Bước tới nội dung

Tiền căn báo hậu/XXI

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tiền căn báo hậu của Alexandre Dumas, do Kỳ Lân Các dịch
XXI. Cù lao Tri-bu-lenh

XXI
Cù-lao Tri-bu-lenh

Khi Đăn-tết té xuống biển rồi, thì hồn bất phụ thể, song anh ta chuyển thần lực hoang mang, thò dao cắt bao mà ra, mà dưới chưn mắc bị đạn kéo trì, anh ta ráng cúi xuống nắm được giây dụi, cắc đứt, đoạn trồi lên mặt biển mà thở. Thở được rồi Đăn-tết bèn lặng xuống, là vì sợ e nếu lội vẫn vơ rủi ngục-tốt nó thấy thì còn gì, nên anh ta và lặng và lội ra xa một hồi lâu muốn ngột hơi, anh ta mới trồi đầu lên lấy hơi nữa, thì anh ta thấy trời vần vủ, mặt biển tối mò, ngó ngoái lại mà xem thì thấy Đại-thiên-lao đứng sờ sờ nơi xa một đám đồ sộ đen thui, thấy ngọn đèn leo lét có hai ba bóng người lấp loáng nơi đầu doi, đang lom khom dòm dưới biển; chắc đây chúng nó đã nghe được tiếng la hoãng cũa Đăn-tết, nên đang kiếm cho hiễu tại đâu. Đăn-tết lo sợ bèn lặng nữa, và lặng và lội. Vẩn khi chưa chịu hàm oan thì Đăn-tết hay lội chơi, ai ai cũng là khen, mà thiệt là vô song, không ai ở tại Mạt-xây lội lặng bằng va cả.

Chừng trồi đầu lên lần thứ ba thì Đăn-tết dòm thấy bóng đèn đã mất. Bây giờ phải nhắm cho trúng hướng mà lội. Gần lối Đại-thiên-lao thì có ba cái hòn, mà có người ta ở, còn hòn mà chắc không ai ở dể trốn thì có hai cái, một là hòn Tì-bu-lenh, hai là hòn Lơ-me; hai hòn ấy ở cách xa Đại-thiên-lao chừng 4000 thước (một dặm langsa). Tuy xa vậy mặc lòng mà Đăn-tết quyết lòng lội đến đó. Song trời một ngày một đen làm sao biết nó ở hướng nào mà lội cho nhằm. Trong lúc đang lưởng lự anh va vùng thấy đèn pháo-đài Bà-la-nhe. Nếu nhắm ngay pháo đài mà lội thì hòn Tì-bu-lenh ở bên cạy, hể cứ và lội và nam xiêng qua, thì sẻ gặp cù-lao ấy.

Vẩn nhiều lúc ở trong khám, Cao-tăng hể thấy Đăn-tết ngã lòng thì hay khuyên lơn dạy bảo phải gắn chí, bằng không, ngày nào trốn được, sức đâu đủ mà lội, sẻ phải chết chìm. Nay Đăn-tết đang lội chớ vớ dưới biển, liền nhớ lại các lời khuyên bão cũa thầy, bèn chuyển bình sanh chi lực mà sải thữ coi mình còn sức chăng, thì thấy sức mạnh còn như khi hồi nhỏ, lội lặng dởn sóng mà không biết mệt.

Vã lại sự sợ chúng bắt buộc nó làm cho sức Đăn-tết thêm được bội nhị, và lội và lóng tai nghe coi có ai rộn rực chăng. Mỗi khi lượng sóng nào cao, anh ta tưởng là thuyền, liền băng bộ lội riết, bởi vậy mà phải mau đuối sức. Đăn-tết nghĩ rằng: Nãy giờ mình lội đã hơn một giờ rồi, dầu bị nước ngược thì cho mất chừng 1 phần tư đường truờng, có lẻ khi ta cũng gần tới cù-lao Tì-bu-lenh rồi. Thình lình anh ta bắt rún mình thì biết sức đã đuối, anh ta liền thã ngữa mà nghĩ, song sóng càng ngày càng to, khó mà nghĩ như vậy được. Đăn-tết mới thề quyết lội hoài, chừng nào tay mỏi mê, chưn bị vọp bẻ thì chìm mà chết, chớ không chịu thả trôi nữa.

Lội một hồi anh ta thấy trước mặt một chòm chi đen kịt, tưởng là mây, đoạn sao đầu gối đụng nhằm cái gì đau quá, anh ta tưởng là bị đạn súng bắn, chắc lát nữa sẻ nghe tiếng súng nỗ. Đợi hoài không thấy, anh ta mới thò tay rờ đầu gối, rồi bỏ chưn xuống liền đụng đất. Cái chòm chi đen đó là hòn Tì-bu-lenh có núi đá đứng chần ngần trước mặt va. Đăn-tết bèn chờn vờn đi vào bờ, nằm trườn trên mấy hòn nghê mà thở mệt, lòng trí rất cám ơn Chúa vô cùng. Khi ấy tuy hòn nghê là đá có hàu ốc đóng chông, chớ Đăn-tết nằm êm hơn nệm-tý. Dông mưa khi ấy rầm rầm mà Đăn-tết chẳng kể, nằm trên đá ngũ một giấc mê mang.

Thình lình có sét đánh vang trời làm cho Đăn-tết giực mình thức giấc mở mắt ra, lâu lâu nhờ trời chớp nhán thấy mặt biển sáng lòa. Đăn-tết con mắt như thần, liền hiểu mình đã té vào cù-lao Tì-bu-lenh là chỗ hẹp hòi, khó trú, đợi khoẻ sẻ lội qua cù-lao Lơ-me rộng hơn dể tị nạn. Đăn-tết ngó quanh quứt thấy có hòn đá de ra, anh ta bèn chun dưới đá ấy mà đục mưa. Ngồi đó mà suy nghĩ, thình lình sóng to bũa vào làm cho hòn đá rung rinh, cả cù-lao rúng động, Đăn-tết bèn nhớ lại hơn 24 giờ đồng hồ rồi mà chưa ăn một hột cơm vào bụng, bây giờ mới biết đói, biết khát, anh ta bèn giơ hai tay hứng nước mưa mà uống đở khát.

Khi uống thắm giọng rồi Đăn-tết vừa đứng dậy thì trời vừa chớp sáng lòa, nhờ vậy mà thấy cơi giữa cù-lao Lơ-meTì-bu-lenh có một chiếc thoàn đang bị xiêu phong, gió thổi sóng dồi chạy như dông vào chổ anh ta đang ngồi. Anh ta muốn lấy đồ mà ra dấu rằng thoàn đó bị hiểm nghèo, sẻ tuôn lố mà bể nát. Chừng trời nhớp nhán nữa Đăn-tết thấy có 4 người đang ôm cột, ôm chằng, còn người thứ 5 thì ngồi cằm tay bánh đã bể nát rồi. Có lẻ mấy người ấy thấy va, vì tiếng la bay thấu đến tai va. Thình lình Đăn-tết nghe một cái sạt, rồi có tiếng người la in õi xin lại cứu. Đăn-tết bèn đứng dậy, hai tay nắm nương hòn đá, mà dòm kiếm, nhờ trời chớp nhán va thấy chiếc thoàn hồi nãy đã bị lố mà bể nát rồi, còn người thì giơ tay lên kêu trời mà chờ vận. Đó rồi Đăn-tết lóng tai hết sức mà không nghe gì nữa.

Lần lần mưa hạ gió tan, chơn trời ững đỏ, ấy là dấu hừng đông, trời gần sáng. Chừng đó lối đâu 5 giờ, Đăn-tết bèn ngó xa thấy Đại-thiên-lao vững như trồng đứng chần ngần giữa biển; anh ta nghĩ thầm rằng:

— Trong vài giờ nữa đây ngục-tốt đem cơm vào khám mình, thấy thây ma Cao-tăng sẻ tri hô, thì chuyện mình sẻ bể, vì họ vào khám mà truy tầm dấu tích, sẻ thấy lỗ hang, đường qua lại khám Cao-tăng. Quan sẻ kêu hai tên lính quăng ta xuống biển mà tra, thì chi cho khỏi nó khai có nghe tiếng la hoãng, tức thì quan sai lính ngồi thuyền đi đáo soát các cù-lao mà bắt mình, súng đồng tại Đại-thiên-lao sẻ phát pháo cho cã Hải-khẫu hay rằng có tù trốn, bất kỳ là thuyền ai không nên cho quá giang. Những lính Mã-kín, những tay ở không, sẻ càn bờ đạp buội mà tập nã, quan Tổng-trấn sẻ cho lính đi tuần do ngoài biển, thì mình mới trốn đi ngã nào cho lọt. Mình phần đói, phần khát, mà lại tay không, lấy chi mà cự địch. Nếu một tên điền-phu kia ham ăn thưởng 20 quan tiền, nó sẻ bắt mình dể như trở tay. Trời đất ôi! Còn gì tánh mạng tôi, xin Chúa phò hộ tôi với, vì tôi đây đã thế cùng lực tận rồi. Tôn-sư ôi, là Tôn-sư! Hồn thầy có linh thiêng xin xuôi khiến cho thuyền nào chạy qua lối đây mà cứu tôi cùng!

Vái trời, kêu thầy vừa giức lời, mắt chợt thấy trước mặt có một chiếc thoàn đang chạy vát bườm ngoài khơi. Đăn-tết ngó một hồi bèn biết thuyền ấy ở cữa Mạt-xây chạy ra. Đăn-tết mới trù nghĩ như vầy: Đây ta lội riết tới ngoài thuyền mà xin họ vớt thì được rồi, song không biết họ có dám vớt mình chăng, mà chừng họ chịu vớt, rồi họ hỏi tôn-tích, thì mình mới bày đều mà nói cách nào cho họ tin, vì thoàn ấy chắc là thoàn buôn lậu, thoàn gian thương, gặp dịp cũng dám ra tay ăn cướp, nó ưa bán người hơn là làm phước vô lợi như vậy.

Thôi ta cũng nên đợi coi.

Mà đợi sao được, trời ôi, trong lòng chẳng có một hột cơm, chẳng bao lâu đây phải ngã, vã lại tại Đại-thiên-lao giờ đem cơm cho tội-nhơn các khám cũng gần tới. À phải, ta nên lội ra đó mà dối rằng ta là bạn biển bị xiêu phong, thoàn bị lố mà bể nát rồi, thì ai đâu đó mà đôi chối với ta. Nói như vậy rồi liền ghé mắt xem chiếc thoàn bị lố bể, thấy xác hởi còn nằm đó, anh ta liền chợt thấy một cái mủ đỏ còn dính trên chông đá, ấy là mủ cũa bạn biển thuyền ấy bỏ trôi. Đăn-tết nhứt định y như kế, lội tuốc ra lố lấy mủ đội đầu, lấy then thuyền làm trái nỗi mà lội tuốc ra khơi chận đường thoàn gian thương đang chạy vát ngoài biễn.

Đăn-tết và lội và nghĩ: Nay tánh mạng ta vững như trồng, khõi chốn trăng trói được rồi!

Nghĩ như vậy thì sức lực càng thêm. Đăn-tết dòm thấy thoàn gian thương chạy còn hai ngàn thước nữa mới tới mình, anh ta bèn nhãy dựng lên mặt biển giơ tay xin cứu. Song dưới thuyền không thấy, anh ta tính kêu la, mà ngặt còn xa quá kêu la sao thấu.

Đăn-tết mới tính thôi để nằm trên then thuyền bể đặng thả trôi mà nghĩ mệt một lúc, đợi thuyền lại gần mới kêu la xin cứu. Khi Đăn-tết thấy thuyền trở lèo chạy qua phía va, va bèn ráng lội đón đầu, chừng còn chẳng bao xa, anh ta nhảy dựng lên và giơ tay và kêu la in ổi, các ban thoàn gian thương chuyến nầy thấy rỏ, bèn bỏ cù-lạp xuống biễn, chèo lại mà vớt anh ta. Đăn-tết thấy cù-lạp chèo lại còn xa xa, anh ta bèn buông cái then bể mà lội lại cù-lạp, ai dè thế cùng lực tận, bải hoản tay chưn, tê mê thân thể, anh ta bèn la hoãng rồi hụt chưn, sóng lại bũa lấp phủ đầu.

Đàng cù-lạp họ thấy vậy, và nổ lực chèo, và la: Bớ người kia, hãy ráng gượng lấy.

Anh ta nghe vẵng vẵng bèn ráng trồi lên mặt biển chớ vớ, hụp xuống, rồi trồi lên lại lần nữa, thì nghe dường như có ai nắm tay, nắm tóc kéo lên nằm cù-lạp rồi, chừng ấy anh ta đà bất tĩnh nhơn sự.

Khi tỉnh lại, mở mắt ra, Đăn-tết thấy mình nằm trên sáp thoàn đang chạy vát. Đăn-tết liết xem thì thấy thoàn ấy chỉ mủi ra khơi, trong lòng mới mừng rở, bèn thở dài ra một hơi. Bạn tàu xúm xít lại, kẻ hơ, người chòa mà cứu cấp, kẻ thì đổ rượu mạnh vào họng, người lại thăm len.

Nhờ ít giọt rượu mạnh, mà Đăn-tết gượng lại lần lần, nhờ có họ chòa bóp mà tay chưn bớt tê bớt mỏi. Chũ thoàn thấy Đăn-tết đã tỉnh hồn rồi, bèn dùng tiếng Langsa ba trợn mà hỏi:

— Ngươi là ai mà chớ vớ dưới dòng biển bạc như thế?

Đăn-tết dùng tiếng I-ta-li ba trợn mà đáp rằng:

— Tôi là bạn biển Manh-tê, ngồi thuyền ở Xi-ra-cự chở rượu bồ-đào về Mạt-xây. Dông hồi hôm đưa thuyền chúng tôi vào lố bể nát tại mủi Mọt-giu, chú đứng đây ngó thấy đó.

— Mà ngươi ở đâu lội lại đây?

— Tôi ở tại mủi Mọt-giu mà lội ra đây, lái tôi bị dập đầu vào đá chết tươi, các bạn bè khác thì chết trôi, chỉ còn một mình tôi ngóc ngoảy, may đâu tôi thấy thuyền chú chạy vát ngoài khơi, tôi bèn lượm then thuyền bể ôm mà lội ra xin người cứu cấp. Nay chú đã ra ơn cứu tữ hoàn sanh, tôi cám ơn chú vô cùng, vì tôi gần chết chìm, nhờ có bạn chú nắm đầu tôi mà kéo lên mới khỏi vào bụng cá.

Tên Mạch-lô cứu Đăn-tết, tên là Gia-cỗ-bộ nói rằng:

— Phải, hồi đó chú gần hụt hơi, may chút nữa hồn về địa phủ rồi, còn gì.

— Cha chã, tôi cám ơn anh biết là dường nào.

— Hồi đó tôi dụ dự không muốn vớt chú, vì thấy râu chú sồm xàm, tóc chú dài cã nhống, nghi là tay ăn cướp biễn.

— À phải đa, là vì ngày kia trong lúc hiễm nguy tôi có khấn hứa với Đức Chúa Bà rằng nếu tôi sống được thì mười năm không cạo râu, không cúp tóc. Bữa nay đã mản kỳ khấn hứa rồi, mà thiếu chút nữa tôi đã chết trôi.

Chũ thoàn hỏi:

— Nay ngươi muốn đi đâu?

— Dạ, nay lái tôi đã bỏ mạng, thoàn đã bể rồi, tôi xin chú, bất kỳ là bến nào, có ghé lại thì cho tôi lên bờ, kiếm thuyền khác ở mướng:

— Ngươi thông thạo hết các niềm biển Địa-trung-hải chăng?

— Dạ, từ nhỏ đến lớn tôi hằng chạy thuyền trong biển nầy.

— Ngươi thông thạo mấy bến đậu hết chăng?

— Dạ, chẳng có bến nào, hãi khẩu nào, cữa biển nào mà tôi không vô đặng ra đặng dễ như chơi, nhắm mắt mà qua lại không sao.

Tên mạch-lô Gia-cỗ-bộ đó nói rằng:

— Vậy thì xin chú-lái hãy mướng luôn người nầy đi với mình.

— Nếu nó nói thiệt thì ta cũng sẻ dùng, nhưng sợ e bây giờ túng cùng nó nói bướng vậy, rồi sau không ra gì.

— Dạ, tôi không có nói bướng đâu.

— Thì sau sẻ hay,

— Dạ, chừng nào chú-lái muốn thữ tôi thì tôi ra nghề cho chú lái thấy, ấy vậy nay chú-lái tính đi xứ nào?

— Ta tính đi thành Li-huộc.

— Như vậy sao chú lái không gò lèo lại mà chạy thẳng, để chạy vát chi cho mất giờ ngày.

— Nếu ta gò lèo thì sợ e ghe chúi mủi vào cù-lao Ri-ông.

— Không sao đâu, tôi chạy dựa cù-lao cách xa chừng 20 sải được mà.

— Nếu vậy, thì ngươi hãy lại đây cầm lái coi thữ giỏi dở dường bao.

Đăn-tết lại cằm lái thữ thì biết thuyền ăn lái khá, dể khiến, anh ta bèn hô rằng:

— Bạn bè đâu đó hảy đứng cho có nơi.

Bốn tên bạn ở dưới thuyền đều chạy, ai đứng theo chổ nấy, còn chũ thuyền thời ngồi xem thì thế.

— Gò lèo.

Bạn bè theo, liền thi hành.

— Cột ghịch lèo lại đó.

Bạn bè cứ thi hành như trước.

Tức thì thuyền trở mũi chạy bon khỏi vát, dựa lách theo cù-lao Ri-ôug cách 20 sải như lời Đăn-tết tiên liệu không sai.

Lái thuyền khen:

— Thiệt là tài!

Bạn bè cũng khen dồ:

— Thiệt là giỏi!

Đó rồi cả ghe cứ ngó Đăn-tết mà trầm trồ.

Còn Đăn-tết nay hết chết rồi, mặt mày phương phi, con mắt có thần, thân thể khương cường.

Đăn-tết giao tay lái lại cho chũ thuyền mà nói rằng:

— Chú-lái thấy tài tôi rồi, như muốn dùng tôi thì tôi sẻ lấy tiền tháng mà trả tiền cơm nước quần áo cho chú-lái; bằng tới Li-huộc mà hết muốn dùng tôi nữa, thì tôi đi kiếm ở mướng chô khác.

— Ừ, ừ, nếu ngươi ăn ở vừa lòng ta thì ta sẻ định liệu.

— Dạ, người cũng thì người, ai ăn lương bao nhiêu, thì tôi xin ăn bấy nhiêu.

Mạch-lô Gia-cỗ-bộ nói:

— Vậy sao phải, chú giỏi hơn anh em tôi, thì phải ăn trộng tiền hơn.

Lái thuyền la tên mạch-lô ấy mà rằng:

— Chuyện chi cũa mầy mà mầy đúc miệng vô, nó thong thả muốn ở mướng cách nào tự ý nó má.

— Phải, tôi tỷ mà nghe đó thôi.

— Như mầy có dư quần áo thì hãy cho nó mượn bận, hay hơn là nói xàm.

— Tôi có một cái áo lót mồ hôi và một cái quần.

Đăn-tết nói:

— Vậy cũng được, không sao!

Tên Gia-cổ-bộ liền nhảy vào khoan thuyền đi lấy áo quần cho Đăn-tết bận. Đăn-tết lấy làm mừng rở vô cùng. Chừng Đăn-tết mặc áo quần rồi thì lái thoàn mới hỏi:

— Ngươi còn muốn chi nữa chăng?

— Dạ, cho tôi xin một miếng bánh và một chút rượu rôm, vì hèn lâu tôi không có một hột cơm trong bụng.

Đăn-tết đang ăn bánh và mới vừa thò tay lấy bầu rượu, thì liền nghe lái thoàn hô:

— Bẻ tay lái qua bên cạy.

Đăn-tết ngó qua bên cạy liền hổi ôi. Lái thoàn cũng thấy như va liền hỏi rằng:

— Tại Đại-thiên-lao có chuyện chi lạ sao mà súng đại bát phát pháo kia kìa?

Là khi ấy hai đàng đều thấy gần Đại-thiên-lao có chòm khói trắng bay lên trời, một lát lại nghe tiếng súng nỗ.

Cã thoàn lái bạn gì đều lấy mắt nhìn nhau.

Lái thoàn bèn hỏi:

— Cái gì vậy kìa?

Đăn-tết đáp rằng:

— Có lẻ khi tại Đại-thiên-lao có tội trốn, nên họ phát đại pháo chớ gì?

Nói rồi liền lấy bầu rượu mà uống. Lái thoàn liết ngó anh ta, thì chẳng thấy Đăn-tết biến sắc, mặt mày tỉnh táo như thường, đang lo hưởng cái mùi rượu ngon. Dầu lái thoàn có nghi tâm thì bất quá nghi xáng qua đó thôi.

Đăn-tết lại vọt miệng nói rằng:

— Cha chã rượu nầy mua ở đâu mà nồng mà ngon dữ vậy. (Đăn-tết và nói và quẹt miệng và lau mồ hôi tráng).

Lái thoàn ngó anh ta mà nói thầm rằng:

— Nếu nó phải là tội vượt ngục thì khoái cho ta biết bao, vì ta vô cớ mà được một tay khắn khái dường ấy.

Đăn-tết bèn nói với lái-thoàn rằng:

— Dạ, thưa chú, tôi mệt quá, xin để cho tôi ngồi cầm tay lái đặng nghỉ mệt luôn thể.

Lái-thoàn bảo tên bạn đang cằm tay lái giao cho Đăn-tết coi thế cho.

Đăn-tết ngồi vậy thì dòm thấy rỏ Đại-thiên-lao. Gia-cổ-bộ lại ngồi gần Đăn-tết mà đàm đạo, thì Đăn-tết hỏi va rằng:

— Bữa nay mồng mấy há?

— Bữa nay là 28 février.

— Năm gì, ha anh?

— Chú quên năm gì sao?

— Làm sao không quên, hồi hôm gần chết, sợ thất thinh, giống gì cũng phải quên, lựa là năm, tháng, ngày, giờ. (Đăn-tết và nói và cười xòa).

— Năm nay là năm 1829.

Đăn-tết tính lại thì từ ngày bị bắt đến nay đúng 14 năm chẵn. Khi vào Đại-thiên-lao là 19 tuổi, nay vượt ngục rồi tính lại là 33 tuổi. Anh ta tính rồi mĩn cười một cách thê thảm mà nghĩ thầm trong lòng rằng: Không rõ từ đó đến giờ con Mẹt-xê-đết nó tưởng ta chết rồi thì nó ra thể nào?

Nghĩ như vậy rồi trợn mắt nghiến răng hoáng ba gả làm hại anh ta đó, thề quyết chẳng chung đội trời với Đăng-lạc, Phẹt-nănđờ Huynh-pho.

Trong khám vẩn Đăn-tết có thề như vậy mà còn hởi mơ màng, nay ra ngoài được rồi, thì cái thề đó có nghĩa lý, vì thoàn nào bất câu khó mà theo kịp thoàn nầy, đang nhờ gió xuôi, nước xuôi mà trực chĩ thành Li-huộc.