Tiền căn báo hậu/XVII
XVII
Khám Cao-tăng
Đăn-tết khi chun lọt vào hầm, thì phải cuối mà đi lom khom, đi một đỗi thấy hầm càng tới càng chẹt lần, phải lách mình dở gạch lót nền mà chun lên vào khám Cao-tăng. Khi đứng tĩnh rồi thì Đăn-tết ngó xem chung quanh cã khám. Mới xem xáng qua, thì không thấy cái chi lạ con mắt.
Cao-tăng bèn nói:
— Chừng nầy mới có 12 giờ mười lăm, ta còn được vài giờ nữa đặng đàm đạo.
Đăn-tết nghe Cao-tăng nói vậy, liền day chung quanh kiếm cùng khám coi đồng hồ treo đâu.
Cao-tăng thấy vậy bèn cười mà nói rằng:
— Ngươi hãy xem cái bóng sáng mặt trời do theo lổ xã hơi mà chiếu vào vách. Ta cân đó mà độ giờ khắc, các vòng vẻ xuôi, vẻ dọc đó là độ theo vòng trái đất chạy, một là lăn tròn, hai là chạy vòng chánh dương (mặt trời). Nhờ vậy mà ta biết giờ chắc hơn cũng như ta có đồng hồ vậy, mà thường đồng hổ hay đi sai, chớ mặt trời và trái đất chẳng hề sai siễng bao giờ.
Đăn-tết không hiểu gì ráo. Từ ấu chí trưởng thấy mặt trời sớm mai mọc, chiều lặng thì tưởng là mặt trời đi, còn trái đất thì nằm yên một chổ. Nay nghe Cao-tăng cắt nghĩa cuộc trái đất vận động vậy thì Đăn-tết lấy làm lạ lùng cho là huyền diệu vô cùng, đoạn nói với Cao-tăng rằng:
— Tôi nóng muốn coi các món đồ quí báu cũa ông đó.
Cao-tăng liền đi lại gần lò lữa cũ, lấy đụt xeo nắp lò đặng lấy đồ giấu ở trong đó đem ra cho Đăn-tết xem mà nói rằng:
— Ngươi muốn xem món nào trước?
— Tôi muốn xem cuốn sách cũa ông đã soạn về cuộc lập Tổng-vương-quyền tại xứ I-ta-li đó.
Cao-tăng liền lấy hai ba xấp vãi xé ra từ rẻo đóng quyện lại như sách lá buông (cũa các sãi Cao-mên vậy). Mỗi tờ đều có đính số thứ tự, viết chữ nhõ mà Đăn-tết đọc được, vì Cao-tăng dùng tiếng I-ta-li mà tỏa cuộc, vẫn Đăn-tết là dân ở xứ Bà-rô hoãnh-xanh, nên biết chữ I-ta-li.
Cao-tăng nói:
— Cách 8 ngày nay ta đã viết giức tay, để chữ chung sau cùng bổn truyện nầy, đếm đặng 68 tờ. Đó là dùng hai cái áo và mấy cái khăn hĩ mũi mà làm ra. Ngày nào họ thả ta ra thì ta sẻ đi tìm một người Ấn-công cang đảm, nếu va dám ấn hành sách nầy thì ta chắc công thành danh toại.
— Dạ, chắc vậy. Xin ông hãy lấy mấy cây viết ra cho tôi xem thữ.
— Đây nè.
Đăn-tết cầm coi thì thấy cán nó bằng cây, bề dài 1 tất ngoài, trước đầu có dùng gân cá mà cột xương đầu cá vào đó, vót dẹp, cái mũi xễ ra làm hai như ngòi viết thường vậy.
Đăn-tết lấy làm lạ không hiểu Cao-tăng dùng vật chi đặng vót ngòi viết được như vậy.
Cao-tăng thấy mới hỏi:
— Ngươi muốn kiếm con dao phải không. Đây nè, thiệt là công trình lắm đó, vẩn ta lấy chui đèn cũ bằng sắt mà làm ra được hai con dao, 1 con nhỏ, một con to. Dao nhỏ bén như dao cạo, còn dao to dùng làm độc-kím cũng được vậy.
Đăn-tết lấy từ món mà xem rất châm chỉ như khi vào các tiệm bán đồ lạ tại Mạt-xây mà xem vậy.
Cao-tăng nói:
— Còn mực, ta đã nói rồi, chừng nào gần hết thì ta dùng rượu chát trộn với lọ nghẹ mà dùng.
Đăn-tết nói:
— Có một đều tôi lấy làm lạ: Công chuyện như vậy thì có giờ đâu đũ mà làm được hết.
— Ta làm tới ban đêm nữa.
— Té ra ông bổn-tánh là mèo hay sao mà ban đêm tăm tối thấy được mà làm.
— Không phải vậy, vẩn Chúa sanh người ta ra đã phú trí hóa, mình hãy bày biện lấy mà dùng, nên ta bày đốt đèn làm việc ban đêm.
— Ông lấy chi mà đốt đèn.
— Thịt bò mà ngục-tốt đem phát cho ta ăn đó, ta lấy mở để dành, đoạn nấu lại mà làm đèn bạch-lạp.
Nói rồi Cao-tăng đưa cho Đăn-tết coi một thếp đèn mở bò giống như thếp đèn họ hay dùng đốt trong các ngày lể vậy.
— Ông lấy lữa đâu mà nấu?
— Ta dùng hai cụt đá và 1 miếng dẻ đốt thành ra thang mà lấy lữa.
— Ống diêm đâu mà làm.
— Ta giã đau ghẻ, xin ngục-tốt cho chút lưu hoàn (sanh) đặng trị bệnh ngoài da, ta dối vậy đặng lấy sanh làm cây quẹt.
Đăn-tết nghe nói các việc bèn vịn bàn, cúi đầu xuống mà suy nghĩ, rất khâm phục cái chí cả công dày cũa Cao-tăng.
Cao-tăng nói:
— Còn nữa mà, chưa hết đâu. Vì ta há đi không cẫn thận, đem hết gia tài mà giấu vào một nơi hay sao.
Nói rồi hai bà con cùng nhau khiên tấm đá bịt miệng lò lữa lại, Cao-tăng lấy buội rải trên mặt đá, lấy chơn thoa cho lấp lằng, đoạn đi xơm lại giường ngủ, xô ra mà lấy đồ. Trên đầu giường Cao-tăng khoét trong tường một lổ, lấy đá làm nấp bịt-khít mí lại, đặng giấu một cái thang giây, bề dài có sáu bảy thước tây.
Đăn-tết lấy coi, thiệt là chắc quá chừng, đoan hỏi rằng:
— Ông dùng giây ở đâu mà làm đó?
— Trước ta dùng áo lót mà xe giây, sau lại tại khám Phơ-nết-trenh ta ăn cắp đường viền vãi trải giường mà làm nhợ. Khi họ giãi ta về Đại-thiên-lao đây, ta giấu đem theo vào khám thắc thang nầy mới hoàn tất đây.
— Ông làm vậy mà họ không thấy sao.
— Ta có may mấy đường viền lại.
— May bằng gì?
— Bằng kim đây nè.
Nói rồi vẹt áo ra cho Đăn-tết xem một cái xương cá hình dài như cái lẹm vậy.
Cao-tăng nói:
— Vẫn khi trước ta tính phá song cữa lỗ xả hơi nầy đặng trốn ra ngoài. Sau coi lại thì việc không nên làm, vì hể ra khỏi đây, sẻ lọt tuốc ra biên ngoại thì chẳng khác nào thoát nói lưởi thỏ, mà lọt vào bẫy cheo, không có ích chi ráo.
Song ta không bỏ cái thang giây nầy, quyết thừa dịp tốt mà dùng đặng vược ngục.
Đăn-tết tuy là cầm thang giây mà xem, chớ trong lòng đang suy nghỉ việc khác; trong nảo thinh không sanh một trí rằng: Người nầy thiệt là bát lảm thông minh, ắt có lẻ sẻ giúp mình cho rỏ trong đụt nơi vòng khốn khó cũa mình đây, vì đương cuộc dã mê, bàn quan dã liệu, (việc mình thì quáng, chớ việc người thì sáng).
Cao-tăng thấy vậy tưởng Đăn-tết khâm phục mình bèn hỏi:
— Vậy chớ ngươi suy nghĩ đều chi đó?
— Tôi nghĩ đến hai đều mà kinh tâm: một là, vẫn ông bị ly tiết mà làm được các món lạ lùng vậy, nếu ông thong dong tự tại thì mới tài ba là dường nào?
— Có lẻ nếu thong dong thì không làm chi nên dáng, cái não-cân mắc lo việc bá vơ. Bởi có bị khốn đốn như vậy thì não cân mới trổ nhiều trí hay.
Thường lề phải có không-khí đè ép thì sấm mới dậy. Trí hóa ta khi thong dong thì hay vẫn vơ, đến lúc bị giam cầm nó bèn ngưng tụ lại một nơi chật hẹp mà chọi nhau, mà người có lẻ cũng biết rằng: Tại hai chòm mây chọi nhau mà thành ra điễn-khí, điễn-khí mới chớp nhán, chớp nhán mới sanh yến sáng lòa trời.
— Dạ, tôi không hiểu đều ấy. Những tiếng ông mới nói đó, thiệt tình tôi không hiểu nghĩa lý nó ra làm sao. Thông thái như ông vậy, thiệt là lấy làm toại chí vô cùng.
— Ngươi còn nghĩ một đều nữa, đều ấy ra làm sao, nói nghe?
— Hai là, ông đã khai lý lịch cũa ông cho tôi nghe, còn tông tích tôi, ông chưa tường trong đục.
— Ta chán hiễu rằng ngươi hởi còn thanh niên, chưa nhiểm trần là bao nhiêu, nên cuộc tang thương còn ít lắm.
— Dạ, cuộc tang thương tôi rất trọng hệ vô cùng. Tôi vẫn bị hàm oan, tức mình ấm ách cũng bằng té cây. Thậm chí nhiều khi nó bắt tôi muốn lộng ngôn, phạm thượng Chúa-trời, đặng trã thù với những kẽ hảm hại tánh mạng tôi.
— Té ra, ngươi cứ nói chúng vu oan giá họa cho ngươi, phải không?
— Dạ, thiệt tôi là kẻ vô cô (vô-tội). Tôi dám thề trọng rằng tôi không có làm những việc họ cáo tôi đó đâu.
Cao-tăng nghe vậy liền cất đồ, xô giường lại chổ cũ, đoạn bão Đăn-tết rằng:
— Ngươi hãy thuật hết chuyện cũa ngươi cho ta nghe.
Đăn-tết bèn tự thuật rằng khi ở ngoài có ở bạn tàu buôn, qua giao diệc bên Thiên-trúc một chuyến, qua lại tại Đông-biên ba chuyến; lần chót khi ông Cạp-bì-tên tàu mất, mới lảnh quyền đở chức chúa-tàu, đem thơ trao cho quan Đại-tướng-quân, có gặp mặt Hoàng-đế Na-bô-lê-ông, rồi về tới xứ tìm trao thơ cũa quan Đại-tướng-quân gởi cho ông Noạt-chê. Trong cơn dọn lể hỏi pha lễ cưới nàng Mẹt-xê-đết, thình lình bị bắt giữa tiệc trung. Quan tra hỏi rồi dạy tạm giam, đoạn giãi ra Đại-thiên-lao đây. Thuật tới đó hết chuyện, chớ từ đó đến đây không nhớ gì ráo, thậm chí ngày giờ cũng quên hết, không rỏ vào nơi ly tiết đã bấy lâu nay.
Cao-tăng nghe rỏ đầu đuôi tự sự bèn suy nghỉ sâu xa một hồi mà nói rằng: Khi nảy ta đã nói với ngươi rằng con người ngoại trừ cái bầm thọ tệ, thì thường có bổn tánh rất lành, chẳng hề chịu hại mạng sanh linh, hoặc làm đều đại ác. Song le cuộc văn-minh nó làm cho là phải sanh nhiều việc túng tíu cần dùng (khiếm phạp), sanh việc tội tình, sanh tâm ham hố, nhiều lúc nó làm cho ta vặn nài bẻ ách, cãi cái bổn-tánh, nghịch cái thiên lương, đặng làm quấy. Bởi đó mới sanh ra cái lời tục ngữ rằng: Muốn bắt đặng phạm nhơn, trước phãi xét coi tội nó làm đó, có ích lợi gì cho ai chăng.
Ấy vậy, việc ngươi bị chôn vùi trong chốn tâm tối đây, có ích lợi gì cho ai chăng?
— Không ích lợi chi cho ai. Trời ôi! ích lợi gì cho ai, vì tôi là một đứa bạch thủ vô danh.
— Đừng có nói như vậy mà lầm; lời ngươi thốt vậy rất phi lý, bất minh-triết, đại phàm cuộc thế thường hay có ăn chịu nhau, tương đối, tương hệ nhau luôn. Từ thiên-tữ ngăn đường kẻ hậu tấn, cho đến kẻ làm quan thiệt thọ, lấp ngỏ người hậu bổ đang chờ, thì đều có việc đối đầu, quan hệ mà. Nếu vua đang kim mà mất, thì Sừ-vương lên ngôi, ví như kẻ làm quan thiệt thọ mất, thì người hậu bổ đãi khuyết trám chức liền, lương bỗng nhiều hơn chức củ, ấy là căn bổn cũa kẻ làm quan, như cũa triều đình hiến cấp cho vua vậy.
Từ áp trưởng thường xuyên cho đến cực phẩm đại thần, đến bậc đế vương, mỗi người dầu bữa nào cũng đều có cô hồn sống theo vây phũ mà bòn bỏi, hoặc mong lòng tím đoạt chức quờn luôn. Bực nhỏ thì ít mà hể càng cao danh vọng, thì càng nhiều đứa lâm le.
Ấy vậy, hồi đó ngươi gần lên chức Cạp-bì-tên tàu Pha-ra-ông phải không?
— Dạ phải.
— Có ai chong mồng chốc mỏ cho ngươi đừng làm được chức ấy chăng? Có ai đem dạ bất lương muốn phân vợ rẻ chồng ngươi chăng? Ngươi hãy trả lời từ câu cho phân minh. Vì khi muốn giải cái vẫn-đề chi, thì trước phải giữ lớp lang, thứ tự.
Vậy chớ có ai thủ ích lợi trong vụ người hụt làm chức Cạp-bì-tên chiếc tàu Pha-ra-ông chăng?
— Dạ, không, vì ở dưới tàu bạn bè mến tôi lắm. Nếu chũ hãng mà để cho bạn tàu công cữ Cạp-bì-tên thì chắc họ chọn tôi. Song có một người có đũ cớ mà thù tôi, vì lúc trước có mích nhau, tôi có khít bán nó, bão nó thí vỏ với tôi, mà nó không dám.
— À há! Tên người ấy là chi?
— Dạ, nó tên là Đăng-lạc.
— Nó làm chức chi dưới tàu?
— Dạ, nó làm tài phú.
— Nếu được lảnh chức Cạp-bì-tên rồi ngươi sẻ dùng nó chăng?
— Dạ không.
— Vì sao?
— Vì tôi có thấy nó có làm một đôi đều bất phải.
— Khi ngươi nói chuyện với ông Lơ-cà-le đang hấp hối, thì có ai thấy chăng?
— Dạ, không có ai thấy.
— Họ không thấy, mà có ai lén nghe không?
— Dạ, có lẻ có người nghe đặng, vì khi ấy cữa không đóng. À tôi nhớ hồi đó Đăng-lạc có đi ngang qua cữa, là khi ông Lơ-cà-le trao cái gói cho tôi đó, dặn phải đam cho quan Đại-tướng-quân.
— Vậy sao! việc gần ra mối rồi. Còn khi ngươi ghé lại Cù-lao En-bờ, ngươi có đem ai theo lên bờ không?
— Dạ, không.
— Đến nơi họ có giao cho ngươi một cái thơ phải không?
— Dạ, quan Đại-tướng-quân có giao cho tôi một phong thơ.
— Thơ ấy ngươi đem đi đâu?
— Dạ, tôi bỏ nó vào tập mà cất.
— Hồi ngươi đi lên bờ có đem cái tập theo sao, túi bạn biển bao lớn mà đễ tập cho vừa?
— Dạ, tôi đem thơ về dưới tàu mới bỏ vào tập, để trong phòng tôi.
— Khi ngươi lảnh thơ rồi đi xuống tàu, ngươi cầm thơ nơi tay, hay là giấu trong túi áo?
— Dạ, tôi cầm nơi tay mà xuống tàu.
— Khi ngươi cầm thơ xuống tàu, ai ai cũng đều thấy, phải không?
— Dạ, phải.
— Đăng-lạc và cã bạn tàu đều thấy?
— Dạ, phải.
— Ấy vậy, ngươi hảy định trí mà nhớ lại coi cái thơ rơi họ cáo ngươi ấy, giọng nói ra làm sao.
— Dạ, tôi có đọc đi đọc lại ba lần, nay hởi còn nhớ ràng ràng trong trí.
— Đọc lại nghe thữ?
Đăn-tết định trí một hồi rồi đọc như vầy:
« Bẩm quan Biện-lý đặng rõ,
« Tôi là người phe tùng dòng tôn thất và đạo Thiên-chúa, đến đầu cáo cho quan lớn hay rằng: Tên Ết-mông Đăn-tết là phó Cạp-bì-tên tàu Pha-ra-ông ở thành Xi-miệt chạy về Mạt-xây, dọc đường có ghé lại thành Nấp đặng vua Mư-ra là em rễ vua Nã-bá-luân giao văn-thơ cho Đăn-tết đem qua cù lao En-bờ mà trao cho vua Nã-bá-luân là người tiếm ngôi nước Langsa, cùng lãnh một cái thơ cũa quan Thượng-tướng-quân Bẹt-trăn đem về Paris giao cho hội đại-biễu phe cũa vua Nã-ba-luân.
Phãi bắt va mà xét lấy thơ, hoặc tại mình. hoặc tại nhà cha va, hoặc ở dưới phòng tàu Pha-ra-ông, thì quan lớn sẻ rỏ cơ mưu. »
Cao-tăng nghe rồi, rùn vai mà nói: Thơ rơi nói rỏ ràng, có lẻ nào ngươi không nghi cho ai sao?
— Cha chã, nó ngổ dường ấy sao?
— Vậy chớ tuồng chữ thường ngày cũa Đăng-lạc ra làm sao?
— Dạ, nó viết chữ tốt lắm.
— Còn tuồng chữ cái thơ rơi thế nào?
— Dạ, chữ viết nằm xiêng qua phía tả.
Cao-tăng nghe vậy bèn mĩn cười mà hỏi rằng: Tuồng chữ giả phải chăng?
— Dạ, thiệt là tuồng chữ giả.
— Hễ ta nhạo lại coi trúng chăng?
Cao-tăng nói rồi bèn lấy viết chắm mực cầm tay trái mà viết vài hàng theo giọng nói cái thơ rơi ấy.
Đăn-tết thấy tuồng chữ vùng thối lui, dùn mình, đứng ngó Cao-tăng chết trân, rồi nói rằng:
— Cha chả, thiệt là quái sự phải chơi đâu. Sao tuồng chữ ông nó giống hệt tuồng chữ thơ rơi cáo tôi vậy?
— Bởi vì cái thơ rơi cáo ngươi đó, họ cũng viết bằng tay trái, mà ta có tầng thấy một đều......
— Đều chi, ha ông?
— Là tuồng chữ mà viết bằng tay mặt, thì đều khác nhau, mà hể dùng tay trái mà viết thì 1000 tuồng cũng đều giống nhau ráo.
— Đó ông đã nghe rỏ chuyện tôi tự thũ chí vĩ rồi.
— Ta còn muốn hỏi người nhiều đều nữa.
— Dạ, tôi sẳn lòng nói cho ông rỏ.
— Có ai mong lòng mà hại ngươi đừng cho cưới đặng cô Mệt-xê-đết, đặng cho nó choán đám chăng?
— Dạ, có, là tên trai phải lòng nó đó.
— Tên trai ấy tánh danh là gì.
— Dạ, nó tên là Phẹt-năn.
— Tên Y-pha-nho, phải không?
— Dạ, phải, nó là dân Ca-tà-lăn.
— Ngươi có nghi cho thằng Phẹt-năn làm cái thơ rơi đó chăng?
— Dạ, không, nó dốt và cộc lắm, không hề tiềm tâm như rứa, biết đâm, chém, chớ không biết làm thơ rơi, đầu khống gì đâu.
— Phải, tánh tình dân Y-pha-nho như rứa, thà chán chường sát nhơn, chớ chẳng hề hại thầm ai đâu.
— Vã lại Phẹt-năn làm sao biết rỏ việc cũa tôi mà đầu cáo như thế được.
— Ngươi không hề nói cho ai hay việc đó, phải chăng?
— Dạ, tôi chả cho ai hay cả.
— Cho đến mèo ngươi là cô Mệt-xê-đết, ngươi cũng giấu không nói ra, phải chăng?
— Dạ, cho đến đỗi vợ tôi gần cưới, mà tôi cũng không dĩ hơi.
— Vậy thì là Đăng-lạc làm thơ đầu cáo chớ chẳng phải ai đâu.
— Dạ, nay tôi tin chắc là nó, không còn nghi ngại gì nữa.
— À, Đăng-lạc có quen lớn với Phẹt-năn chăng?
— Dạ-không. — à.... à.... dạ tôi nhớ rồi.
— Nhớ cái chi ha?
— Dạ, chiều áp bữa tôi làm lể hỏi vợ tôi đó, thì tôi có thấy chúng nó tụ nhau ngồi tại Phần-hờ mà uống rượu đàm đạo nhau, Đăng-lạc thì đốc phách, khi ngạo, thằng Phẹt-năn thì mặt mày tái sắc, nộ khí xung thiên.
— Hồi đó có hai đứa ngồi với nhau uống rượu, hay là còn ai nữa chăng?
— Dạ, có tên Ca-đờ-rút là người ở gần tôi, chắc đã làm quen lớn với nó, nên xúm nhau đó mà đàm luận, mà khi ấy Ca-đờ-rút đã say mèm rồi...... Cha chả, sao tôi điên quá, không nhớ, chớ hồi đấy tôi đi ngang qua đó, tôi thấy trên bàn có để viết, giấy, mực...... À! thiệt là quân khốn kiếp, quân súc-sanh mà.
Cao-tăng cười mà nói rằng: Ngươi muốn biết vài đều nữa chăng?
— Dạ, ông là người thông thạo việc đời, hay truy nghiệm sâu xa, vậy thì xin ông làm ơn luôn coi vì sao mà họ tra tôi có một lần rồi đam tôi giam tại đây, chớ không xữ đoán, lên án gì hết vậy?
— Việc nầy đây có trọng hệ một thí; vì cuộc đề-hình thường có nhiều mối kín nhẹm, khuất lấp, khó mà truy nghiệm cho tường. Chuyện nãy giở mà truy ra được mối thằng Đăng-lạc và thằng Phẹt-năn đó, là chuyện dễ như trở tay; còn qua việc xữ đoán thì ngươi phải cho ta rỏ nhiều đều rồi ta sẻ đoán cho.
— Dạ, xin ông hỏi tôi, vì ông thấy công việc rỏ ràng hơn tôi, việc mình thì quáng, việc người thì sáng là vậy.
— Khi ban đầu ai tra hỏi ngươi, quan Biện-lý, quan phó Biện-lý hay là quan tra-án?
— Dạ, quan phó Biện-lý tra hỏi tôi.
— Quan phó Biện-lý ấy trẻ hay già?
— Dạ, trẻ, lối chừng 27, 28 tuổi trở lại.
— Ấy vậy thì hởi còn thanh liêm mà lòng đang chờm ố công danh. Sao, quan phó Biện-lý đải ngươi cách nào?
— Dạ, ngài đải tôi rất nho nhả.
— Ngươi có thuật thiệt sự cho va nghe chăng?
— Dạ, tôi đã thuật ráo cho ngài nghe.
— Trong cơn tra hỏi vậy, ngươi có ý coi va có đổi cách chăng?
— Dạ, khi ngài đọc cái thơ cũa quan Đại-tướng-quân, thì ngài tái sắc, tâm thần coi hơi tán loạn, dường như có lòng thương xót tôi vậy.
— Thương xót ngươi cái gì?
— Dạ, thấy tôi gặp việc vô phước mà thương.
— Ngươi có chắc, thấy ngươi vô phước mà va thương ngươi chăng?
— Dạ, tôi không chắc, song vì tôi thấy ngài tữ tế với tôi, nên tôi tưởng vậy.
— Tữ tế cách nào?
— Là ngài đam cái thơ quan Đại-tướng-quân đốt mà phi tan giùm cho tôi.
— Ngươi có chắc là va đã đốt cái thơ đó rồi không?
— Dạ, chắc lắm, ngài đốt trước mặt tôi.
— Ấy vậy, ngươi chớ tin người đó mà lầm, có lẻ là một tay gian hùng đệ nhứt đa.
— Ông làm cho tôi rởn ốc; té vậy thế gian nầy chẳng là đầy dẩy cọp, hùm, sấu, rắn sao chớ!
— Phải, mà cọp, hùm, sấu, rắn bốn chưn còn hởi vừa vừa, có giống hai chưn nó càng thêm độc ác thê.
— Dạ, xin ông hỏi tới.
— Thinh không quan phó Biện-lý đem cái thơ đó ra đốt phải không?
— Ngài và đốt và nói rằng: Ngươi có thấy chăng, chỉ có một cái thơ nầy làm tan án, chứng cớ mà thôi, mà ta rộng lòng hà hải hủy tuyệt, đặng phi tan cho ngươi đó.
— Cữ chĩ như thế nghe thiệt là thâm diệu, song vô cớ mà khoan dung như thế, chắc là cuộc giã dối mà thôi.
— Ông tưởng vậy sao?
— Ta chắc như ba bó một giạ, vậy chớ thơ cũa quan Đại-tướng-quân đó đề ngoài bao gởi cho ai?
— Dạ, đề ngoài bao gởi cho: ông Noạt-chê ở đường Cót-hê-rông, môn bài số 13, Ba-ri.
— Vậy chớ ngươi có nghi tâm rằng quan phó Biện-lý có việc ích lợi mà phi tan cái thơ ấy chăng?
— Dạ, tôi có nghi, vì đôi ba phen ngài dặn tôi đừng nói ra cho ai biết rằng cái thơ ấy gởi cho ai, vì sợ hiễm nghèo xãy đến cho tôi.
— Noạt-chê, Noạt-chê nào kìa? Khi trước ta vẩn có quen biết với một gã tên như vậy, trong lúc Cách-mạng nó có tung hoành. Vậy chớ quan phó Biện-lý tên gì?
— Dạ, tên là đờ Huynh-pho.
Cao-tăng nghe tên ấy bèn cười ngất.
Đăn-tết ngó sững mà hỏi rằng: Ông cười chi ha ông?
— Ngươi có thấy cái yến sáng kia kìa ở ngoài trời giọi vào đây chăng?
— Dạ, tôi thấy.
— Ấy vậy việc ngươi nay ta thấy rỏ ràng như cái yến sáng ấy rồi. Tội nghiệp cho con biết chừng nào. Con tưởng quan phó Biện-lý thương xót phận vô phước con phải chăng?
— Dạ, phải.
— Quan phó Biện-phó đốt thơ phi tan giùm cho ngươi vậy, thì là dấu ngài tữ tế quá, phải chơi đâu?
— Dạ, phải.
— Ngài là người làm nghề hay kiếm mạng sanh linh mà giao cho tã đao, mà lại có lòng thương xót ngươi, bảo ngươi thề không hề dám khai tên ông Noạt-chê ra, phải không?
— Dạ, phải.
— Vậy chớ ngươi có biết tên Noạt-chê là ai chăng? Noạt-chê là cha ruột cũa quan Biện-lý đó, ngươi có biết chăng?
Khi ấy sét đánh làm cho núi Thái-sơn ngã sau lưng Đăn-tết cũng chẳng làm cho va sản sốt cho bằng khi va nghe nói ông Noạt-chê là cha ông đờ Huynh-pho. Chàng va lấy hai tay ôm đầu dường như cản lại không cho nó nổ bể đi, mà la rằng: Té ra ông Noạt-chê là cha cũa quan phó Biện-lý sao?
— Phải, cha cũa quan phó Biện-lý tánh danh là Noạt-chê đờ Huynh-pho.
Bấy lâu khuất lấp, nay trí khôn rỏ thấu nguồn cơn, dường như nhà đang tối tâm mà có ai đem đèn đến rọi làm cho sáng láng cã nhà. Đăn-tết vùng nhớ tự sự trước sau, thấy rỏ chước quỉ mưu thần cũa phó Biện-lý, thì trong trí như tỉnh như say, la lớn lên một tiếng, rồi vụt chạy lại miệng hầm và chun và nói:
— Dạ, để cho tôi về bên khám tôi, nằm chỗ thanh vắng mà suy nghỉ cho đáo để rồi sau sẻ hay.
Khi về tới khám, Đăn-tết bèn nằm dụi xuống giường mà suy nghĩ, tối lại ngục-tốt đem cơm vào khám thấy Đăn-tết ngồi sững đông, mặt mày tái sắc, trơ trơ như hình gổ vậy.
Trong cơn suy nghĩ vậy thì Đăn-tết nguyện trong lòng một việc rất trọng.
Khi ngục-tốt đóng cữa lại một chập, thì nghe có tiếng Cao-tăng qua mời Đăn-tết đi ăn cơm. Vã chăng trong Đại-thiên-lao ai nấy thấy Cao-tăng như vậy tưởng là điên cuồn, song hiền từ không làm dữ với ai, bên đam lòng thương hay cho ăn đồ ngon hơn các tội khác như là: bánh trắng, rượu nho, cá tươi, thịt mềm, vân vân.
Vẩn chiều ấy lại nhằm chiều chúa nhựt thì đồ ăn khá hơn ngày thường, nên Cao-tăng mới mời Đăn-tết.
Đăn-tết khi ấy đà tĩnh táo lại như thường bèn theo Cao-tăng qua khám. Tuy mặt mày tĩnh như thường mà coi bộ thân thế chuyển động, gân cốt chẳng yên, ấy là dấu chàng va quyết chí lắm, nên Cao-tăng thấy vậy ngó sững chàng va mà nói:
— Thiệt ta lếu quá, thinh không đi giúp cho người truy chuyện cũ mà làm gì, không biết nữa?
— Ông nói sao vậy?
— Vì tại ta rót ý độc vào lòng ngươi, làm cho ngươi không yên tâm, ý độc ấy là sự thề chẳng chung đội trời với kẻ làm hại cho ngươi đó.
Đăn-tết cười mà nói rằng:
— Thôi, ông cùng tôi nên nói chuyện khác.
Cao-tăng ngó Đăn-tết một hồi rồi lắc đầu, rùn vai, mà đàm luận việc khác. Đăn-tết nghe Cao-tăng luận việc đời mà mê mẩn, vì Cao-tăng là người rất thông thạo, hiểu biết nhiều đều, nghe một hồi lâu Đăn-tết bèn nói rằng:
— Ông hãy làm ơn dạy tôi ít nhiều đặng giải khuây luôn thể. Thiệt cũng tội nghiệp cho ông, chớ chi ông gặp được người biết hiểu việc đời hơn tôi, thì có phải là một cuộc vui thêm cho ông không, chớ như tôi đây là dân bĩ lậu, thà ông ngồi không nơi thanh vắng còn hay hơn là làm quen với đứa cô lậu quá văn như tôi vậy. Nếu ông chịu dạy tôi, thì tôi hứa với ông không hề có lòng muốn vược ngục nữa.
Cao-tăng cười mà nói rằng:
— Ô hô! Ngươi chưa rỏ, để ông phân lại cho ngươi tường. Vã chăng các khoa học cách-vật trí tri cũa con người thì có hạng, chừng ta dạy ngươi các món ta đã thuộc rồi, thì ngươi sẻ biết bằng ta, những là Lịch-sữ, số-học, bát-vật-học, và ba, bốn thứ tiếng nói, chừng hai năm trở lại thì ngươi sẻ thuộc ráo.
— Hai năm! Ông tưởng hai năm tôi thuộc hết được sao?
— Sẻ biết được nguyên-do chủ nghĩa đại-khái, còn muốn đem ra mà thi hành tiện dụng thì chưa: Vì học chưa phải là biết, vì biết chưa phải là thông, mà học biết là nhờ trí nhớ, thông thái là nhờ cách vật trí tri (là minh triết).
— Vậy chớ tôi muốn biết khoa minh-triết không được sao?
— Minh-triết không phải là khoa học, minh-triết là tổng tóm các khoa cách-trí lại vào tay người tài-ba đặng thi hành tiện dụng; minh-triết chẳng khác nào chòm mây bạc chói lòa mà Đức Chúa Giê-Giu gát chơn lên đó hầu trở lại Thiên-đình.
— Vậy thì bây giờ ông đành lòng khĩ sự dạy tôi món chi, vì lòng tôi rất ham mộ việc học cách trí lắm.
— Ta sẳn lòng dạy ngươi cả cuộc.
Thiệt đó rồi tối lại hai người bàn tính lập chương trình, qua ngày thứ cứ đó mà thi hành. Đăn-tết sáng dạ vô cùng, nghe đâu hiểu đó, học ít biết nhiều, nhứt là khoa bút toán, số-đợi thì chàng va trí hóa nhậm lẹ vô song. Vẫn Đăn-tết thuở bé có biết tiếng I-ta-li và tiếng hy-lạp (cà-rết), nên chẳng đầy sáu tháng va nói được thêm ba thứ tiếng nữa là: Y-pha-nho, Ăng-lê và A-lê-măn. Vì Đăn-tết đã hứa không mong lòng vược ngục, nên cứ lo việc học, được một năm, đã trở nên một người rất thông thái rồi.
Còn Cao-tăng tuy nay có bậu bạn lẻ thì vui lòng, sao một ngày coi một ra tiệu tụy, coi bộ có sự tư sầu, nhiều khi đang ngồi suy cổ nghiệm kim, vùng đứng dậy khoanh tay đi lên đi xuống nói lầm thầm rằng:
— Chớ chi đứng có lính canh.
Đăn-tết hiểu ngầm cái tư tưởng cũa Cao-tăng bèn đáp từ:
— Như ông muốn không có lính canh, cũng sẻ được y như ý muốn mà!
— Ta đã nói với ngươi nhiều khi, ta không chịu việc sất nhơn.
— Sát nhơn như thế cũng chẳng tội lệ gì mà, vì là cuộc bảo toàn tánh mạng cũa mình chớ.
— Tuy vậy, mà ta không nở hại mạng sanh linh.
— Ông không lòng hại mạng sanh linh, sao ông suy đến đó làm chi.
— Phải, ta hằng suy đến đó luôn.
— Mà không có tìm được cái chước nào hay, cái mưu nào sâu sao?
— Có, là ta nói chớ chi họ đặt lính đui và căm đứng gác phía hiên ngoài đó thì dể bề cho ta trốn.
— Ông muốn nó đui, nó căm, thì nó sẻ đui sẻ căm.
Cao-tăng nghe câu Đăn-tết nói quyết, bèn kinh hoàng mà la giứt Đăn-tết rằng: Không nên, không nên.
Đăn-tết muốn luận nửa mà Cao-tăng không chịu, lắc đầu điềm nhiên.
Cách ba tháng sau Cao-tăng hỏi Đăn-tết:
— Ngươi mạnh bạo chăng?
Đăn-tết không đáp từ, bèn thò tay lấy cây đụt bẻ cong như sắt đóng móng ngựa, rồi uốn lại như thường.
— Vây ngươi dám thề rằng chừng đối đế mới thí lính gác chăng?
— Tôi lấy cái danh vọng mà thề sẻ y như lời ông dạy.
— Như vậy thì ta nên thi hành cái mưu chước cũa ta trù nghĩ.
— Mấy tháng mới thành sự?
— Ít nữa là một năm.
— Vậy thì ta nên khĩ công bây giờ.
— Ừ, phải làm lập tức.
— Tính lại thì ta đã mất trọn một năm vô ích rồi, không làm gì nên dáng.
— Ngươi chắc là mất hay sao?
— Dạ dạ, tôi xin chịu tội!
— Ta chán biết, con người sanh ra dưới thế, có trầm tư bách kế, mưu mô nhã tháo cho mấy cũng là người, mà người như ngươi, ta xét lại thì khá hơn kẻ khác bội phần. Hãy xem đây thì rỏ cái chuớc cũa ta trù nghĩ xưa nay.
Nói rồi trao cho Đăn-tết một cái bông-đồ có vẻ khám Cao-tăng, khám Đăn-tết, đường thông hành. Chính giữa chặng đường thông hành qua lại hai khám có vẻ một cái ngách thẳng ra tới biên ngoài là chổ lính gác, rồi có một lỗ đào lên cho phũng gạch, đặng cho lính gác ơ hờ mà sụp hầm lọt vào hang ngách cũa họ đào đó. Tới khi như vậy Đăn-tết nhảy lại khớp miệng lính gác trói lại, rồi cã hai thầy trò chun ra leo cữa sổ hiên ngoài mà thoác Đại-thiên-lao, dùng thang giây mà chuyền xuống biển đặng lội trốn.
Đăn-tết thấy bông-đồ dể dàng bèn hớn hở vổ tay reo cười.
Nội ngày đó hai thầy trò cong lưng đào mãi.
Chẳng hề có chi làm cho thầy trò ngừng tay, đúng giờ thì ai về khám nấy, hể ngục-tốt đem cơm rồi đóng cữa bỏ đi, lại chạy qua áp nhau đào mãi. Đất đào lên nếu dể đồn trong khám thì lâu ngày đầy nức, bỡi ấy mỗi đêm lén vò nát như bui bui quăng ra lổ xã hơi cho gió thổi tấn lạt tứ phương.
Thầy trò và đào và đàm luận cách trí, Đăn-tết khi thì dùng tiếng Ăng-lê, lúc lại dùng tiếng I-pha-nho mà đàm luận với Cao-tăng, thì Cao-tăng khi dạy lịch sử lúc chuyện vãng nhắc tích nầy, tích nọ cho Đăn-tết rỏ, Cao-tăng vốn là tiên phong đạo cốt, lời ăn tiếng nói đàng hoàng nghiêm nghị, cách dạy trở cử động rất lịch lãm, Đăn-tết một ngày bắc chước một thế, ấy là hể gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
Đào như vậy được 15 tháng thì công việc hoàn tất, ngồi ngay lổ hầm thì nghe lính canh đi lên đi xuống đi qua đi lại được rỏ ràng.
Chờ bữa, nào tối trời sẻ ra tay, song nay sợ e lính gác sụp thình lình, thì dở dang công chuyện còn gì. Thầy trò bèn lấy gổ tìm đặng dưới han mà làm nạng chống đỡ gạch nền. Đăn-tết đang làm, thình lình nghe Cao-tăng kêu tiếng rất đao thương, chàng va chạy vào, thì thấy Cao-tăng đang đứng giữa khám, trán đổ mồ hôi như tắm, mặt mày biến sắc, tay chưn bị phong giực, con mắt trợn qua trợn lại láo luân.
Đăn-tết bèn la:
— Trời đất ôi! Ông đau bịnh chi cho con rỏ với, ông ôi là ông?
— Con ôi! mau mau nghe lấy lời thầy.
Đăn-tết thấy bịnh một ngày một xung, bèn hoãng hốt buông đụt mà hỏi.
— Tôn-sư, bịnh chi, xin nói cho đồ-đệ rỏ với?
— Tánh mạng ta đã hưu hĩ rồi. Bịnh hậu ta nó tái phát, chút nửa tới cơn. Xin con mau qua khám thầy, lại đầu giường kiếm ve giấu dưới lổ chưn giường, màu nó đỏ; mà thôi, thầy sợ chết giấc tại đây khó lòng, con hãy vịn thầy về khám cho dể bề điều trị.
Đăn-tết bèn chuyển thần lực ôm xốc Tôn-sư mà diều dắc qua khám, để nằm trên giường.
Cao-tăng nói:
— Thầy cám ơn con (và nói và rung lặp cặp, mồ hôi ra lạnh như nước đá) đó cơn bịnh đã xung, chút nữa ta nằm trơ như gổ, có lẻ sẻ trơ trơ, hoặc la hét, sôi bọt mồm; như vậy thì con khá làm sao cho ngục-tốt đừng nghe, nếu rủi thì khổ cho thầy trò mình, sẻ phải kẻ nam người bắc. Chừng vậy con nhớ lấy dao cạy răn thầy, rồi nhỏ vào đó 10 giọt thuốc đỏ nầy, thì có lẻ thầy sống lại được.
— Sao mà thầy nói có lẻ... không chắc sao?
— Bớ trò... bớ trò cứu th.......
Cơn bịnh tái phát mạnh quá làm cho Cao-tăng á khẩu, trợn mắt, nghiến răn, đơ tay, ngay chưn, bất tĩnh nhơn sự.
Đăn-tết đợi cho mình mẩy Cao-tăng lạnh tanh rồi bèn lấy dao cạy răn mà đỗ thuốc đũ 10 giọt, rồi đứng chờ đó coi có linh nghiệm chăng.
Đợi được một giờ đồng hồ rồi mà chưa thấy ông già rụt rịt, thì Đăn-tết nghi cho mình đổ thuốc có trể chăng, lấy làm hối hận vô cùng. Té ra lần lần mặt Cao-tăng ững đỏ, con mắt gần có thần, lổ mủi thở hoi hóp, tay chưn cữ động. Đăn-tết thấy vậy mừng quýnh mà la rằng: Sống lại rồi, sống lại rồi!
Cao-tăng tuy miệng chưa nói đặng, chớ lổ tai nghe, bèn lấy tay chỉ ngay cữa khám. Đăn-tết bèn lóng tai nghe thì mới hay ngục-tốt đi gần tới. Đăn-tết bèn chạy nhào lại miệng han, chun đại xuống, đậy nấp lại rồi chun qua khám mình, cách một chút ngục-tốt mở cữa đem cơm vào thì thấy Đăn-tết đang ngồi trên giường.
Chừng ngục-tốt đóng cữa đi lên, anh ta không vỉ đến đồ ăn, vụt chạy qua khám Cao-tăng mà thăm thì thấy Cao-tăng đã tỉnh được ít nhiều, song chờ dậy chưa được, hởi còn nằm ngay trên giường, Cao-tăng thấy Đăn-tết bèn nói: Thầy tưởng đà không thấy được mặt con nữa rồi.
— Thầy tưởng tánh mạng đã hưu hỉ rồi sao mà nói vậy?
— Không phải vậy. Song vì cuộc vược ngụt nay đã dể như trở tay, thầy tưởng trò đà bỏ thầy mà trốn mất đi rồi.
Đăn-tết nghe nói vậy đỏ mặc tía tai mà đáp từ rằng:
— Có lẻ nào tôi phụ phàn thầy, bỏ mà trốn một mình, không đợi đi một lược với nhau cho đành đoạn hay sao.
— Bởi vậy nay thầy mới hối ngộ, biết là nghi lầm cho con. Con ôi, tứ chi thầy mỏi mệt như dần, trong cã mình thầy còn yếu lắm.
Đăn-tết ngồi gần Cao-tăng nắm tay thầy mà nói rằng:
— Xin tôn-sư hãy ráng sức, lần lần thuốc thấm thì mạnh khoẻ lại như thường.
Cao-tăng lắc đầu mà nói rằng:
— Hôm trước có một lần như vậy, thầy mê mang một chập chừng nữa giờ, rồi một mình ngồi dậy được mà ăn cơm. Còn chuyến nầy nặng quá, nên cựa quậy tay chưn gì không nổi, cái đầu nó nặng vô cùng, ấy là dấu máu nó thượng, hỏa vọng lung lắm. Thầy chắc lần thứ ba không sao sống được, hoặc là phải bất toại cã đời.
— Không lẻ vậy đâu Tôn-sư à, vì mai chiều thầy trò mình đà ra khỏi khám rồi, dầu bịnh có xung cho thế mấy cũng không sao hòng sợ, vì ở ngoài thiếu gì là thuốc hay thầy giỏi.
— Con ôi! Con chớ lầm, chuyến nầy thầy tưởng khó mà trốn vì cã châu thân thầy đã bại hoại, làm sao mà vược ngục cho được.
— Như vậy thì con đợi chừng nào Tôn-sư mạnh sẻ hay; ngày nao Tôn-sư đủ sức lặn lội thì thầy trò mình sẻ vược ngục, cũng chẳng muộn gì.
— Làm sao thầy lội đuợc, cái tay mặt cũa thầy đã bại rồi, con hãy nắm giỡ lên thữ mà coi.
Đăn-tết nắm giỡ lên, thấy cứng đơ, bèn thở ra, buồn thảm vô cùng.
Cao-tăng nói:
— Đó, con hết nghi tâm rồi, trong mình thầy làm sao, thầy đã rỏ biết. Vẩn bịnh nầy là bịnh phụ mẩu truyền. Cha thầy khi xưa bị bịnh làm xung lần thứ ba mà bỏ mạng, ông nội thầy cũng vậy. Quốc-thủ luơng-y dọn thuốc nầy cho thầy đây quí danh là Cà-ba-tnít, có đoán trước cho thầy rồi.
— Có lẻ quốc-thũ lương-y ấy đoán lầm mà, vả lại Tôn-sư có đi không nổi thì tôi cỏng, có lội không đặng thì tôi nâng.
— Con dại quá. Vậy chớ con không biết rằng khi xuống nước mà phải còn nâng đở vật chi, thì lội có giỏi cho lắm chừng 50 huóc cũng phải đuối hơi rồi. Thầy đành ở đây mà chờ chết, con hãy trốn đi, tuổi con còn nhỏ, sức con mạnh bạo, trí hóa con khôn lanh, hãy ra ngoài mà hưởng cuộc đời, chớ lo cho thầy làm chi vô ích. Thầy cỗi lời thề cho con, hảy lo mà trốn đi cho mau.
— Tôn-sư nói vậy hay vậy. Nay con tính không trốn, quyết ở đây với Tôn-sư, chừng nào Tôn-sư một mai rồi, sẻ hay.
Nói rồi Đăn-tết đứng dậy giơ tay trên mình ông già mà thề rằng:
Tôi thề quyết chẳng bỏ Tôn-sư, ở đây cùng Tôn-sư hủ hỉ cho đến cùng.
Cao-tăng thấy lòng trung hậu cũa Đăn-tết ở được như vậy, bèn cảm động tâm thần mà nói rằng:
— Con đã có lòng tốt như vậy, thầy rất cám ơn. Thôi thầy trò mình chừng nào tới đâu hay đó, lòng con trung thành vậy thì một ngày kia con sẻ gặp được phước chẳng sai.
Nay thầy trò mình tính không trốn thì phải lấp cái han ngách lại, sợ e lính gác nó đi qua đi lại, nghe hơi bộng mà nghi, sẻ kêu quan đến, thì chừng ấy mới khổ cho mình, thầy trò phãi xa nhau; con hảy lập tức chịu khó đi lấp cho rồi nội đêm nay. Sáng mai khi ngục-tốt đam cơm đi ra rồi, con hảy qua cho thầy nói việc kín cho mà nghe.
Đăn-tết bèn vưng lời đi liền.