Bước tới nội dung

Tiền căn báo hậu/XV

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tiền căn báo hậu của Alexandre Dumas, do Kỳ Lân Các dịch
XV. Tội nhơn số 34 với tội nhơn số 27
​

XV
Tội-nhơn số 34 với tội-nhơn số 27

Đăn-tết khỗ sở đến đều, không còn chổ chi nói được, vì không ai vĩ đến va, cứ ở rụt xương trong khám tối.

Ban đầu vì lòng trông cậy hãy còn, vì biết mình là người bị hàm oan, nên trí còn kiêu hãnh, song lần lần Đăn-tết thất vọng bèn nghi không lẻ vô tội mà chúng bắt đem giam vào đây; bỡi đó mà họ nói anh ta điên cũng chẳng quấy gì. Hết sức cầu Trời, nay lại cầu người, vì cầu người mà chẳng thấy người cứu giúp thì phải trở lại cầu Trời, chớ biết cầu ai bây giờ.

​Đăn-tết xin ngục-tốt đổi khám, dầu đi ở khám khác tối hết, ướt hơn cũng an tâm, ít nữa là đi chổ khác ở, thấy được chuyện mới mà giải muộn vài ngày. Rồi lại xin cho phải đi dạo chơi trong khám, xin cho mượn sách đọc, mà xin chi chúng đều không cho ráo. Dầu vậy mặc lòng Đăn-tết cứ việc xin hoài. Kiếm dịp đặng mà nói cho bã hơi, lổ tai nghe đặng tiếng nói cũa mình, chớ có nhiều khi một mình trong khám tối, thử nói xàm nghe coi ra thế nào, thì lại dùn mình rởn ốc.

Khi chưa bị hàm oan, thì Đăn-tết mổi lần thấy chỗ nhốt chung tội-nhơn hởi còn ghê gớm thay. Mà nay ở khám tối lại ước chớ chi quan cho ở chung với tội sát-nhơn, man còng, man xiềng, mà được ra đi làm, hưởng chút bóng quan âm. Ngày kia Đăn-tết xin ngục-tốt bẩm lại quan Tỗng-trấn cho phép ở chung một khám với Cao-tăng. Ngục-tốt tuy mặt mày hung ác chớ trong lòng cũng còn nhứt điểm lương tâm, thấy Đăn-tết khổ sở vậy bèn động lòng thương, đến bẫm cho quan Tỗng-trấn hay, ổng ngại nghi cho Đăn-tết xin ở chung đặng mưu sự xúi tội dậy, hoặc âm mưu đào tị, nên ngài không khứn cho phép.

Cầu khẩn với người chả được đều chi, Đăn-tết bèn cầu khẫn với Trời, như lời ta đã luận trên đây. Ngồi không mới nhớ lại các kinh khi trước mẹ day đọc mà không rỏ nghĩa cho lắm, nay gặp cơn nguy biến mới hiểu thấu các lời trong kinh thiệt là có ý vị lắm. Bỡi đó Đăn-tết đêm ngày cầu nguyện luôn. Đọc kinh lớn tiếng, mà không dùn mình rỡn ốc nữa; đọc riết vài ngày bèn mê mẫn thấy Chúa hiện ra, nên Đăn-tết cáo mình mà đọc câu chót kinh « Lạy cha » rằng: Và tha nợ chúng tôi, như chúng tôi cũng tha nợ cho kẻ khác, a-men.

Song le đọc hoài mà không thấy linh thính hiễn hích chi, cứ ở khám tối mà chịu lao khỗ vô hồi.

Đăn-tết lòng tri lần lần ngu mụi, lâu ngày xung tâm phạm thượng, nhiều khi ngục-tốt nghe phải dực mình. Nhiều khi lại đập đầu vào tường, vậc mình vậc mẫy trù ẻo những kẻ làm khốn cho mình, muốn chết cho rảnh, đặng dứt giây oan trái đi cho rồi.

Nghĩ nghị đáo để bèn thấy có hai cách giết mình: một là cách đơn sơ là lấy khăn cột vào song sắt lổ xã hơi mà thắt cổ; hai là làm bộ cũng ăn uống như thường mà tịch cốc, nhịn đói mà bỏ mạng.

​Cách thứ nhứt Đăn-tết chê, vì thường ngày va ghét quân cướp biển, thấy hể khi chúng nó bị bắt thì liền bị quan xữ giảo (thắt cổ) treo trên cột bườm, nên va nói thắt cổ mà chết thiệt là nhục; va bèn chọn cách thứ nhì mà thi hành liền trong ngày ấy. Qua ngày thứ hai Đăn-tết bỏ không thèm đếm ngày mà ghi như lúc trước nữa. Va tính thầm trong lòng rằng: hể ngục-tốt đem cơm vào, va lén đổ trúc ra ngoài song lỗ, dường như đã ăn hết rồi. Ban đầu hởi vui lòng mà làm như cách đã định, song lần lần nó bắt suy nghĩ, sau lại tiếc cơm.

Nhờ nhớ lại lòng sở nguyện: dầu cực thế mấy phải ráng sống mà xem sự đời ra làm sao, nên mới thôi tuyệt cốc. Mấy ngày trước khi thấy cơm thì gớm, mà nay vì bụng đói quá lẻ, thấy nó bắt thèm, ngữi nó bắt muốn ăn, nhiều khi cầm cái dĩa cá ương, hoặc thịt thúi mà ngẫm nghĩ cã giờ, thấy dỉa dơ, đóng meo đóng móc thì muốn tự vận mà thác cho rồi, song nhớ lại phải sống mà coi đời thì mới gượng mà ăn lếu láo. Nay tuổi vừa 26 xuân, hởi còn sống được bốn, năm chục tuỗi nữa, hể trì kỳ chí, thì có ngày cũng thoát được mà. Song trong mình đã mòn mỏi, đi đứng không nỗi đến đỗi mắt lờ tai điếc. Ngục-tốt thấy vậy tưởng tánh mạng Đăn-tết nan tồn, mà Đăn-tết cũng trông chết phức cho mát thân. Cả ngày nằm vậy thì nghe trong mình tê mê tẩng mẩng, bụng hết biết đói, miệng hết khát. Khi nhắm mắt thì thấy chiêm bao mộng mị, thoạt lối chín giờ tối nghe bên tường có tiếng khua động. Thường va hay nghe chuột bò rọ rạy, thì quen, ít hay vụ đến, song nay tiếng khua động bên tường khác hơn mỗi khi, thì Đăn-tết lấy làm lạ, bèn ngóc đầu dậy mà dòm cùng lóng tai nghe thì có tiếng như ai dùng dao, nĩa chi mà cọ vào đá tường vậy. Tuy trong mình khí cùng lực tận song thình lình vụt nhớ đến việc vược ngục. Thiệt cũng là may cho Đăn-tết, vì va cũng đà gần bước vào dị-lộ, may nhờ tiếng khua động ấy mà va tĩnh lại, dừng chơn.

Va bèn nghi rằng: Không chừng, đây có khi thân bằng hoặc người nghĩa họ còn thương mình mà lập thế cứu mình chăng. Hoặc là Đăn-tết tưởng lầm, vì hể gần vào dị-lộ thì hay hồi dương như đèn gần tắc, phải lòa một cái rồi mà chịu tiêu. Song le Đăn-tết cứ châm chĩ nghe tiếng khua động ấy hoài, nghe khua vậy có hơn ba giờ đồng hồ, rồi lại nghe tiếng đá ngã, đoạn đâu đó lẳng lặng như tờ.

​Cách vài giờ có tiếng khua động lại gần mà to hơn khi nảy. Chưa gì là Đăn-tết vụ hẳn đến việc khua động đây, kế đó có ngục-tốt mở cữa bước vào.

Vẫn hơn 8 ngày trường vì quyết chí bỏ ăn mà chết, nên Đăn-tết không vĩ đến ngục-tốt, chẳng thèm nói chuyện chi với va, khi ngục-tốt hỏi thăm coi đau bịnh chi mà không ăn không uống, thì Đăn-tết cứ đánh chữ làm thinh, lúc nào ngục-tốt chăm chĩ ngó, thì Đăn-tết lại day mặt vào tường. Song le bây giờ tình cảnh đã khác rồi, nếu để cho ngục-tốt nghe được tiếng khua động thì có sự khó dể, bề gì va cũng sẻ tầm cho ra cớ thì các việc mơ ước thầm của Đăn-tết chẳng khác nào như mây bay.

Khi ấy Đăn-tết thấy ngục-tốt bâng đồ ăn bước vào khám, thì Đăn-tết bèn lên giọng nói lớn tiếng phàn nàn đồ ăn tệ, rằng ở khám nầy lạnh lẻo quá chừng, đoạn la hét om sòm, trù ẻo phở lở, làm cho ngục-tốt phát giận. Nói cho phải, khi đó ngục-tốt có lòng thương Đăn-tết, thấy va đau liệt chiếu liệt giường, bỏ ăn bỏ uống, bèn xin được một miếng nước thịt và 1 ỗ bánh mới lật đật đem vào cho Đăn-tết ăn.

Song cũng là may cho Đăn-tết, vì ngục-tốt thấy Đăn-tết ó ré thì tưởng là va nóng lắm nên ôn tâm nói xàm, bèn đễ đồ ăn lên bàn xịt xạt đó mà bỏ ra đi.

Ngục-tốt đóng cữa rồi thì Đăn-tết vui lòng mà nghe tiếng khua động rỏ ràng gần một bên mình vậy.

Đăn-tết bèn nghĩ rằng: « Đây chắc là tội-nhơn nào quyết phá tường mà vược ngục, cha chã nếu mà ta được giáp mặt với đó, thì ta sẻ tận tâm mà giúp cho mau thành công.

Đang suy nghĩ như thế, vụt thình lình phát nghi là quan trên sai thợ hồ sữa khám một bên, bèn ngả lòng rủng chí, hết trông hết đợi rồi.

Đăn-tết tính liều mạng đợi ngục-tốt vào mà hỏi coi ai làm cái chi phía bển mà có tiếng khua động vậy, song nếu phải là tội nhơn phá khám thì mới liệu làm sao, cha chả là khó lắm, khó bề tấn thối, không biết làm cách gì đặng cho yên tâm, khỏi báng tín báng nghi. Tư tư thiết thiết mà không ra kế, va bèn xây mặt lại thấy dĩa nước thịt hơi còn lên ngui ngút, va liền lồm cồm đứng dậy ráng gượng lại lấy dĩa xúp mà húp một hơi, cha chã là ngon quá đổi ngon. Bụng đói muốn ăn bánh mà sợ hiểm, vì có ​thấy nhiều khi kẻ bị xiêu phong đói lủi, đến khi chúng vớt được đem lên tàu, thèm ăn ăn lấy trớn, phát ách mà chết tươi. Bởi vậy va bèn lại giường mà nằm nghĩ, nay hết muốn chết rồi nên mới cẩn thận dường ấy.

Lần lần tâm thần tỉnh táo, thân thể huờn nguyên, bèn suy nghĩ mà luận rằng:

— Ta phải làm thế nào cho rỏ âm hao mà đừng hại đến ai. Nếu phải là thợ hồ sữa khám thì hể ta gỏ tường bên nây ít cái, bển họ sẻ dừng tay lại mà nghe cho hiểu ai làm gì gỏ vậy, rồi thì cứ việc làm vì là việc công. Còn nhược bằng là tội-nhơn phá khám, thì hễ ta gỏ tường va liền sợ hải mà thôi khua động, hoặc chờ khuya tối tưởng người ta ngủ rồi mới dám khua động lại.

Trù nghĩ vậy rồi liền đứng dậy đi chỏi hỏi đến bên góc khám lắt đá, bởi nhờ có hơi ướt át lâu ngày đường hồ xi-măn đã mụt, lắt lấy một cụt đem lại gần tường chổ nghe khua động mà dộng ba cái.

Mới động cái đầu thì bên kia liền thôi khua động.

Đăn-tết nín lẳng lặng mà nghe hoài vài ba giờ đồng hồ, mà bên khám bển điềm nhiên không thấy động nữa.

Trong lòng càng vững, Đăn-tết bèn lấy bánh mà nhơi vài miếng, uống vài hớp nước. Mà khá, nói cho phải, nhờ bẫm thọ trời sanh vậm vở, nên trong mình tráng kiện lại như xưa.

Cã ngày lóng tai nghe hoài mà chẳng thấy khua động gì hết. Chiều tối lại cũng không thấy dĩ hơi, thì va chắc là tội nhơn phá khám, lòng vội mừng khắp khởi, dạ muốn sống buân khuân.

Cã đêm Đăn-tết thức con mắt trắng dờ mà chờ đợi.

Qua ngày thứ ngục-tốt lại vào khám đem đồ ăn cho Đăn-tết. Đồ hôm qua nhơi hết rồi, nay sẳn có đồ ăn đem tới thì anh ta cứ việc nhơi, và nín lặng lóng tai nghe hoài, rồi sợ dại, đây tại mình làm động ỗ nên bên khám bển sợ mà không dám phá tường nữa. Suy nghĩ như vậy rồi anh ta bèn đi lên đi xuống, đi ngược đi xuôi trong khám cã ngày, đoạn lại nằm song sắt lỗ xả hơi khám mà làm cho gân cốt dai dẻ lại như thường, sẳn lòng chịu lao khổ mà chờ thời. Khi lun lay song sắt hể mệt thì lại ngồi nghĩ rồi lại lun lay mải, lóng tai nghe, coi bên khám gần có tiếng chi động địa chăng. Nghỉ mà căm gan giận tội-nhơn bển sao lớ vậy không bàn nghĩ mà hiểu rằng bên nây người ta cũng là tội-nhơn, ​đồng thinh khí một lòng muốn thoác nạn như mình, chuyện gì mà sợ không dám phá tường nữa.

Ba ngày trường như thế, ngồi đếm từ phút mà chẳng thấy chi.

May đâu đêm kia khi ngục-tốt đi rảo thăm chừng lần chót rồi, thì Đăn-tết chạy lại kề tai vô vách mà nghe, thì dường như cái vách lay động. Đăn-tết vùng dang ra đi vòng một hồi, đoạn trở lại nghe nữa thấy quả bên kia khám chắc có ai mưu sự gì bển, đây chắc là tội-nhơn bễn trở cách, khi trước dùng xà-ben mà cạy đá làm khua động chúng hay, nay dùng đụt mà xeo thì êm hơn, nhẹm hơn, chớ gì.

Kỷ xét tột xem rồi, Đăn-tết bèn ra tay trợ lực cùng bạn đồng chí, nhưng mà biết lấy chi làm khí nghệ, ngó quanh ngó quất kiếm hoài mà chẳng thấy vật gì đặng dùng cạy đường hồ cho rớt xi-măn. Trong khám tối có ai để dao rựa gì đó hòng mong đi kiếm mà dùng, duy có song sắt ngăn lỗ nhỏ xã hơi mà nhiều khi có thử nhỗ hoài mà nhỗ không nỗi, thì có thử nữa cũng mất công. Nội khám đếm được 1 cái giường sắt, 1 cái ghế, 1 cái bàn, 1 cái lon và 1 cái vò.

Chung quanh giường ấy có nhiều cây thanh sắt đã khóa đinh ốc vào cây, muốn mở cho được mấy cây thanh sắt ấy thì phải dùng đồ mở con ốc thì mới lấy được.

Còn bàn ghế thì không có cái gì dùng được. Khi trước cái lon có quai, mà quai ấy đã mất đi hồi nào rồi. Đăn-tết bèn tính đập bể cái vò lấy miển mài cho bén cạnh thì sẻ khĩ công được.

Tính rồi liền lấy vò quăng xuống đất bể nát, lựa mấy miển to nhọn đem giấu cất trong nệm. Thường tội-nhơn hay đập bễ vò nên ngục-tốt không nghi ngại đều chi.

Cả đêm Đăn-tết công lưng phá đường hồ, song trong khám tối mò làm không được bao nhiêu công, vì phải lấy tay lần mò mà cạy, rờ thấy miển vò bị đá cứng quá phải khờn mủi ráo, anh ta bèn xô giường lại như cũ mà chờ sáng.

Cả đêm và làm và lóng tai nghe thì biết bên khám gần có người cứ việc phá tường.

Sáng ngày ra ngục-tốt vào khám thì Đăn-tết nói với ngục-tốt rằng hồi hôm bâng vò uống nước, ruỗi trật tay xáng bể nát cái vò. Ngục-tốt và đi lấy cái vò khác và cằng rằng mà không vỉ g tới mấy miển bể đó, một hồi đem vò vào khám giao cho Đăn-tết mà dặn bảo phải cẫn thận đừng làm bể nữa.

​Khi trước hể ngục-tốt ra đóng cữa lại thì Đăn-tết hằng xốn xan trong dạ, nay chẳng phải vậy nữa. Mỗi lần ngục-tốt ra đi thì lòng Đăn-tết hớn hở vui mừng. Lóng tai nghe ngục-tốt đi đã xa rồi ảnh bèn nhảy xuống đất xô giường dang ra xem, té ra hồi hôm mình cứ cào nhằm mình đá chớ không trúng đường hồ. Vắn hơi nước lâu ngày nó làm cho hồ ấy rả rời, nên Đăn-tết khi lấy tay rờ đến thì hồ bèn rớt, anh ta mừng khắp khởi. Tuy mỗi lần gở được từ chút, mà lâu lâu cũng được một nắm tay. Nếu cứ vậy cào tới, đừng đụn đá, thì trong hai năm sẻ đào được một cái han bề ngan 7 tấc bề dài 6 thước.

Đăn-tết ngồi mới tiết, chớ chi khi hồi mới vào khám khĩ sự mà đào phá thì ngày nay đã ra khỏi ngục trung rồi, cái nầy để mất giờ ngày than van cầu khẩn. Lọt vào khám từ đó đến nay kể đã sáu năm, dầu việc chi làm chậm thế mấy, ngày nay cũng đã thành.

Nghĩ vậy càng thêm nông trí, ra sức cạo hồ, ba ngày trường cạo sạch bày mặt đá trơn tru. Vách tường khám làm bằng đá xanh, lâu lâu có chêm một cụt đá to ở giữa cho thêm chắc. Cụt đã cạo bày mặt đó là cụt đá to, nên phải ráng mà lay động, Đăn-tết bèn dùng móng tay bấu vào đá đặng lúc lắc mà không sao cục cựa nổi cụt đá to ấy, còn lấy miển vò bễ mà đúc vào đường hồ xeo nạy thì miển vò bể từ đoạn. Làm hết sức mà không kham bèn đứng dậy lau mồ hôi và lo lắng vô cùng.

Nếu như vậy thì khó trông mà thoác nạn, hoặc là cứ ngồi khoanh tay trông cho bển đụt thấu qua, mà biết người bển có chí dường ấy chăng;

Ngẩn ngơ một hồi rồi vùng sanh một trí làm cho hết buồn, cười mín chi mà trù nghĩ:

Vẫn ngục-tốt mổi ngày dùng cát-son thiết bâng xúp vào khám. cát-son thường ngày đựng hai phần ăn, ngục-tốt như đem phát trước cho Đăn-tết thì để lại nữa phần xúp đem qua khám khác, còn như phát sau thì thấy đem vào khám có nữa phần cát-son, vốn cát-son ấy có một cái tay cầm bằng sắt. Đăn-tết nghĩ đến đó, muốn lấy cho được cái tay cầm bằng sắt ấy; nếu phải lao khổ ly tiết mười năm mà mua được vật ấy, thì dạ cũng hân hoan.

Mổi lần ngục-tốt đem xúp vào thì đỗ trong dĩa, đoạn Đăn-tết dùng muổng cây mà ăn. Khi ăn rồi thì Đăn-tết rữa dĩa dẹp bên góc khám. Bữa ấy anh ta ăn rồi rữa dỉa đem để ngay cữa. Chiều ​tối ngục-tốt đem xúp vào khám vô ý đạp bể nát cái dỉa đi. Ngục-tốt muốn rầy Đăn-tết mà nghĩ cũng tại lổi mình một phần vô đó. Nó không dẹp dĩa vào góc, còn mình sao vô ý đạp nhằm.

Miệng thì lầm bầm, con mắt ngó cùng khám kiếm coi có vật chi mà đổ xúp vào đó.

Đăn-tết thấy vậy bèn nói: Chú đễ đở cát-son lại đó cho tôi, sáng mai chừng chú trở lại hảy lấy. Ngục-tốt có tật làm biếng nghe nói vậy vừa lòng, chẳng hơn là mất công chạy lên chạy xuống mà kiếm dĩa khác. Anh ta bèn để cát-son đó mà ra đi. Đăn-tết vui mừng bằng như được ngàn vàng vậy.

Chuyến nầy Đăn-tết ăn hối ăn hả, đoạn ngồi đợi 1 giờ đồng hồ coi ngục-tốt có trở lại mà đòi cát-son chăng, chừng nghe vắn vẻ đâu đó thanh tịnh, anh ta mới nhảy xuống giường xô ra ngoài, lấy cát-son cầm trong tay, đút cái tay cầm bằng sắt vào kẹt đá mà xeo mà nạy thì thấy cụt đá rụt rịt. Ráng làm một giờ đồng hồ mới đem cụt đá ra được, thì trong tường có một lỗ trống bề kinh tâm được 5 tấc tây. Đăn-tết bèn lui cui đi lượm vôi hồ nát đem lại mấy góc khám lấy miển vò đào đất mà phi tan. Đoạn cong lưng đào riết cái lổ tường, vì không mấy thuở mà gặp được cơ hội như vậy, ấy cũng nhờ mưu sự mà được vừa thữa ý vậy. Rồi hừng đông, anh ta nhắt cụt đá đem lấp lại lổ tường, xô giường lại khích vách, đoạn nằm xuống, sáng ra ngục-tốt đem cho Đăn-tết một miếng bánh mì đặng ăn điểm tâm.

Đăn-tết bèn hỏi: Sao chú không đem cho tôi cái dĩa khác.

— Đem mà làm gì, mầy hay đập phá quá. Mầy đã đập cái vò rồi để dĩa giữa đường cho tao không thấy bước nhằm bể ngớu. Nếu mổi đứa tội-nhơn mà như mầy vậy, thì nhà nước phải mạt. Tao để cát-son cho mầy làm dĩa đặng đựng xúp, như vậy cho mầy tởn hết đập phá nữa.

Đăn-tết nghe ngục-tốt nói vậy bèn ngước mặt lên trời mà cám đức Thiên-công xui khiến cho ngục-tốt có lòng ấy, tưởng là làm ngặt Đăn-tết, chớ không dè trao xà-ben cho đó phá khám.

Được một cái tay cầm bằng sắt như vậy Đăn-tết mừng hơn là ai cho vàng cân. Song Đăn-tết lấy làm lạ, là từ khi anh ta phá vách đến nay, thì bên kia khám lại điềm nhiên không nghe khua động gì nữa. Tuy vậy mà chẳng lẻ báng đồ nhi phế, nên Đăn-tết cứ ​việc phá tường, nội đêm thứ nhì cay được 10 nắm hồ. Khi gần đến giờ ngục-tốt vô khám thì Đăn-tết lo dọn dẹp và sữa tay cằm lại ngay thẳng cùng để có nơi. Ngục-tốt đem xúp đỗ vào đó có trộn hoặc thịt hoặc cá. Mổi tuần lể có bốn ngày ăn thịt, ba ngày ăn cá. Cũng là một thế cho Đằn-tết nương đó mà đếm ngày.

Khi ngục-tốt ra đi thì Đăn-tết bèn muốn biết người bên kia khám thiệt bải không phá tường nữa chăng, anh ta lóng tai nghe mà không thấy động địa gì ráo, Đăn-tết thở ra vì chắc là kẻ tội nhơn bển nghi mình. Đăn-tết tuy vậy mà không ngã lòng, cứ việc đào, cạy, xeo, nạy, song qua lối nữa đêm phải ngưng lại vì gặp gổ to nằm ngăn bít miệng lỗ cũa Đăn-tết đã khai được đó. Nay phải tính hoặc đào thân trên hoặc đào thân dưới cây gỗ ấy. Đăn-tết có dè đâu mà gặp củ trối như rứa, bên quì gối xuống mà than rằng:

— Trời đất ôi! Hại tôi chi vậy! Đã thinh không mà chịu hàm oan, rồi lại muốn chết mà chết không được, nay mới mừng một chút chưa kịp no, đoạn gặp cảnh buồn nữa! Có phải là khốn kiếp hay chăng?

Nói vừa tới đó có tiếng hỏi rằng: Ai than trời trách đất bển vậy.

Tiếng hỏi ấy dường như dưới đất cái nói lên.

Đăn-tết rởn ốc lạnh mình thục lui mà nói thầm rằng:

— Tôi nghe tiếng người nói. Ai vậy? xin hảy nói tới. Tuy tôi nghe giọng nói tôi sợ, song xin ai đó hảy tỏ cho tôi biết tánh danh.

— Chú là ai mà lại hỏi tánh danh ta.

— Tôi là một đứa tội-nhơn bị hàm oan.

— Chú ở xứ nào?

— Tôi là người Langsa.

— Tên chi?

— Tôi tên là Ết-mong Đăn-tết.

— Làm nghề gì?

— Nghè đi biển,

— Chịu hàm oan đã bấy lâu nay.

— Từ ngày 28 Février 1815 tới giờ.

— Bị cáo về chuyện chi.

​— Tôi bị cáo về tội âm mưu giúp Hoàng-đế Na-bô-lê-ông phục nghiệp.

— Sao lại phục nghiệp? Vậy chớ ngài đã không trị thế nữa sao?

— Ngài đã nhượng ngôi tại đền Phông-tên-nớp-lô trong năm 1814, rồi bị mông trần nơi cù-lao En-nờ.

Vậy chớ người là ai, vào đây lâu mau mà sao không rỏ các việc ấy?

— Ta vào đây từ năm 1811 tới giờ.

Đăn-tết nghe nói dực mình, té vậy cũng có người đã vào đây trước mình 4 năm mà. Người ấy lại dặn Đăn-tết rằng:

— Thôi, chớ khá đào nữa. Phải nói cho ta rỏ cái lổ cũa ngươi đào rồi đó, từ mặt đất đo lên được bao cao?

— Sát đất.

— Ngươi lấy vật chi mà giấu nó đặng ngục-tốt đừng thấy?

— Tôi lấy giường tấn mà giấu nó.

— Từ ngày ngươi vào khám đến nay ngục-tốt nó có đỗi giường qua chổ khác chăng?

— Không?

— Khám ngươi mở cữa ra phía nào?

— Mở cữa ra đường thông hành.

— Còn đường thông hành ăn ra đâu?

— Ăn ra sân.

— Châu ôi!

— Vậy chớ chuyện chi mà người than châu ôi vậy?

— Số là ta đã tính sai rồi, ta tưởng cái tường cũa ngươi đó là đồn.

— Nếu vậy thì người muốn đào tuốc ra biển sao?

— Phải.

— Nêu người đào được rồi mới tính thể nào?

— Ta nhào xuống biển mà lội ra các cù-lao ở gần lối đây, hoặc lội vào bờ mà thoác nạn.

​— Người có đủ sức lội được chăng?

— Có lẻ nhờ trời phù hộ ta sẻ đủ sức lội, nhưng nay vạn sự đà hưu hỷ rồi.

— Thiệt là hưu hỷ sao?

— Thiệt vậy. Thôi ngươi hãy xô cục đá lấp lại như cũ, cứ điềm nhiên mà đợi tin ta.

— Người là ai xin cho tôi rỏ.

— Ta là...... ta là...... tội nhơn số 27.

— Té ra người có ý hồ nghi tôi sao?

Đăn-tết hỏi vừa giức lời thì nghe tiếng cười gằn rất đao thương thấu đến bên tai. Đăn-tết e cho đó nghi mình nên nói rằng:

— Người ôi! tôi đây vẩn là người có đạo rất thành tín, tôi dám lấy tên Chúa mà thề rằng: thà tôi chịu muôn thác. chớ tôi chẳng hề dĩ hơi với ai đâu. Xin người chớ đành dạ bỏ tôi, vì tôi đã thế cùng lực tận rồi, nếu người chẳng khứn nhậm ngôn tôi ắt tôi vập đầu vào tường mà chết cho rãnh, sau dầu người có ăn năn thì cũng đã muộn rồi.

— Ngươi năm nay mấy tuổi, ta nghe giọng nói dường như trẻ thanh niên.

— Dạ, từ ngày tôi bị hàm oan đến nay, thì tôi không biết nay được bao lâm tuổi, vì tôi không đếm ngày tháng mà hiểu.

— Nếu vậy thì chưa đúng 26 tuổi. trai mới lớn lên chưa có lòng phản phúc.

— Dạ, tôi dám thề với người chẳng hề khi nào biết phản phúc là gì. Tôi dám đoan thệ cùng người lần nữa, là thà tôi chịu muôn thác, chớ chẳng hề phản người đâu.

— Ta gần tính riêng cách khác, song ta thấy ngươi đoan thệ và tuổi hởi còn non, nên ta tin bằng lời, hảy đợi ta một chút, ta sẻ qua bên ngươi mà hội ngộ.

— Chừng nào người qua đây?

— Đễ ta tính lại rồi ta cho hay.

— Thiệt quả người không đành bỏ tôi, người sẻ qua đây, hoặc người cho phép tôi qua bên người, rồi người cùng tôi vược khám với nhau. Nhược bằng trốn không nổi thì người cùng tôi sẻ đàm luận cùng nhau mà nhắc nhở những kẻ mình thương mến. Có lẻ người cũng có thương mến một đôi kẻ chớ.

— Ta vẩn cô thân độc mã, chẳng có bà con.

​— Vậy thì người sẻ thương tôi, nếu người còn trẻ thì tôi xin kết bát bái chi giao, bằng người lảo thành, thì tôi xin kết minh linh chi nghỉa. Vẩn tôi còn cha già, ngày nay nếu còn sống cũng đã gần 70, tôi lại có thương một người nghĩa tên là Mẹt-xê-đết. Có lẻ cha tôi không quên tôi đâu, còn người nghĩa không biết nó có nhớ đến tôi chăng. Tôi sẻ hết lòng thương người như tôi thương cha tôi vậy.

— Thôi, mai sẻ hay.

Đăn-tết nghe nói vậy biết rằng người ấy đã thuận tình rồi, bèn đứng dậy sữa soạn trong khám cùng xô giường khích vách mà giấu lổ tường. Đoạn nằm mà hưởng cuộc hữu hạnh mới ấy, chắc mình từ nầy về sau, dầu trốn không kham, cũng còn có bậu bạn hui hút sớm khuya cùng mình, thì cái gánh nặng sẻ được chia tay mà giùm nhau nhẹ bớt. Cã ngày Đăn-tết cứ việc đi vòng trong khám khoái lạc hân hoan.

Tối lại ngục-tốt vào khám thấy Đăn-tết nằm không cục cựa bèn hỏi rằng:

— Mầy muốn điên nữa sao?

Đăn-tết không ừ hử, ngục-tốt bèn rùng vai bỏ đi ra.

Cã đêm Đăn-tết có ý trông tin mà không thấy bên khám kế đó dĩ hơi; song sáng ra khi ngục-tốt đem đồ điểm tâm đến đó, rồi đi ra, thì Đăn-tết xô giường giang ra, lại gần lổ tường lóng tai liền nghe bên kia gỏ tường ba cái. Anh ta bèn nhảy xuống giường quì gối.

— Phải người đó chăng?

— Phải, mà ngục-tốt vào khám ngươi đà đi rồi chưa?

— Nó đi rồi, chiều tối nó mới xuống đây, chúng ta có giờ đủ mà đàm đạo.

— Vậy thì khĩ sự phá tường được chăng?

— Dạ được, xin người làm liền đi.

Vừa nói giức lời thì thấy lổ tường rung rinh, đoạn thấy đá sụp bày ra một lổ sâu, ở dưới lổ ấy có người ló đầu lên, đoạn lẹ làn mà nhảy vào khám Đăn-tết.