liên lụy tới mình.

Vua Lù-y thứ mười tám tái dựng ngôi trời thì quan phó Biện-lý nghỉ rằng: Ở Mạt-xây nhiều chuyện đa đoan, bèn xin đổi về làm quan chánh Biện-lý thành Tu-lu.

Về đó được mười lăm bữa, liền cưới con ông Hầu đờ Xanh-mê-răn, nay rất oai quờn nơi huê hạ.

Vẩn trong lúc bá-nhựt-triều và sau khi tàn trận Hoa-tẹt-lô rồi, Đăn-tết cứ ở thiên-lao, người quên mà trời chẳng nhớ.

Nói về Đăng-lạc hay tin Na-bô-lê-ông thâm nhập Pháp-địa, bèn hiểu cái mưu cũa mình đã thành tựu, cáo Đăn-tết vừa rồi thì cuộc xảy ra như ý. Đăng-lạc là đứa tầm thường hay mưu việc quấy tưởng cuộc trùng đối như vậy là thiên-mạng mà thôi.

Song le khi ông Na-bô-lê-ông về tới kinh đô rồi và oai quờn lừng lẩy thì Đăng-lạc có ý sợ; đêm ngày hằng phập phòng sợ Đăn-tết về, hay biết việc mình âm mưu mà trả thù, bèn năn nỉ ông Mo-ren xin thôi, không lảnh việc coi tàu bè nữa và cậy ổng gởi gắm cho một người thương hồ Y-pha-nho. Qua cuối tháng Mars 11, 12 ngày sau khi ông Na-bô-lê-ông tái phục cơ đồ thì Đăng-lạc sang qua thành Mã-trí là kinh đô nước Y-pha-nho, mà làm Còm-mi cho người lái buôn ấy, thì từ ấy về sau không nghe ai nói đến tên Đăng-lạc nữa.

Nói về Phẹt-năng chẳng hiễu gì hết. Đăn-tết vắng mặt thì là đủ cho nó. Còn tánh mạng Đăn-tết ra thể nào thì nó không hề kiếm hiểu. Song trong lúc ấy nhứt diện nó gạt Mẹt-xê-đết, nhứt diện nó tính dời chổ ở mà bắt luôn Mẹt-xê-đết theo. Một hai khi nó lên trên chót núi mũi Ca-tà-lăn là nơi dể thấy thành Mạt-xây và làng Cạ-tà-lăn, mà ngó mông coi có thấy Đăn-tết về báo cừu hay chăng. Bởi ấy cho nên nó nhứt định một là hể nó gặp Đăn-tết thì nó sẻ bắn chết, hai là nó tự vận. Song nó chẳng nói rằng: mình nói thì có mà làm thì không.

Trong cơn rứa chừ có lịnh troàn chiêu binh trong chư châu chư quận, đâu đâu đều ơi nhứt lịnh huy hoàng, chĩ biên cương trực tấn, thì Phẹt-năng phải bỏ nhà, bỏ thương, bỏ nhớ mà đi đầu quân, chĩnh hềm một nỗi, ở nhà sợ Đăn-tết về mà đoạt phức cục thương, cục mến chăng.

Nếu Phẹt-năng là người khí khái thì sao trong cơn phải từ biệt cục thương cục nhớ mà không tự vận.

Nói về cô Mẹt-xê-đết khi Phẹt-năng từ giã ra đi, bèn lấy bao tấu mang vào vai va mà nói rằng: xin em đi ra chốn chiến trường, phải giữ mình làm trọng mà tránh đường thương mủi đạn. Nếu một mai tánh mạng em nan tồn thì chị muôn thảm ngàn sầu, vì không ai nương dựa.

Phẹt-năng nghe nói như vậy thì có lòng mầng mà đoán rằng nếu Đăn-tết không về thì bề gì Mẹt-xê-đết cũng sẻ về tay mình mà thôi.

Khi Phẹt-năng đi rồi thì Mẹt-xê-đết vắng trước quạnh sau, ngó ra thì thấy biển, ngó vào thì thấy đất ruộng chai, dầm dề rơi lụy, thơ thẩn vào ra như điên như dại: khi thì dang nắng đứng ngoài đồng bất tỉnh như trời trồng, cứ nhìn sững thành Mạt-xây; lúc lại ngồi dựa mé biển nghe sóng bỗ ình ình, cứ lưởng lự trong lòng, chẳng biết nên sống mà chờ đợi luổng công, hay là phải gởi mình nơi dòng nước chảy ngỏ hầu dứt giây oan trái cho rồi.

Vốn Mẹt-xê-đết là người chẳng phải nhát gan, song nhờ lẻ đạo mà khỏi tự tận.

Nói về Ca-đờ-rút cũng phải đi tùng quân như Phẹt-năng, song vì lớn tuổi hơn Phẹt-năng và có vợ, nên được đi sau và được bổ ra canh giữ mé biển.

Nói về ông già Đăn-tết khi nghe Hoàng-đế Na-bô-lê-ông bị lưu bèn ngã lòng rủn chí.

Từ ngày con bị bắt đến nay đếm đủ năm tháng chẳn, thì ông già Đăn-tết bèn tắt hơi trong tay Mẹt-xê-đết. Có nhờ ông Mo-ren giúp đở tiền bạc trã tất nợ nần và chôn cất mới đặng ấm cúng nơi mộ phần.

Thiệt ông Mo-ren đã có lòng làm phước mà lại có dạ cảm đương, vì tại hướng nam khi ấy đang rộn ràng binh cách, mà cã gan dám giúp đở cho một người theo phe Na-bô-lê-ông như Đăn-tết vậy thì chẳng phải là chuyện tầm thường đâu, nếu chúng hay được thì chẳng khỏi mang đại họa.


  1. Triều bá nhựt nghĩa là vua Na-bô-lê-ông phục nghiệp trị thế được một trăm ngày rồi bị lưu qua Cù-lao Xanh-tê-le-nờ.