Tiền căn báo hậu/XVIII
XVIII
Hầm vàng
Sáng ra Đăn-tết qua thăm Cao-tăng thì thấy tôn-sư ngồi tỉnh táo, diện mạo oai nghi. Nhờ bóng mặt trời giọi vào lổ-xã-hơi thì Đăn-tết thấy thầy đang cầm trong tay một miếng giấy cuốn tròn, vì nhét giấu lâu năm coi bộ khó mà gở ra lắm.
Khi Đăn-tết đến chào thầy thì Cao-tăng không nói năng chi, một giơ tay ra đưa cuốn giấy cho Đăn-tết. Đăn-tết mới hỏi:
— Thưa Tôn-sư, giấy chi vậy?
Cao-tăng cười mín chi mà trả lời:
— Con hãy xem lấy cho kỉ cang.
— Dạ, giấy chi cũ mềm và cháy rách, mà có vẽ chữ Cỗ-tự bằng mực gì lạ lùng vậy?
— Vẫn thầy đã thử lòng con được rồi, nên nay thầy phải cho con hiểu: Nguyên cuốn giấy nầy là bông đồ hầm vàng cũa thầy, nay thầy đành lòng chia hai với con, đặng đền ơn tri ngộ.
Khi Đăn-tết nghe nói vậy, anh ta nhớ trực lại, thì tâm thần buồn thảm, mồ hôi trán nhỏ dầm. Số là cũng vì cái hầm vàng ấy mà lâu nay trong Đại-thiên-lao họ cho Cao-tăng là người điên cuồn nói lẩn lộ. Bởi đó từ khi gặp gở nhau tới giờ Đăn-tết tưởng là Cao-tăng đã tỉnh rồi, hết hồi điên, nên va tránh không khi nào dám nhắc đến việc hầm vàng ấy. Nay thình lình Cao-tăng lại nói đến việc hầm vàng thì Đăn-tết tưởng chắc cơn điên Cao-tăng đã tái phát rồi, nên Đăn-tết mới hỏi:
— Tôn-sư nói hầm vàng gì, con không hiểu?
Cao-tăng cười mà rằng:
— Thầy thấy con lo sợ, đổ mồ hôi trán, thì thầy hiểu lòng con thương xót phận bạc thầy đã mang. Thầy đã hiễu ý tưởng con rồi, là con tưởng cơn điên thầy như lời kẻ phàm phu luậm lầm, đà tái phát. Con chớ lo làm chi vô ích, thầy không có điên cuồn chi đâu. Quả hầm vàng thầy nói đó có thiệt, chớ chẳng phải là cuộc mơ màng đâu con. Vì bấy lâu thầy mắc lận đận lao đao, thì không phương đến đó lấy mà hưởng, nay thầy trối lại cho con đó. Từ thuở nay ai ai cũng đều cho thầy là người lẩn lộ điên cuồn, có một mình con không tin như họ, nên thầy nói cho con rỏ, chừng thầy nói rỏ đầu đuôi gốt ngọn rồi tin cùng không tin thì tự ý con.
Đăn-tết nói thầm trong bụng rằng:
Cha chả, tội nghiệp tôn-sư tôi biết chừng nào. Phần số tôi sao bạc bẻo, gần vừa bước khỏi han thõ, nay lại mắc vào bẩy cheo. Nghĩ thầm rồi bèn trả lời lớn tiếng rằng:
— Tôn-sư ôi! chắc tại cơn bịnh Tôn-sư nó làm xung nặng quá, mà Tôn-sư lản trí chăng, cúi xin Tôn-sư hảy dưởng an vóc ngọc. Qua ngày mai con sẻ trở lại đây cho Tôn-sư thuật chuyện con nghe. Hầm vàng con không cần dùng chi gấp bây giờ cho lắm, để con săn sóc tiếp dưởng Tôn-sư thì hay hơn.
— Con nói vậy rất lầm, thầy cần dùng nó lắm, thầy quả chắc nay hay mai cơn bịnh thầy nó làm xung lần thứ ba, thì bề nào thầy tánh mạng nan tồn, không kịp trối trăng cho con, thì lấy làm uổn vô cùng, vong linh thầy làm sao an nơi cửu tuyền ha con. Khi thầy chưa biết con thì thầy mừng thầm rằng vì thế gian vô tình, phàm nhơn tục tữ nó dại không tin lời thầy, thầy ghét nó, oán nó mà bỏ liều, chết đâu thì chết cho rảnh, không thèm trối lại với ai chi vô ích. Song từ ngày thầy gặp được con, thầy nóng nãy trong lòng, muốn trối lại, chĩ chổ cho con, sau con có ra khỏi được đây, đi lấy cũa kín ấy mà làm giàu, vì con hởi còn niên thiễu đương thời. Thầy chỉ sợ chết gắp mà trối không kịp cùng con đó thê.
Đăn-tết nghe nói vậy day mặt chổ khác mà thở ra.
Cao-tăng thấy vậy bèn than rằng:
— Con ôi! sao con cứ tin lầm rằng thầy điên cuồn vậy, nảy giờ uổng công thầy gia tâm biện phục lòng con. Nay thầy hãn dạ rằng phải trưng chứng cớ ra cho rỏ ràng thì con mới tin lời thầy trối cho.
Ấy vậy con hãy đọc lấy cuốn giấy nầy thì con mới tin cho, vì tự thuở nay thầy không có cho ai coi ráo.
— Dạ, thưa Tôn-sư, con quyết hôm nay để cho Tôn-sư dưởng an vóc ngọc, rạng mai Tôn-sư sẻ nói chuyện nầy lại cho con nghe cũng chẳng muộn gì.
— Xin con hãy đọc lấy giấy nầy trước, rồi y như lời con xin mai sáng thầy sẻ thuật chuyện lại cho con nghe.
Đăn-tết nghĩ thầm: thôi ta cũng nên chìu tôn-sư mà đọc cho vừa lòng đặng tránh khỏi chỗ phiền giận.
Nghỉ rồi bèn thò tay lấy cuốn giấy chỗ thì cháy, chổ lại rách mà đọc tiểu đọc đại như vầy:
« Hầm vàng nầy có lẻ được hai |
||
« Đồng vàng rô-manh, nó ở trong góc x |
||
« Han thứ nhì, vẫn hầm vàng ấy |
||
« Khai rằng là cũa ông |
||
| « Trọn. | ||
Ngày 25 Avril 149 |
||
Chừng Đăn-tết đọc hết rồi, Cao-tăng hỏi:
— Sao, ý con nghĩ sao?
— Dạ, con thấy câu nào cũng không trọn câu, chữ nầy không liên tiếp với chữ kia, có nhiều chổ bị cháy, rách đọc không hiểu nghĩa lý chi hết.
— Là vì con mới đọc nó lần thứ nhứt và lại đọc không kỷ, chớ như thầy đã nhiều đêm đọc đi đọc lại đặng mà lập câu lại cho nhằm nghĩa lý thì thầy hiểu rỏ ý mầu nó đã lâu rồi.
— Té ra Tôn-sư tưởng đã rỏ ý mầu trong tấm giấy rách nầy rồi sao?
— Thầy chắc như vậy, con hãy nghe lấy mà chiêm nghiệm. Mà trước khi để thầy thuật sự tích miếng giấy nầy cho con nghe.
— Dạ, xin Tôn-sư nín lặng, có tiếng giày ai đi ngoài... để con về bển..., sau sẻ hay.
Đăn-tết thoác đuợc như vậy rất mừng lòng, còn Cao-tăng thì lật đật đi đậy nấp hầm, lấy chiếu đấp lên đó mà giấu mối.
Vẩn quan Tỗng-trấn nghe ngục-tốt bẩm rằng Cao-tăng bị cơn bịnh làm xung, nên ngài phải đi xuống khám đặng thăm coi cho hãn.
Cao-tăng cứ ngồi mà tiếp rước quan Tỗng-trấn, nên giấu được cái cánh tay bại và nữa thân mình bất toại, vì Cao-tăng e quan Tổng-trấn thấy mà động lòng thương xót, sẻ dời ổng qua khám khác sạch hơn, chi cho khỏi thầy nam trò bắc. Song quan Tổng-trấn xem một hồi rồi đi lên, tưởng Cao-tăng đau sơ sài, không có chi lấy làm trọng.
Nói về Đăn-tết khi về tới khám bèn ngồi ôm đầu mà suy nghỉ, không lẻ tôn-sư mình là đứng cao-minh thông suốt mọi đều mà lại lẩn lộ trong việc hầm vàng, hay là thiên-hạ lầm nói bậy chăng.
Cã ngày Đăn-tết lưởng lự hoài, không dám qua khám Cao-tăng vì sợ nếu quã Cao-tăng lẩn lộ, thì tội nghiệp cho mình biết là chừng nào.
Cã ngày Cao-tăng đợi Đăn-tết không đặng lấy làm nóng nãy, tối lại chờ ngục-tốt đem cơm rồi, Cao-tăng bèn ráng gượng lết qua khám Đăn-tết. Đăn-tết phải cúi xuống miệng hầm mà kéo tôn-sư lên, bằng không thì tôn-sư lên không thấu.
Cao-tăng bèn cười mà nói rằng: Trò không qua nghe thầy thuật truyện, thầy phãi ráng qua đến khám trò, nằn nằn quyết một trối cho trò rỏ đuôi đầu.
Đăn tết thấy sự dỉ chí thữ khó mà trốn tránh, bèn đở tôn-sư lên ngồi trên giường, rồi ngồi gân một bên mà nghe thầy giảng.
— Con ôi! Con có biết khi trước thầy làm ký-lục rất thân, rất quyến liếng với ông Thái-giám-mục Xì-ba-đa là người thứ chót trong dòng ấy chăng? Thầy vẩn nhờ ông ấy mà hưởng được nhiều phước đời nầy. Vẩn ngài không giàu chi cho mấy, tuy tiếng thiên-hạ hay đồn rằng: ai giàu cho bằng ông Xì-bá-đa mặc lòng, chớ kỳ thiệt không phải là cự phú. Song ngài cũng cứ ăn xài to đại y theo lời thế gian đàm tiếu luôn. Thầy cứ ở luôn trong đền cũa ngài, đặng dạy các cháu ngài học, nay chúng nó đã qua đời rồi, đến sau ngài còn một mình thì thầy làm hết sức mà đền bồi ân ngãi cho ngài, vì ngài đã hãi hà cùng thầy hơn mười năm trời.
Từ đó ngài giao hết việc nhà cho thầy, không có chuyện kín chi mà không nói cho thầy rỏ. Vẫn thầy hằng thấy ngài hay coi sách xưa mà tìm điển tích. Ngày kia thầy thấy ngài mệt nhọc về việc ấy, thầy khuyên ngài chớ khá ham mê sách vở quá mà hao tổn tinh thần, thì ngài cười và giở cuốn sữ-ký thành Rô-ma chổ đoạn thứ 20 cho thầy xem, thì thấy thấy đoạn ấy thuật sự tích Đức-giáo-hoàng A-léc-xăn thứ sáu[đính chính 1], trong đoạn ấy có mấy câu nầy cã đời thầy không hề quên được.
« Vẫn khi giặc Rô-ma-nhờ tàn rồi, Hoàng-đế Bọt-gia khởi hoàn, cần dùng tiền bạc đặng mua trọn xứ I-ta-li, còn Đức-giáo-hoàng A-léc-xăn thứ sáu[đính chính 2] cũng cần dùng tiền bạc đặng tính thanh công chuyện với vua Lù-y thứ 12 là vua nước Langsa, vì vua nước Langsa khi ấy tuy là đã khốn đốn mà hởi còn lung lăng đáng sợ. Ấy là một cơ hội khã vi, ai có tiền nên dục lợi, song ngặt vì khi ấy xứ I-ta-li rất cơ hàng khiếm phạp, Đức-giáo-hoàng mới sanh ra một chước đặng kiếm tiền, là lập ra hai chức Thái-giám-mục (Vít-vồ-hồng-y-giáo-chủ), lựa hai người cự phú trong thành Rô-ma mà phong chức Thái-giám-mục thì Đức-giáo-hoàng lợi được nhiều tiền bạc vì trong hai chức ấy còn nhiều chức nhỏ vặt, cũng bán được vậy, ấy là hai phần lợi.
« Còn phần lợi thứ ba sau sẻ ló mòi.
« Đức-giáo-hoàng và Hoàng-đế Bọt-gia kiếm được hai vị chịu mua chức Thái-giám-mục, một là ông Gioang Rốt-bi-cà-li-ô-xi, một mình tại Tòa-thánh gồm lấy bốn chức to, và ông Xì-bá-đa, là ông Thỉ-tổ cũa chủ thầy, là một đứng rất danh giá cự phú tại thành Rô-ma. Kiếm được hai vị ấy là người ham mộ đường công danh xong rồi, Hoàng-đế Bọt-gia mới cho tìm kẻ mua chức vặt.
« Vì vậy nên ông Gioang Rốt-bi-gà-li-ô-xi và ông Xì-bá-đa phải đóng bạc đặng mua chức Thái-giám-mục, tám người khác đóng tiền mà mua chức cũ cũa hai ông ấy, cọng nội vụ được 80 muôn đồng vàng
« Còn cách kiếm tiền thứ ba, ta nên thuật phức cho rồi: vẩn Đức-giáo-Hoàng khi phong chức Thái-giám-mục cho hai ông ấy, thì chắc ý rằng họ sẻ mang ơn ngài, khuynh sản đem về ở thành Rô-ma, nên Đức-giáo-Hoàng và Hoàng-đế Bọt-gia bèn cho mời hai ông Tân Thái-giám-mục đến dự ngự-yến.
« Khi đó Đức-giáo-Hoàng với Hoàng-đế Bọt-gia bàn luận cùng nhau mà dùng hai cách đải khách:
« Cách thứ nhứt là giao chìa khóa cho đó đi mở tủ, mà trong chìa khóa ấy có mưu mật là đàng đầu chỗ tay cầm có một mũi chông nhọn tẩm thuốc độc hể nắm mà vặn mạnh, thì bị mủi độc ấy đâm tay, chảy máu thấm thuốc sáng ngày chết ngay.
« Cách thứ hai là Hoàng-đế Bọt-gia có sắm một chiếc nhẩn đầu lân tẫm thuốc độc. hể muốn bắt tay ai mà bông-rua thì ngài đeo vào tay, đầu lân cắn nhằm tay khách chảy máu thấm thuốc, trong hai mươi bốn giờ đồng hồ phải chết ngay.
« Hoàng-đế luận với Đức-giáo-Hoàng nên dùng hoặc cách thứ nhứt, hoặc cách thứ nhì mà đãi hai ông Tân Thái-giám-mục ấy mà Đức-giáo-Hoàng A-lec-xăn thứ sáu[đính chính 3] đáp rằng:
« — Hể mình muốn đãi hai vị Tân Thái-giám-mục nầy một cách sang trọng thì chớ nên tiếc của, phải sắm đồ sơn trân hãi vị cho xứng bậc. Ta tưởng rồi cuộc mình không lổ lả gì hòng lo. Vả lại Hoàng-thượng quên hay sao. Hể khách ăn no quá bộ thì phải bịnh phát ách, trúng thực mà chết mau hơn là bị soang độc, hai ba ngày sau mới chết.
« Hoàng đế nghe theo lời bàn cũa Đức-giáo-Hoàng bèn cùng nhau mời nhị vị Tân Thái-giám-mục dự yến.
« Hai Ngài mới dạy quần-thần dọn yến nơi vườn Bồ-đào ở gần đền kia mà các đứng Thái Giám-mục biết danh đã lâu rồi.
« Vẩn ông Gioang Rốt-bi-cà-li-ô-xi rất đắc chí bèn lo sữa soạn bao tử và làm mặt hân-hoan. Còn ông Xì-bá-đa thường là người lanh lợi, biết nhơn tình thế thái, mà tánh hay thương cháu là quan-ba còn thanh niên đang thời, ham mộ công danh, nên ngài bèn lấy viết giấy mà làm chúc ngôn cho cháu.
« Ngài lại nhắn biểu người cháu phải đến gần vườn bồ-đào mà đợi rước ngài, mà sau nghe lại, khi ngài sai trẻ tùy tùng ra kiếm cháu, thì không gặp.
« Vẫn ông Xì-bá-đa thạo cuộc nghi tiết trào đình, khi được mời dự yến thì hiểu phải làm sao. Vã lại từ ngày đạo Gia-tô là đạo rất tột bực văn minh nhá sự giáo dục thiên hạ tại La-mả (Rôma) cho đến đó, thì hết thãy các vua Hôn-quân không dùng cách tam ban triều điển mà giết quần thần nữa, bây giờ hể mổi lần muốn ám sát ai thì hay sai Cận-thần toàn quyền đến mời người đó dự yến một cách êm ái diệu dàng rằng: Đức Giáo-hoàng muốn cho ông đến dự yến với ngài. »
« Bỡi ấy ông Xì-bá-đa đúng hai giờ chiều sữa áo mão nhập luông-lâu. Đức Giáo-hoàng liền cho kiến giá.
« Khi mới vào trung-điện, ông Xì-bá-đa lấy làm lạ là thấy cháu mình mặc đồ trào phục đang đứng bên Hoàng-đế Bọt-gia thiệt rất đắc lủng, thì ổng kinh tâm tán đởm. Hoàng-đế lại có ý làm cho ổng thấy cái độc kế đã bày một cách rất khéo lạ.
« Đó rồi kế nhập yến. Giữa yến trung ông Xì-bá-đa chỉ hỏi cháu được có một lời nầy: « Vậy chớ cháu có được thơ chú gởi sang chăng? Người cháu trả lời rằng « không » mà đã biết cái thơ ấy rất trọng hệ là dường nào, mà việc đã trễ rồi, vì ông Xì-bá-đa đã uống ly rượu ngon cũa quan Cận-thần Đức Giáo-hoàng đã sắm sẵn để riêng gần bên tay ổng.
« Đoạn quần thần lại đem một ve rượu mà dưng cho ổng. Cách một giờ sau quan Ngự-y lên án mạch nói hai chú cháu đã bị ăn nhằm nấm độc. Ông Xì-bá-đa ngã xuống tại ngạch ngự-viên mà chết, còn cháu ổng về tới nhà làm dấu cho vợ hiểu mà vợ không thấu tình hình, nên chưa kịp vào nhà bèn ngã chết tại trước cữa.
« Tức thì Đức-giáo-hoàng và Hoàng-đế Bọt-gia liền hỏa tốc đến tịch phuông gia tài ông Xì-bá-đa, lấy cớ là tìm kiếm tờ giấy cũa ông Xì-bá-đa.
« Song gia tai cũa ổng là cái tờ chúc ngôn cho cháu như vầy:
« Ta để lại cho cháu ta các tủ, các quyện sách, mà trong các quyện sách ấy thì có một cuốn sách-kinh rất tốt, mấy góc khãm vàng, ý là muốn cho cháu ta giữ sách ấy mà làm cũa kỷ-niệm (đồ nhớ) chú. »
« Nhị Hoang thấy sách-kinh ấy đều khen, đoạn đoạt thâu các đồ gia dịch và lấy làm lạ sao ông Xì-bá-đa tiếng đồn cự phú mà trong nhà không có nhứt điếu vậy, tiền cũa thì không, chớ cách vật trí tri thiếu gì, đựng cã tủ để trong thơ-phòng và trong thiệt-nghiệm-phòng.
« Gia tài ông Xì-bá-đa chĩ có bao nhiêu thôi, giỏi góp nhóp cho lắm, nào là muỗng nĩa bạc, nào là tiền lẻ bạc cắt, cọng nội vụ chừng 1000 đồng vàng; song le người cháu ông Xì-ba-đa trước khi tắt hơi đã có giờ mà bão vợ kịp rằng: « Phải mau lục soạn kiếm cái tờ di ngôn khác cũa chú giấu đâu đó. »
« Nay đồ trong nhà đã tịch ráo rồi không còn món rát gì nữa, còn lại hai tòa nhà và một cái vườn nho ở sau đền Ba-la-tenh. Song trong đời ấy nhà đất không khá giá gì lắm, nên nhị Hoàng không thèm, bỏ lại cho thân tộc ông Xì-bá-đa chia lấy.
« Từ đó xuân qua thu lại, bóng thiều quang thấp thoán như thoi đưa, Đức-giáo-hoàng bị người ta thuốc lầm mà bỏ mạng, Hoàng-đế Bọt-gia cũng bị thuốc một lược mà khá ngài khỏi chết, song phải bỏ thành Rô-ma đi mông trần bậy bạ biệt tích.
« Khi Đức-giáo-hoàng thăng hà, còn Hoàng-đế thì phiêu lưu rồi, thì ai cũng tưởng thân tộc ông Xì-bá-đa sẻ sua-se xa-xí như thuở ỗng còn sanh tiền, song không thấy gì hết, thân tộc phải dật lạt thì thiên hạ đàm tiếu nói Hoàng-đế khôn lanh hơn Đức-giáo-hoàng đã thâu đoạt lấy một mình gia tài cũa hai vị Thái-giám-mục ấy. (Vẩn ông Rốt-bi-cà-li-ô-xi bơ thờ nên cũa cải đã bị tịch ráo) »
— Nãy giờ thầy thuật chuyện xưa lại cho con nghe đó, thiệt chẳng phải là việc phi lý đâu, phải không.
— Thưa Tôn-sư, chuyện hay quá, con xin Tôn-sư thuật luôn cho con nghe.
— Ấy vậy thì con hãy lóng tai:
« Thân tộc ông Xi-bá-đa ẩn dật như rứa đã quen, ngày lại tháng qua con cháu kẻ thì đi đầu quân, người thì nhập quan vào Khâm-sứ ngoại-giao-ty, người lại đi tu, lập hảng bạc, kẻ thì làm giàu có, người thì suy sụp nghèo nàn. Trong đám con cháu ông Xì-bá-đa đó thì có một ông tên là Xì-bá-đá bá-tước, là chủ thầy, thầy ở với ỗng làm chức ký-lục.
« Hằng ngày thầy thấy ổng rên siết rằng mình là con cháu nhà phiệt duyệt mà cũa tiền ít ỏi lắm, không xứng bậc người. Thầy bèn khuyên ổng xuất cũa cải cho vay mãn đại, thì ổng bèn nghe theo, nên tiền lời mới lần lần được bội nhị.
« Cuốn sách-kinh mà ông Xì-bá-đa thĩ-tổ trối lại đó, hởi còn ở tại dinh Bá-tước là chủ thầy. Sách ấy quí lạ, khãm vàng nhiều lắm, nên trong nhà rất tôn trọng cũa báu ấy luôn.
« Vẩn ông Xì-bá-đa thỉ-tỗ để lại bộn bàn tờ giấy, thầy cong lưng lục kiếm như các ký lục trước, mà kiếm không thấy đều chi quí báu, đáng giá chút nào. Thiệt lạ quá. Thầy đã soạn thế-hệ Hoàng-đế Bọt-gia mà tính thì thấy cũa cải y như xưa, nhờ gia tài ông Rốt-bi-gà-li-ô-xi mà tăng số chút đỉnh. Ấy vậy gia tài ông Xì-bá-đa thỉ-tỗ chạy về đâu kìa?
« Thầy mới quả quyết rằng cũa cải nầy đã đem chôn cất nơi kín đáo, gởi cho Thổ-địa giữ gìn bấy lâu, như trong truyện Dạ-đàm Á-rạp vậy, chăng sai.
« Thầy suy tính sổ sách trong dòng Xì-bá-đa từ 300 năm sấp xuống thì không thấy chi làm cho tiêu hủy gia tài to ấy, con ông chũ thầy thì cứ ta nha thiếc xĩ rồi lâm bịnh mà bỏ mình, để lại có ba cái tờ giấy, một kho sách có 5000 pho và cuốn sách-kinh (nói trên đây). Vẫn ngài trối cho thầy các cũa đó và 1000 đồng vàng rô-manh, dặn thầy phải mổi năm cầu hồn xin lể cho ổng và lập một cái tông-chi và một cuốn gia-sữ cho ổng. Các việc ấy thầy đã làm rồi ráo.
— Con hãy chịu khó nghe thầy nói gần hết chuyện đa.
« Vã chăng trong năm 1807, một tháng trước khi thầy bị bắt, nghĩa là 15 ngày sau khi chũ thầy bỏ mạng là trong ngày 25 Décembre (sau con sẻ rỏ cái ngày 25 tháng chạp nầy nó quan hệ là dường nào cho thầy) thì thầy lấy giấy tờ cũa Thân-tộc ông chũ thầy mà đọc đi đọc lại nữa. Khi ấy thầy đọc lâu quá, nó bắt xây xẩm mặt mày, thầy bèn gụt đầu xuống bàn mà ngũ, hồi đó đồng hồ gỏ ba giờ chiều.
« Chừng đồng hồ gỏ 6 giờ thì thầy giực mình thức dậy, trời khi ấy đã tắt quáng, thầy kêu trẻ đem đèn mà không thấy ai ừ hữ. Thầy mới tính đi kiếm đèn mà thấp một mình. Khi kiếm đèn được rồi mà trong nhà không có hộp quẹt, thầy bèn đi kiếm giấy đặng mồi lữa trong lò. Vì sợ lâm nhằm giấy còn cần dùng, thầy bèn nhớ sực lại trong cuốn sách kinh có một tắm giấy xưa, vẫn trong thân tộc hay dùng mà ngăn sách, thầy bèn lấy nó mà mồi lữa, ai dè khi lữa táp cháy thì thầy liền thấy có chữ màu vàng ở trong giấy ấy lộ ra, thầy hoảng kinh, bèn bụm hai tay mà bóp cho tắt lữa. Chừng thầy thấp được đèn cầy sáng sũa, thầy coi lại thì mới rỏ giấy ấy viết bằng mực kín, hể hơ lữa thì nó lộ chữ ra. Rủi giấy ấy bị cháy hết một phần ba. Tờ giấy cháy đó là tờ giấy thầy giơ cho con đọc hôm qua đó. Con hãy lấy mà đọc lại cho kĩ. Chừng con đọc kĩ rồi thầy sẻ thêm mấy câu cháy mất, thì con mới ró sự quan hệ là dường nào.
Đăn-tết chuyến nầy hết nghi cho tôn-sư điên rồi, bèn giựt giấy mà đọc kĩ như vầy:
« Hôm nay là ngày 25 Avril 1498, vì có lịnh |
||
xăn thứ sáu[1] ») dạy ta vào đền dự yến, vì ợ e c |
||
chưa vừa lòng sự bán chức Thái-giám-mục ch |
||
rồi, lại còn muốn đoạt của ta và thuốc ta |
||
Thái-giám-mục Ca-bà-ra-ra và Băn-ti- |
||
cho cháu ta là Ghi-đô Xì-bá-đa rỏ rằng |
||
bảo thủ trọn gia tài ta và ta đã chôn gia |
||
nó biết, vì nó có đi thăm viếng cùng ta, nghĩa |
||
tại cù-lao vô chủ Mông-tê cà-ri-tô. Gia tài ấy |
||
ngọc-bích, kim-cang, đồ trang-lệ, |
||
rô-manh. Sau như cháu ta nó muốn |
||
thì nó phải do từ cái vịnh biển nhỏ đi n |
||
thứ 20. Trong han đá giấu hầm vàng ấy |
||
vàng ở thân trong góc xa cữa thứ nhì |
||
ta hết trọn hầm vàng nầy, vì có một |
||
ta được thôi. |
||
| 25 Avril 189... | ||
XÊ- |
||
— Con đã đọc tờ ấy rồi, vậy thì con đọc tờ nầy cho kỉ, thì mới rỏ tánh tình, ấy là các câu bị cháy mà thầy bàn định lập lại y như xưa.
Đăn-tết lật đật lấy đọc như vầy:
| Đức Giáo-hoàng A-lec- | ||
| hẳng những Ngài | ||
| o ta mà đã lấy tiền | ||
| chết như hai ông | ||
| huô-gà-li-ô nữa, nên ta | ||
| ta chọn nó làm kẻ | ||
| tài ấy trong một chổ | ||
| là trong han đá ở | ||
| là vàng thoi, vàng đồng, | ||
| đáng giá hai triệu đồng vàng | ||
| đi đào hầm vàng ấy | ||
| gay vô cho đến cục đá | ||
| có hai cữa, hầm | ||
| ta trối lại cho cháu | ||
| mình nó có quyền ăn gia tài | ||
| ...8 | ||
| XA ♰ XÌ-BÁ-ĐA. | ||
Khi Đăn-tết đang đọc thì Cao-tăng ngó va chăm bẳm. Lúc Đăn-tết đọc rồi tấm giấy thứ nhì, thì Cao-tăng nói rằng:
— Nay con nên nhập hai tắm lại mà đọc đặng rỏ tình hình.
Đăn-tết vâng lời làm y như lời Cao-tăng biểu mà đọc như vầy:
« Hôm nay là ngày 25 Avril 1498, vì có lịnh... Đức Giáo-hoàng A-lec
xăn thứ-sáu dạy ta vào đền dự yến, vì sợ e c... hẩng những ngài
chưa vừa lòng bán chức Thái-giám-mục ch... o ta mà đã lấy tiền
rồi, lại còn muốn đoạt cũa ta, và thuốc ta... chết như hai ông
Thái-giám-mục Ca-bà-ra-ra và Băn-ti... huô-gà-li-ô nữa, nên ta
cho cháu ta là Ghi-đô Xì bá-đa rỏ rằng... ta chọn nó làm kẻ
bảo thủ trọn gia tài ta, và ta đã chôn gia... tài ấy trong một chổ
nó biết, vì nó có đi thăm viếng cùng ta, nghĩa... là trong han đá ở
tại cù-lao vô chủ Mông-tê Cà-rít-tô. Gia tài ấy... là vàng thoi, vàng đồng,
ngọc bích, kim-cang, đồ trang lệ... đáng giá 2 triệu đồng vàng
Rô-manh. Sau như cháu ta nó muốn... đào hầm vàng ấy
thì nó phãi do từ cái vịnh biển nhỏ đi n... gay vô cho đến cụt đá
thứ 20. Trong han đá giấu vàng ấy... có hai cữa, hầm
vàng ở thân trong góc xa cữa thứ nhì... ta trối lại cho cháu
ta hết trọn hầm vàng nầy vì có một... mình nó có quyền ăn gia à ta được thôi.
25 Avril 149...8.
Khi Đăn-tết đọc rồi, thì Cao-tăng hỏi:
— Sao, con có hiểu tình hình rồi chưa?
— Dạ, con hiểu, đây là lời khai cũa ông Xì-ba-đa, mà cũng là tờ chúc-ngôn mà Nhị đế tìm kiếm hết sức không gặp đó.
— Phải, phải!
— Thưa Tôn-sư, không biết ai ra công lập lại mấy lời đã bị lữa cháy lại đó?
— Thầy chớ ai, thầy bàn định, do từ chữ, từ hàng rồi lập lại cho ra theo chánh lý, chẳng khác nào như kẻ vào hầm tối, do theo chút yến sáng mà mò đường.
— Khi Tôn-sư lập lại nguyên câu rỏ ràng nghỉa lý rồi thì Tôn-sư có tính rỏ việc gì chưa?
— Tức thì thầy lên đường đem theo mình cái tờ chúc-ngôn lập lại đó và một đoạn đầu cuốn sách I-ta-li nhứt thống cũa thầy hồi đó đang dọn. Song le sở Tuần-phong cũa Hoàng-đế là kẻ không chịu cuộc qui nhứt thống, sai trinh thám theo thầy bén gót. Nó thấy thầy thinh không sao vụt bỏ đi như vậy, nó không dè là thầy đi tìm cuộc phú quí, nó nghi cho thầy đi âm mưu phản nó. Bởi ấy khi thầy sữa soạn xuống thuyền tại bến Bi-ôm-bi-nô, lính áp lại bắt thầy.
Cao-tăng nói tới đó rồi ngó Đăn-tết nguồi nguồi, thương đó như con mà nói nữa rằng:
— Đó, nay con đã rỏ đầu đuôi sự tích, nếu ngày nào thầy trò mình vược ngục được thì chúng ta đi lấy hầm vàng ấy mà chia tay. Nhược bằng thầy có rũi mà bỏ thây trong chốn trầm luân hắc ám nầy, mà con bôn đào được thì cả cũa ấy về một mình tay con dùng lấy.
— Dạ, thưa Tôn-sư cũa ấy có lẻ cũng còn chũ chớ?
— Không đâu con, dòng ấy đã tuyệt tự lâu rồi, vã lại cháu út ông Xì-bá-đa đã trối lại cho thầy kế nghiệp cũa ngài. Vì ngài đã đành lòng cho thầy cuốn sách kinh, thì giấy tờ chi ở trong sách ấy thuộc về cũa thầy rồi. Con hãy an tâm. ngày nào mình lấy được cũa ấy mà dùng thì là cuộc vô tội, không sao đâu mà con hòng ngại dạ,
— Thưa Tôn-sư, hầm vàng ấy đáng bao nhiêu?
— Hai triệu đồng vàng Rô-manh, tính ra tiền quan langsa thì được gần 13 triệu đa con.
— Không lẻ nhiều quá vậy đâu Tôn-sư a?
— Sao con lại nói không có lẻ vậy? Vẩn dòng Xí bá-đa trong đời thứ 15 rất oai thế cự phú vô song, vã lại trong đời ấy việc sanh lợi lộng hiểm không ngơ, thì cũa cải làm sao mà tiêu mất được.
Đăn-tết nghe vậy tưởng là cuộc chiêm bao, nên hởi còn nghi nghi ngại ngại trong lòng.
— Thầy bấy lâu giấu con, không cho biết việc kín ấy, là thầy có ý độ tâm tánh cũa con, và lại thầy cũng muốn thình lình làm cho con vui lòng.
Chớ phải lúc trước mình trốn ra được thì thầy dắc con đến cù-lao Mông-tê cà-rít-tô, song nay thầy đã bán thân bất toại, thì con sẻ dắc thầy đến đó. Sao con không cám ơn thầy?
— Dạ, thưa Tôn-sư, vẩn hầm vàng ấy là cũa Tôn-sư, con không phải là thân tộc với Tôn-sư, có lẽ nào con dám ước mơ cũa ấy.
— Mà nay thầy đã nhìn con làm con rồi, trong cơn cùng khổ cha con hũ hĩ bấy lâu. Vì cha là kẻ tu hành không phép có vợ, nên Chúa thương cho cha gặp được con trong chốn lý-tiết nầy đặng con giải cơn sầu não cho cha là kẻ vô hậu kế đại và là kẻ phải bỏ mạng tại đây không sao trông ra khỏi được.
Cao-tăng nói rồi, giơ tay còn mạnh mà nựng Đăn-tết, Đăn-tết bèn ôm Cao-tăng mà hôn như con hôn cha vậy.
- ▲ Trong cuốn thứ tư có dịch lộn một chữ là Giáo-hoàng A-léc-xăn thứ Sáu chớ không phải thứ tư.