Tiền căn báo hậu/XIV
XIV
Tù dữ và tù điên.
Vua Lù-y thứ mười tám phục nghiệp lại lần thứ nhì được một năm, thì có quan Thanh-tra đi cùng xứ mà xét các khám đường.
Đăn-tết ngồi trong khám tối nghe lính sữa soạn dọn dẹp rầm rầm, thì va định dẹo rằng trong khám có việc lạ xảy ra.
Vẩn quan Thanh-tra đến tại Đại thiên-lao đi từ khám từ phòng mà tra hạch các tội nhơn, coi việc ăn mặc cơm nước trong khám ra làm sao, có vừa lòng không và có ai muốn phàn nàn chuyện chi chăng. Mà cã thảy tội-nhơn đều phàn nàn nói ăn uống không vừa lòng và xin tha ra khỏi tù.
Đoạn quan Thanh-tra hỏi: Còn muốn nói đều chi nữa. Cã thảy đều lắc đầu, vì xin tha ra không đặng thì thôi, chớ không có xin cái chi nữa.
Quan Thanh-tra mĩn cười, day lại mà nói với quan Tổng-trấn rằng: Ta không hiểu làm sao mà quan trên sai ta đi xét cái việc vô ích như vầy. Hể tra hỏi một đứa tù nào thì bèn hiểu ý cã trăm; nghe một đứa nó khai thì sẻ biết trước cã ngàn nó cũng khai y một thế rằng: Ăn uống cực khổ, rằng chúng nó vô tội. Vậy chớ ông còn tội-nhơn nào khác nữa chăng?
— Còn, mà là những tội-nhơn hiểm nghèo, hoặc điên phải bỏ ở khám tối.
— Ấy vậy thì chúng ta hãy xuống khám tối mà xét luôn cho rồi bổn phận.
— Khoan đã, chờ tôi sai đi kêu hai tên lính, vì tội nhơn đó hay làm bậy bởi vì không muốn sống nữa, chém bậy đâm bạ người vô tội hậu bị án xữ tữ cho rồi. Nên tôi sợ quan lớn đi xuống một mình không nên.
— Ấy vậy thì ngài hãy dự bị.
Nói vừa dứt lời kế có hai tên lính chạy lại, rồi cả đoàn kéo xuống thang, hai bên hôi mốc hôi meo làm cho ai ai cũng khó chịu vô cùng.
Quan Thanh-tra bèn hỏi rằng: Ông nhốt ai tại đây vậy?
— Tôi nhốt một thằng tội-nhơn hiểm nghèo, quan trên nói nó là đứa rất lung lăng, đã phạm tội âm mưu tạo phản.
— Có một mình nó ở dưới hay là còn ai nữa?
— Có một mình nó mà thôi.
— Nó ở dưới đặng bấy lâu nay?
— Đặng gần một năm.
— Khi nó mới vô bèn bị nhốt tại đây hay sao?
— Không, song đến khi nó muốn giết người giữ chìa khóa, đem đồ ăn cho nó ăn, thì tôi mới nhốt nó dưới nầy.
— Té ra nó muốn giết người giữ chìa khóa hay sao?
— Phải, thằng giữ chìa khóa là thằng An-tôn đang rọi đèn cho mình đi đó.
— An-tôn, phải vậy hay không?
— Dạ, phải.
Quan Thanh-tra nói: Thằng tội-nhơn nầy tại nó điên cuồn hay sao chớ?
Tên giữ chìa khóa trả lời: Dạ bẩm quan lớn, nó thiệt là quỉ sống.
Quan Thanh-tra hỏi quan Tổng-trấn rằng: Ông muốn cho quan trên hay việc nầy chăng?
— Vô ích, vẫn nó bị phạt như vậy cũng đũ rồi. Nay nó đã trở nên như đứa điên. Trong một năm nữa thì nó sẻ mất trí.
— Được như vậy cũng là có phước cho nó, vì điên đến bực thì không còn biết cực khổ gì nữa.
Thấy rứa thì rỏ quan Thanh-tra là một người nhơn từ, xứng đáng cái trách nhậm bát ái nhơn-loại lắm đó (?)
Quan Tổng-trấn bèn đáp rằng: Ngài luận nghe hữu lý, cái lời luận ấy bày tỏ rằng ngài đã suy nghĩ công cuộc đà đáo để. Vẩn gần đây chừng 20 bước có một Cao-tăng, khi trước là đầu lãnh cách mạng I-ta-li, bị giam tù tại đây từ năm 1811, cho đến nay. Qua năm 1813, Cao-tăng lảng trí, một ngày một hao mòn thân thể, bại hoạt tinh thần: Khi thì khóc, lúc lại cười, khi thì phì nhị, lúc lại ốm o. Vậy ngài muốn đi viếng Cao-tăng chăng. Vì lời luận lý lẻ Cao-tăng vui ngộ hơn thằng nầy.
— Ta sẻ viếng luôn hai gả, thì vậy mới trọn phần trách nhậm.
Vẩn quan Thanh-tra mới đi xét các khám lần đầu, ráng ra sức tra xét kỹ lưởng, đừng cho thiên hạ dị nghị được, nên liền nói rằng: Ta hãy vào khám tên nầy mà xem trước.
— Xin vâng.
Quan Tổng-trấn nói rồi day lại dạy người giữ chìa khóa mở cữa khám.
Đăn-tết ngồi trong góc tối mà hưởng bóng quan âm giọi theo lổ xả hơi mà lọt vào khám, thình lình nghe mở cữa, liền ngước mặt mà xem. Khi thấy có quan lạ mặt đến mà quan Tổng-trấn tôn trọng, có lính theo hầu, có ngục-tốt cầm đuốc rọi đường thì liền hiễu rằng có quan to đến, nên thừa cơ hội mà kêu oan, mau chơn xơm tới chấp tay cầu khẩn.
Lính hầu thấy vậy bèn lấy lưởi lê ngăn cãn, tưởng Đăn-tết có ý làm hại quan Thanh-tra.
Quan Thanh-tra cũng sợ, bèn thối lui lại một bước.
Đăn-tết thấy thế thì biết ngục-tốt dối quan rằng mình là đồ điên nên đó phải đề phòng, bèn trụ thân lại lấy hết bình sanh chi lực mà làm mặt hiền từ khiêm tổn, dừng lời tao nhả mà kêu oan, ai ai cũng đều lấy làm lạ, muốn làm như vậy đặng thữ coi làm như thế có động lòng quan Thanh-tra chăng.
Quan Thanh-tra nghe hết đầu đuôi bèn day lại quan Tỗng-trấn mà nói nhỏ rằng: « Chắc thằng nầy ít lâu sẻ lẩn trí làm tuồng nhơn đức, vì nay đã tỏ dấu hiền lương. Ấy cũng bởi nó sợ quá mà hết dữ, thấy lưởi lê còn biết thối lui; vì thường lề đứa điên chẳng biết sợ chi, ta có thám do việc nầy tại nhà thương điên Sa-răn-tông thì ta đã thấu binh tình rồi.
Nói rồi bèn day lại Đăn-tết mà hỏi rằng: Vậy chớ ngươi muốn kêu oan việc chi.
— Dạ, tôi muốn biết vì tội chi mà tôi bị giam cầm. Xin quan lớn cho án-quan đến tra hỏi tôi: Xin phải lấy lẻ công mà phân xữ, nếu tôi có tội thì xin bắn tôi, bằng tôi là người vô tội thì phải thả tôi ra lập tức.
— Vậy chớ ở đây họ cho mầy ăn uống ra làm sao?
— Tôi tưởng khá, mà tôi không rỏ cho mấy, song việc ấy vô can, mà có một đều rất quang-hệ chẳng những cho tôi là tù hèn, mà quang hệ đến các án-quan, quang hệ đến vua đang trị vì thiên hạ, là bỡi nay tôi đang bị oan ức, người ta vu oan giá họa cho tôi, quan bắt mà giam đại tại đây, chớ không tra gạn cho phân minh.
Quan Tổng-trấn bèn nói: « Hôm nay sao mầy khiêm nhượng dữ vậy, sao mấy lúc trước không được như thế. Mầy có nhớ lúc mầy muốn đập nát óc ngục-tốt, thì lời nói không khiêm cung như bây giờ chăng?
— Sự ấy quả vậy, nên tôi cúi xin người ấy tha tội cho tôi, vì người ấy hằng có lòng tữ tế với tôi luôn... Nhưng vậy mà biết sao, vì khi ấy tôi điên, tôi giận quá thế.
— Nay mầy hết điên rồi sao?
— Không, tôi có điên gì đâu, tại bị giam đây lâu quá nên tâm thần bại hoại.
Quan Thanh-tra hỏi: Giam lâu là từ hồi nào?
— Dạ, từ ngày 28 Février 1815 hồi 2 giờ chiều.
— Mà nay là ngày 30 Juillet 1816, thì mới được có 17 tháng, sao mầy lại nói lâu?
— Mới được có 17 tháng, cha chả, thiệt là quan lớn không rỏ nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại. Tôi ở đây 17 tháng rồi thì tôi tưởng là 17 năm, 17 đời lận.
Nhứt là tôi đây gần giờ huởng phước, nhứt là tôi đây gần cưới vợ tôi thưong yêu bấy lâu, nhứt là cho tôi đây gần lảnh chức cập-bì-tên, nay bị tù lao như vậy thì cực lòng là biết mấy, vạn sự ở đời đều mất ráo, đang hưởng bóng thiều quan, vùng thình lình vô nơi hắc ám, mất sở làm ăn, mất vợ thương yêu, không rỏ cha già chết sống thể nào. Người quen vược biển minh mông tự do tự đắc, nay phải vào ngồi không trong tù lao 17 tháng trời, dầu làm tội chi trên đời cho là trọng hết sức, cũng không lẻ mà phạt nặng nề dường ấy mà. Ấy vậy, xin quan lớn hảy lấy lòng thương xót tôi, tôi chẳng phải xin quan trên ân xá, mà xin hảy lấy lẻ công bình chánh trực, tôi chẳng phải xin quan trên ra ơn, mà xin hảy xữ đoàn, tôi một quyết xin cho án-quan đến đây tra hỏi tôi; tôi là kẻ bị cáo, không lẻ người ta từ chối không cho án-quan tra hỏi tôi.
— Thôi, chuyện rồi ta sẻ tính.
Nói rồi day lại quan Tỗng-trấn mà than rằng: « Vẩn ta thấy tội-nhơn như thế ta động lòng thương xót. Để chút nữa lên trên văn phòng, ông hảy cho ta xem sổ nhập tù của nó »
— Dạ, song quan lớn sẻ thấy nó bị nhiều cái nết xấu, đáng ghê.
Đăn-tết nói: « Dạ, bẩm quan lớn, tôi cũng chán biết không lẻ vô cớ mà quan lớn tự lịnh thả tôi ra được, nên xin quan lớn tư tờ cho quan trên hay biết việc tôi đây, đặng quan trên tra gạn mà xữ đoán cho tôi nhờ, tôi xin có bao nhiêu đó đặng coi tôi đã phạm tội trọng gì mà bắt tôi giam cầm tại đây. Có lẻ quan lớn cũng thấu đáo thá sự rằng: việc chi mà không phân minh, mình phải bất bình thiệt là cực lòng vô cùng.
Quan Thanh-tra kêu lính bảo rọi đường đi qua khám khác.
Đăn-tết bèn thưa vói rằng: « Tôi nghe tiếng quan lớn nói, tôi hiễu quan lớn đã rộng lòng thương xót tôi, xin quan lớn hứa với tôi một lời đễ lại cho tôi trông cậy.
— Ta nói vậy không được, song ta hứa sẻ xét kỉ việc ngươi.
— Như thế thì tôi sẻ được tha, được ra khỏi khám rồi.
— Ai dạy bắt người?
— Bẫm quan lớn ông đờ Huynh-pho dạy bắt tôi, ấy vậy xin quan lớn hãy định liệu với ổng.
— Ông đờ Huynh-pho không còn ở Mạt-xây nữa, từ một năm nay ỗng đà đổi qua thành Tu-lu rồi.
— Nếu vậy thì không chi lấy làm lạ, có một mình ổng thương tôi, mà nay ổng đã đỗi đi rồi thì còn ai mà lo cho tôi, phải mà.
— Ông đờ Huynh-pho có việc chi hềm ngươi chăng?
— Dạ, không, mà ỗng lại có lòng thương xót tôi.
— Nếu ta cứ theo lời ổng để lại, hoặc khi ta hỏi đến ổng thì ta nên tin những lời ổng nói về cũa tánh mạng ngươi, được chăng?
— Dạ, được.
— Vậy thì, ngươi hãy đợi tin.
Đăn-tết nghe nói vậy, liền quì gối xuống, giơ hai tay lên trên không, miệng vái làm dàm cầu nguyện xin Chúa phù hộ ân-công ở đâu xuống cứu lấy mình, không khác nào Chúa cứu thế xuông địa-ngục mà tha những linh hồn đang trầm luân trong đám lữa vậy.
Kế đó cữa khám đóng lại, song lòng tin cậy hởi còn ở lại với Đăn-tết.
Quan Tổng-trấn hỏi quan Thanh-tra rằng:
— Quan lớn muốn coi sổ nhập khám hay là muốn sang qua khám Cao-tăng.
— Ta muốn xét cho rồi các khám, vì nếu ta trở lên trên sáng, chắc sẻ không có lòng nào dạn dĩ mà xuống đây lại nữa thấy cuộc buồn thảm như thế đâu.
— Dạ, Cao-tăng chẳng phải như Đăn-tết, vì trí điên cũa va không có buồn bực như nảo khùng cũa Đăn-tết vậy đâu.
— Vậy chớ va điên làm sao?
— Dạ, điên lạ điên lùng, va tưởng va có của nhiều, có tới một hầm vàng. Năm đầu vào đây thì va xin dâng cho Chánh-phủ một triệu quan tiền đặng xin ra khỏi tù; năm sau va dâng 2 triệu, năm thứ 3 xin dâng 3 triệu, lần lần xin dâng đến 4 triệu, nay va bị giam tại đây gần được 5 năm rồi, nếu va gặp mặt quan lớn chắc va xin nói chuyện riêng mà dâng năm triệu quan tiền đặng xin ra cho khỏi khám.
— Như vậy thiệt là lạ, chớ phải chơi đâu. Vậy mà tên va kêu làm sao?
— Cao-tăng Pha-ri-a.
— Đính bài số 27!
— Dạ phải. An-tôn hãy mở cữa.
Tên giữ chìa khóa vâng lời, tức thì quan Thanh-tra liếc mắt xem vào khám tối cũa Cao-tăng điên.
Thường ở trong Đại-thiên-lao họ hay kêu vậy.
Quan Thanh-tra dòm kĩ thấy có một người quần áo tả tơi nằm dưới đất khoanh tròn trong một cái vòng vẻ bằng phấn đặng lo vẻ hình trắc độ (đo lường) rỏ ràng, coi bộ đang mê trận tính cái vẫn đề gì đó cho ra mối, chẳng khác nào khi xưa ông Ạt-si-mết ngồi đang lo phương giải vây, lính giặc vào nhà mà không hay, nên nó mới giết được.
Bỡi ấy tuy người giữ chìa khóa mở cữa rầm rầm om sòm, mà Cao-tăng chẳng hay chẳng biết. Chừng ngọn đuốc giơ đến gần, mới ngước mặt lên mà xem, thấy thiên hạ vô khám mình đông mới lấy làm lạ. Tức thì lật đật chớ dậy lấy mền vấn choàn như đóng khổ cho khỏi lỏa lồ đặng tiếp khách.
Quan Thanh-tra cứ theo thói thường hỏi Cao-tăng rằng:
— Ngươi muốn nài xin chuyện chi chăng?
— Tôi không có nài xin việc chi mà.
— Vốn ngươi chưa rỏ để ta phân lại cho mà tường: Vẩn ta là quan Thanh-tra, Chánh-phủ sai đi xét các khám đường đặng mà giải oan cho các tội nhơn.
— Nếu vặy thì khác, tôi trông cậy ông sẻ hiểu những việc oan ức của tôi.
Quan Tổng-trấn bèn nói với quan Thanh-tra rằng:
— Đó, có quả như lời tôi nói với quan lớn chăng?
Cao-tăng thưa: Bẫm quan lớn, tôi là bần-tăng pháp danh Pha-ri-a, sanh trưởng tại Rô-ma, làm ký lục cho Thái Giám-mục Rốt-bi-gà-li-o-xi được 20 năm. Qua năm 1811, tôi không hiểu vì cớ gì mà Chánh-phủ dạy bắt tôi, từ đó đến nay tôi cứ kêu oan với Chánh-phủ Langsa và Chánh-phủ I-ta-li.
Quan Tổng-trấn hỏi: Sao lại kêu oan với Chánh-phủ Langsa?
— Dạ, bởi vì tôi bị bắt tại thành Bi-ôm-bi-nô, mà tôi tưởng Bi-ôm-bi-nô cũng như thành Mỹ-lăn và thành Phà-lô-răn-xờ, đã thuộc về nước Langsa rồi.
Quan Thanh-tra và quan Tổng-trấn liền ngó nhau mà cười.
Quan Thanh-tra bèn nói: Việc ấy đã cũ lâu đời rồi.
— Ấy là chuyện thời sự hồi tôi bị bắt, vì khi ấy hoàng-đế Na-bô-lê-ông đã lập ngôi báu Rô-ma cho hoàng-nhi trời mới cho ngài, nên tôi tưởng đức hoàng-đế Na-bô-lê-ông đã lập thành các đều đã vận trù quyết sách là đam giang-san Y-ta-li về một mối.
— Phải, mà nhơn nguyện như thử, chớ thiên lý vị nhiên.
— Thiệt là uổng quá, chớ được như thế thì Y-ta-li mới được cường thạnh.
— Việc ấy có lẻ vậy, song ta đến đây chẳng phải để luận bàn việc đời xưa với ngươi, một tới đây đặng cho rỏ ngươi được nuôi dưởng tữ tế chăng, mà thôi.
— Dạ, khám nào cũng một cách, đồ ăn giống nhau, nghỉa là rất tệ, còn chổ ở rất nê nính, quan lớn cũng đã thấy tạn mặt, song theo công cuộc khám tối như thế cũng là khá lắm. Nhưng các việc ấy vô can, tôi chỉ muốn cho Chánh-phủ hay nhiều việc kín rất trọng hệ.
Quan Tỗng-trấn nói nhỏ nhỏ với quan Thanh-tra: Lảo gần tới cơn đó.
Cao-tăng nói: Bởi ấy tôi lấy làm hữu hạnh mà gặp quan lớn. Tuy quan lớn đến trong lúc tôi đang tính toán đo lường mà không sao. Nếu việc đo lường ấy mà đắc kỳ công thì các cuộc cũa ông Nhiêu-tông bày ra phải đổi lại ráo. Tôi xin quan lớn cho phép tôi ưu tư việc riêng với quan lớn một vài phút, được chăng?
Quan Tổng-trấn nói với quan Thanh-tra: Hồi nãy tôi nói với quan lớn sao, bây giờ có quả vậy chăng?
— Như vậy thì ngài thiệt là thạo nhơn vật trong thiên-lao.
Nói rồi day lại Cao-tăng mà rằng: Đều người xin đó khó mà được.
— Song le, nếu cái đều tôi xin ấy mà nó làm cho Chánh-phủ được lợi 5 triệu quan tiền, thì tưởng có lẻ không khó được.
Quan Thanh-tra khen quan Tổng-trấn liệu việc như thần.
Cao-tăng thấy quan Thanh-tra dợm lui gót thì nói rằng:
— Chẳng cần chi quan lớn sợ, có quan Tỗng-trấn đó, xin cho tôi tỏ nổi khúc nôi cho quan lớn nghe.
Quan Tổng-trấn nói: Cái đều nhà ngươi muốn cho quan Thanh-tra hiểu đó, ta đã nằm lòng, ngươi muốn nói việc tiền tài, hầm vàng cũa ngươi phải chăng?
Cao-tăng ngó sững quan Tổng-trấn; nếu ai mà vô thù thấy được con mắt Cao-tăng thì sẻ thấy rỏ Cao-tăng chưa phải là điên.
Cao-tăng bèn nói: Phải, vậy chớ ông bảo tôi nói việc chi, có bao nhiêu đó mà nói không ai thèm nghe, mới là bức cho chớ.
Quan Tổng-trấn nói với quan Thanh-tra rằng: Cái đều Cao-tăng muốn nói đó, tôi cũng sẻ cho quan lớn biết được, vì hơn bốn 5 năm nay, tôi nghe là đầy lổ tai rồi.
Cao-tăng nói: Ấy là đủ cớ như lời Sấm-truyền nói chẳng sai: ông không khác nào kẻ có mắt mà chẳng muốn ngó, có tai mà chẳng muốn nghe.
Quan Thanh-tra nói: Ngươi phải rỏ rằng Chánh-phủ giàu có phú hữu tứ hải, không cần dùng chi đến tiền tài cũa ngươi, hảy để dành khi nào ra được khỏi thiên-lao mà xài lấy.
Nghe nói vậy, Cao-tăng lỏ mắt trao tráo, nắm tay quan Thanh-tra mà nói rằng: Song le nếu tôi không ra khỏi tù, nếu thiên hạ cứ làm bức tôi, giam mãi tôi đây hoài, hoặc nếu tôi chết rụt trong tù, không trối trăn với ai được cái việc kín ấy, thì bao nhiêu cũa ấy huờn ư thổ thì uổng biết chừng nào. Vậy thì hay hơn để cho Chánh-phủ nhờ một mớ, tôi nhờ một mớ. Thôi, tôi cũng ráng ép lòng mà dâng cho nhà nước đến 6 triệu, nếu quan trên bằng lòng thả tôi ra, thì còn dư lại bao nhiêu tôi cũng vui lòng.
Quan Thanh-tra nói nhỏ rằng: Nếu không biết trước người nầy điên, thì ai nghe nói thế cũng cho là người nói phải, người tĩnh táo.
— Bẩm quan lớn tôi có điên cuồn gì đâu, tôi chĩnh cứ việc thật sự mà nói. Hầm vàng tôi khai ra với quan lớn đó quả có như vậy. Tôi sẳn lòng làm tờ giao kèo với quan lớn, đoạn tôi chĩ chổ cho quan lớn dẩn tôi đến nơi, sai người đào lên cho tạn mặt, nhược bằng tôi nói sai, kiếm không được hầm vàng thì quả là tôi điên, quan lớn sai lính dẩn tôi trở lại khám nầy nhốt lại, tôi đành ở đây chung thân, không còn than van, nài xin gì nữa.
Quan Tổng-trấn nghe nói vậy cười ngất mà rằng: Vậy chớ hầm vàng ngươi nói đó ở gần hay xa?
— Dạ, cách đây chừng một trăm dặm (mổi dặm là 4000 thước Langsa.)
— Thiệt là quĩ quái, nếu cã thảy tù-tội bảo lính dẩn đi viển du như thế, thì chắc họ lừa đảo đặng dĩ đào vi thượng sách, chẳng sai đâu.
Quan Thanh-tra nói: Kế ấy ai ai cũng chán biết, chẳng phải lạ gì.
Nói rồi dạy lại hỏi cao-tăng: Ta vẫn hỏi ngươi ở khám nầy mổi ngày ăn uống vừa ý chăng?
— Dạ, bẫm quan lớn, tôi xin quan lớn thề rằng hể lời khai tôi đây mà có quả như vậy thì quan lớn sẻ tha tôi về, thề như vậy rồi tôi sẻ chỉ chổ cho quan lớn sai người đi đào.
— Ta hỏi ngươi ở khám nầy ăn uống có vừa lòng chăng?
— Dạ, bẩm quan lớn, chẳng phải tôi mưu sự đặng mà trốn lánh gì, tôi bằng lòng ở tại đây, để cho quan lớn sai người đến chổ mà thữ coi lời khai tôi có quả vậy chăng.
— Ta hỏi mà ngươi không đáp từ theo lối.
— Còn quan lớn cứ việc nói lảng, sao tôi xin như thế mà quan lớn khứn cùng chăng, sao không thấy nói. Ấy vậy thì quan lớn chẳng khác nào như sấp tiểu-nhơn kia, chúng nó cứ đề cho tôi là điên, không chịu tin lời tôi nói. Tôi chúc dữ cho quan lớn như tôi cũng chúc dữ cho sấp tiểu-nhơn ấy vậy. Quan lớn chê vàng cũa tôi, thôi thì để vậy cho tôi. Quan lớn không chịu thả tôi ra, thì Đức-chúa-trời sẻ giúp tôi ra khỏi đây. Thôi bây giờ tôi không muốn nói gì nữa.
Nói rồi Cao-tăng liền quăng mền, ở truồn ngồi xuống lấy phấn vể hình mà toán trong vòng đã gạch sẳn dưới đất đó.
Quan Thanh-tra ra khỏi khám bèn hỏi quan Tổng-trấn rằng: Cao-tăng làm gì đó?
— Va toán hầm vàng cũa va.
Cao-tăng nghe nói vậy háy quan Tổng-trấn một cách rất khinh khi.
Tên giữ chìa khóa thấy các quan ra khỏi khám rồi bèn đóng cữa lại.
Khi lên thang thì quan Thanh-tra nói với quan Tổng-trấn rằng: Có le Cao-tăng cũng có tiền tài gì đó sao chớ.
— Đây chắc là Cao-tăng bị một giấc chiêm bao thấy mình có nhiều vàng bạc, chừng thức giấc vùng trở nên điên cuồn.
— Có lẻ vậy, vì nếu va có tiền của nhiều thì sao va không dĩ tài tế thân. (Thanh-tra nầy thế cũng có thói tham-quan).
Tình cảnh như vậy thì Cao-tăng không sao trông ra cho khỏi Đại-thiên-lao, cái danh điên càng ngày một thêm mải thôi.
Chớ phải Cao-tăng khi ấy gặp được Hoàng-đế Ca-li-gư-la hoặc Hoàng-đế Nê-rông, cả hai trị thế Rô-ma, tánh tình ham hố bạc tiền, thì chắc được ra khỏi khám chẳng sai. Song vua chúa đời nay không giống như vua chúa đời xưa, chẳng có lòng cang đảm cứ mắt một, chả dám lộng hiễm, nay phập phồng, hết tưởng mình là thiên-tữ, mà chĩ tin rằng: mình là người thường kia may được ngồi ngôi báu ấy thôi. Khi xưa vua chúa tưởng mình là con trời, nên hay giữ thể thống thượng giái, khó cho phàm nhơn thấu đáo, chí như nay vua chúa một ngày một mất nghi tiết thiên đình, thì tục tữ nó bắt mò theo được.
Thường lệ chánh-phủ chuyên quyền áp chế thì hay làm khổ khắc chúng dân, mà có tánh nhác sợ ít hay muốn cho vạn gia rỏ các việc khổ khắc trong các khám đường, nên hay giấu giếm; đời nào ai mà thấy được tù tội bị tra khão mình đầy những vít tích máu mủ bao giờ, đời nào mà ai thấy được những kẻ vì bị đánh khảo trong tù mà điên, bất quá ở tại khám tối làm rộn cho ngục-tốt lắm thì họ lại dời đến các nhà thương điên, như vậy thì nếp cũng như xôi.
Bởi ấy Cao-tăng Pha-ri-a bị biệt giam trong Đại-thiên-lao mà điên, rồi vì bịnh điên ấy mà phải chết rụt trong tù.
Còn về phần Đăn-tết thì quan Thanh-tra giữ lời hứa, nên khi lên trên đất liền ngài bèn vào văn-phòng quan Tổng-trấn, bảo đem số nhập khám ra xem, bèn thấy ngang tên Đăn-tết có ghi vài câu chữ như vầy:
| ẾT-MÔNG ĐĂN-TẾT: | Là đứa theo phe Na-bô-lê-ông lung lăng thái thậm, ra hết sức bình sanh giúp Na-bô-lê-ông nhập Pháp-địa. Phải biệt giam nó và quảng thúc cho lắm. |
Mấy câu đó tuồng chữ khác hơn tên Ết-mông Đăn-tết, nghĩa là khi Đăn-tết vào Đại-thiên-lao rồi thì họ mới thêm mấy câu nói trên đây.
Lời cáo ấy rất nặng khó mà giải oan, nên quan Thanh-tra bèn gạnh kế đó câu chữ như vầy: « Vô kế khả thi » không thế chi cứu nổi.
Vẩn Đăn-tết thấy quan Thanh-tra hứa sẻ giúp thì lấy làm vui lòng. Từ ngày vào tù đến nay thì Đăn-tết liều chết nên không kể là ngày giờ, nay quan Thanh-tra mà hứa như vậy thì Đăn-tết chắc ra khỏi khám, nên hằng ngày cứ việc đánh tay mà kễ ngày đếm tháng, bèn lấy vôi và vẻ vào vách một câu như vầy « 30 Juillet 1816 » rồi cứ đó mà đếm tới mải, một ngày qua thì ghi một lằng làm dấu.
Bóng thiều quan lẹ nhíp như thoi đưa, mà Đăn-tết cũng không rúng chí, cứ trông tin lành hoài. Ban đầu kể chắc chừng 15 bữa thì sẻ ra khỏi tù, là vì va nghỉ cho quan Thanh-tra không lẻ giải oan liền cho va được. Chừng kỳ 15 ngày ấy đã qua rồi, thì Đăn-tết tự trách rằng: Mình tính rợ quá, có lẻ nào quan Thanh-tra còn đi dọc đường mà giải oan cái gì được, bề gì chừng ngài về tới Ba-ri, thì mới đủ thế cứu mình chớ. Nhưng cuộc đi tra xét các khám trong xứ chẳng phải mau được, bề gì cũng một hai tháng mới rồi. Nên Đăn-tết định lại chừng 3 tháng sẻ ra khỏi tù. Kỳ ba tháng qua nữa mà chưa thấy tin tức, anh ta mới định lại 1 kỳ sáu tháng, tính dồn lại đã được mười tháng rưởi rồi mà không thấy chi hết. Mổi lần Đăn-tết hỏi dọ ngục-tốt thì nó cứ đánh chữ làm thinh như mọi khi. Đăn-tết mỏi lòng mệt trí bèn nghi cho mình chiêm bao thấy người đến muốn giải oan chớ kỳ trung không có gì hết.
Cách một năm quan Tỗng-trấn Đại-thiên-lao thuyên nhặm nơi khác thì ngài dắc theo nhiều ngục-tốt, có ngục-tốt cũa Đăn-tết cũng theo đó.
Quan tân Tỗng-trấn đến phó-lỵ, ngài khồng chịu hỏi tên từ tội nhơn, bèn cứ số đính bài mà kêu gọi thôi. Vẩn trong Đại-thiên-lao nầy có được 50 cái khám, mổi khám có đề số hiệu, tội nào ở khám nào thì cứ số hiệu khám ấy mà đặt tên, nên trong Đại-thiên-lao nay không kêu Ết-mông cũng không gọi Đăn-tết nữa, cứ số 34 mà kêu thôi.