Tiền căn báo hậu/XXIX
XXIX
Hãng Mo-ren
Ai mà khi trước đã có quen thuộc lai vãng với hãng Mo-ren, rồi đi xa, nay trở về lại vào hãng ấy mà viếng thăm thì thấy khác xa hơn xưa bội phần, bây giờ vật đỗi sao dời. Trong cơn thạnh thời, thì kẻ ra người vô cã ngày trùng trùng, nào là thùng kia, bao nọ chất nhóc đến đụng nóc nhà, kẻ giúp việc qua lại lăng xăng, thương khách tới lui rần rộ, vợ con hớn hở, tôi tớ vui cười. Còn bây giờ là lúc vận kiến thời quai, trông vào cái cảnh buồn nầy thì thấy một cuộc điêu tan buồn thãm. Kho tàng trống lổng, kẻ giúp việc buồn xo: sân bạch canh không khách vãng lai, nhà quanh vắng tớ thầy buồn thãm, khi trước kẻ giúp việc đông đảo, nay còn lại có hai người mà thôi: một thầy tên là Em-ma-nu-enh Rê-mông là người phải lòng con gái ông Mo-ren, cha mẹ rầy la mà thầy ấy cứ việc đến giúp ông Mo-ren bất từ lao khỗ, còn thầy kia ở đó đã lâu năm, lo việc đi đòi tiền, tên là Cô-cà-lết là vì thầy ta có tật đui hết một con mắt, nên kẻ giúp việc trong nhà khi xưa đông đảo bày ra tên ấy mà kêu, chớ anh ta có tên khác, kêu lâu ngày quen miệng, mà thầy ta cũng đã quen tai, cho nên có nhiều lúc họ kêu chánh danh cha mẹ đặt mà anh ta không ừ hữ.
Vẩn thiên hạ thấy ông Mo-ren nay suy sụp nên đã bỏ đi kiếm chỗ khác làm. Có một mình cậu Cô-cà-lết không chịu phụ chũ, cứ việc ở đó mà làm tôi cho trọn đạo. Nay vì thiếu người dùng nên cậu Cô-cà-lết kiêm nhiều chức, lúc thì làm tài phú giữ bạc, khi thì đi thâu tiền, rảnh thì làm bồi, làm cu-li chi trong nhà đều không hề từ chối.
Tuy vậy mặc lòng chớ Cô-cà-lết cứ giữ một mực không hề đổi tánh, hiền từ, nhẩn nại, trung hậu mà rất mực thước kim chĩ trong việc tính toán, sổ sách rất rành rẻ, ít ai bì kịp. Tuy chũ mình nay một ngày càng suy sụp tới, ai rũng chí mặc ai, chớ cậu ta cứ việc làm không hề xao lãng. Chẳng phải là Cô-cà-lết lòng sắt dạ đá gì, song vì từ thuở nay hằng thấy hãng Mo-ren chẳng hề thiếu đũ ai một đồng xủ nhỏ, nên ai bỏ đi mặc ai, Cò-cà-lết hằng trông cậy hể hết cơn bĩ cực thời tới thì thới lai. Tháng rồi tuy hãng suy sụp mà toa ai đem tới cũng đều được trả đủ ráo, không kỳ hẹn với ai. Anh ta cọng sổ rồi thấy ông Mo-ren tính lộn hết một cắc hai, anh ta liền đem mà trả cho ông Mo-ren. Ông Mo-ren thấy tôi trung như vậy mà mũi lòng buồn cười, lấy tiền bỏ vào hộc tủ mà khen rằng: Thiệt không ai ngay ngắn như ngươi.
Cô-cà-lết nghe khen khoái dạ vô cùng, vì ông Mo-ren là người chơn chánh mà khen mình, thì quí hơn là thưởng cho mình 50 đồng vàng.
Tháng rồi đây có tiền mà trả đủ cho các tiệm, ấy cũng là nhờ ông Mo-ren túng thế quá, chẳng biết tính kế chi được, bèn đem đồ nữ trang cũa vợ con, lén đến chợ phiên Bô-ke mà bán, đặng lấy tiền trả cho người, vì không muốn cho họ đàm tiếu thị phi. Nay đã tính thanh tháng nầy thì trong tủ không còn nhứt điếu, vì các nơi đã nghe ông Mo-ren gần khánh tận. thì đâu đó co tay không hề cho thiếu đủ nữa. Còn về phần nợ thiếu ông đờ Bô-huynh tới 15 tháng nầy phải trả 10 muôn, 15 tháng sau trả 10 muôn nữa sẻ tất nợ, thì ông Mo-ren vô phương, chỉ có trông cho tàu Pha-ra-ông về mới trả được nợ ấy, vì có tàu quen về nói tàu Pha-ra-ông nay mai gì cũng về tới vì hai chiếc ở tại ấn-độ đều trở lái một lược với nhau. Song nay tàu quen ấy về tới Mạt-xây đã đặng 15 ngày rồi mà sao chiếc Pha-ra-ông chưa thấy tâm dạng tin tức gì ráo vậy.
Nói về tài phú hồng-mao khi tính mua giấy nợ cũa ông đờ Bô-huynh xong rồi, bèn bước đi thẳng lại hãng Mo-ren.
Thầy Rê-mông tiếp rước vào phòng việc, là bởi thẩy không muốn cho chủ mình nhọc lòng, vì khách nào lạ mặt mà tới trong lúc nầy, chắc là chủ nợ cả thảy. Nên thầy Rê-mông mời tên tài phú hồng-mao ngồi rồi, liền hỏi đi có việc chi. Tên tài phú trả lời rằng muốn nói chuyện riêng với ông Mo-ren mà thôi, Rê-mông buồn lòng thở ra mà kêu cậu Cô-cà-lết. Chừng Cô-cà-lết chạy vô thì Rê-mông bảo va phải dắc tài phú hồng-mao lên ông chủ.
Chừng lên tới thang thì tên tài phú Hồng-mao ấy thấy một người con gái tác chừng 17 tuổi, dòm chừng khách mà có lòng lo sợ. Cô-cà-lết liền hỏi: « Có ông chủ ở trong phòng chăng?
Cô ấy trả lời:
— Tôi tưởng có, thầy vô đó coi có cha tôi, thầy cho cha tôi hay rằng có khách, tên là chi đến thăm.
Tên tài-phú nói:
— Cho hay chi cái tên vô ích, vì ông Mo-ren không biết tên tôi đâu. Xin thầy đây nói với ông Mo-ren rằng tôi là tài-phú hảng Tôm-xông và Phú-lảng công-ty ở Rô-ma đến có chuyện riêng thì đủ.
Cô nọ nghe nói vậy liền xanh mặt rồi bỏ đi xuống thang, còn khách với Cô-cà-lết thì đi thẳng lên lầu.
Cô-cà-lết đem tên tài phú vào phòng một bên đầu thang ngồi đợi rồi chạy vào cho chủ hay. Chủ dạy mời khách vào. Tài-phú Hồng-mao bước vô thơ-phòng thấy ông Mo-ren đang ngồi cọng sỗ nợ, mặt mày héo don, khí sắc vỏ vàng. Khi ông Mo-ren hay khách vào bèn xếp sổ, bước tới tiếp khách mời ngồi.
Vẩn khi Đăn-tết bị hàm oan thì khi ấy ông Mo-ren mới có 32 tuổi. Ngày nay tính lại thì ông Mo-ren đã gần 50 rồi, diện mạo khác xa khi trẻ biết là ngằn nào: tóc bạc mày nhăn, con mắt khi xưa trong tỏ như sao băng, nay có hơi lơ lãng, có ý sợ việc chi đó vậy. Tên tài-phú Hồng-mao ngó sững ông Mo-ren vì va có lòng vụ tất đến ổng.
Ông Mo-ren thấy ngó vậy có ý nột bèn hỏi:
— Túc-hạ ở đâu đến viếng tôi và có chuyện chi chăng?
— Dạ, tôi có nói với người vô cho ông hay rằng tôi là tài-phú chánh hãng Tôm-xông và Phú-lãng công-ty ở Rô-ma đến muốn nói chuyện riêng với ông.
— Phải, nó có nói với tôi như vậy.
— Vậy thì, không sai. Vẩn hãng tôi trong tháng nầy và tháng sau sẻ phải trả cho người ta ở tại nước Langsa hơn ba bốn chục vạn quan tiền, nên hãng tôi đi góp các tờ vay cũa ông thiếu tứ phương mà giao cho tôi qua đây lãnh bạc đặng trả cho người ta, vì biết ông là người chắc chắn, hể đúng kỳ thì trả không hề sai chạy chút nào.
Ông Mo-ren nghe nói vậy bèn thở ra, lấy tay vò tráng đang lõa mồ hôi mà nói rằng:
— Túc-hạ có đem theo đó chăng?
— Có, nội vụ cọng lại cũng bộn bạc.
— Bộn bạc là bao nhiêu, xin cho tôi hiểu?
— Ông có thiếu ông đờ Bô-huynh là quan thanh-tra các khám đường 20 vạn quan, ngài đã nhượng giấy nợ ấy lại cho hãng tôi, có giấy đây, ông coi lại có phải vậy chăng?
— Phải, ông đờ Bô-huynh có gởi tại hảng tôi đã đặng năm năm nay, 20 muôn quan, định mổi trăm mổi năm lời là 4 phân rưỡi.
— Ông hứa trả cách nào?
— Ngày 15 tháng nầy trả phân nữa, ngày 15 tháng sau phân nữa thì tất.
— Đây còn một mớ giấy nợ ông thiếu các nơi, họ nhượng lại cho hãng tôi, cọng là ba muôn hai ngàn rưỡi quan, tới tháng nầy phải trả.
— Phải vậy (ông Mo-ren và nói và đỏ mặt thẹn thuồn, vì cã đời chắc có một chuyến nầy trã không nỗi), mà còn nữa hay hết?
— Còn nữa. Hãng Vinh và Tược-nê công ty ở Mạt-xây có nhượng cho hãng tôi các giấy nầy cọng là năm muôn rưỡi, nhập với các mối kia tính tổng cọng là hai mươi bốn muôn, bảy ngàn, năm trăm quan.
Ông Mo-ren hồi đó ngồi nghe tính các mối nợ thì trong lòng thảm biết mấy thu, nghe Tài-phú nói bèn lập lại:
— Tổng cọng là 24 muôn 7 ngàn rưỡi quan.
— Nợ như vậy mà không biết ông tính cách nào, tuy ông là người chơn chánh thuở nay không hề sai lời với ai mặc lòng, mà tôi nghe họ đồn rằng ông chắc suy sụp rồi, khó mà trả nổi số bạc nầy?
Ông Mo-ren thấy Tài-phú nói không chổ chứa chổ đẻo như vậy, bèn tái sắc mà nói rằng:
— Túc-hạ chưa rỏ, để ta phân lại cho túc-hạ tường. Số là cha ta khi sanh tiền làm chủ hãng nầy 35 năm trời chẳng hề sai chạy cũa ai một đồng xu nhỏ, tới phiên ta làm chủ nay đã đặng 24 năm rồi, cũng không hề kỳ hẹn với ai một mảy.
— Dạ, tôi cũng biết việc ấy, chớ chẳng nào không, song cứ việc thiệt mà phân, thì tôi muốn biết ông nay có thế trã nổi nợ nầy cùng chăng?
Ông Mo-ren nghe hỏi tột lẻ vậy bèn nói rằng:
— Túc-hạ hỏi hẳn như thế thì ta cũng phải khai ngay cho túc-hạ tường: Nếu nay mai tàu ta về tới bến thì ta sẻ trả được, vì bấy lâu ta bị nhiều phen họa hại, làm cho thiên hạ không dám giúp nữa, song le khi chiếc tàu Pha-ra-ông về tới thì bề gì ta chạy cũng kham. Còn ví bằng tàu ấy không về thì, (nói đến đó ông Mo-ren liền rưng rưng giọt lụy).
— Ví bằng tàu ấy không về thì sao?
— Vẫn ta đã chịu nhiều đều họa hại nên cũng đã quen cái nhục nhã rồi, nên ta nói hẳn cho túc-hạ tường, là nếu tàu ấy không về thì chắc ta phải đóng cữa.
— Vậy chớ ông không có bạn lành giúp ông sao?
— Trong việc buôn làm sao mà có bạn lành, cả thảy là tay giao diệt thôi, thế nào mà giao tình trong việc buôn được.
— Phải vậy, mà nay ông hởi còn một đều trông cậy thôi.
— Phải, còn một đều trông cậy thôi.
— Vẩn không còn trông chi thêm được nữa?
— Không.
— Như rứa mà nếu đều trông cậy đó mà mất đi, thì...?
— Thì số hệ ta sẻ cùng rồi.
— Hồi nãy khi tôi đi lại hãng ông đây thì có một chiếc tàu vô cữa.
— Ta đã biết rồi, vì có tên trai trung hậu còn ở giúp ta, hằng ngày nó đi đón tàu, mới cho ta hay đó.
— Tàu ấy không phải cũa ông sao?
— Không, ấy là chiếc tàu Gi-rông ở Ấn-độ về, mà không phải của ta.
— Có lẻ khi chiếc tàu Gi-rông biết tàu ông còn ở đâu chớ?
— Thà ta không hỏi thì hay hơn, vì trong cuộc mơ màng thì còn trông cậy được hơn là biết chắc. Vã lại tàu Pha-ra-ông ở Ấn-độ trở lái hôm 5 Février, lẻ thì nó phải về tới đây hơn một tháng rồi.
— Ông ôi! Ai la khóc gì đó?
— Trời ôi! Chuyện chi vậy?
Số là hai vị đang nói chuyện thình lình nghe tại thang lầu thiên hạ xao xiếng, lại có tiếng khóc than.
Ông Mo-ren muốn đứng dậy đi mở cữa mà dậy không nổi.
Tên Tài-phú hồng-mao ngó ổng một cách rất thãm thiết. Tuy ngoài thang thiên hạ hết xao xiếng, mà chắc sao sao cũng có họa tai đến nhà nữa chớ chẳng không đâu.
Thình lình có người xô cữa vô. Hai vị chủ khách day lại thì thấy con gái ông Mo-ren bước vô nước mắt chan hòa.
Ông Mo-ren bèn ráng đứng dậy vịnh bàn mà ngó con.
Tiểu-thơ nói rằng:
— Thưa cha, con xin chịu tội vô lễ, đem tin dữ cho cha hay. Cha ôi là cha ôi! vận nhà ta đà hưu hĩ rồi.
Tiểu-thơ nói rồi chạy lại ôm cha mà khóc ròng.
Ông Mo-ren liền hỏi:
— Có phải chiếc tàu Pha-ra-ông bị chìm rồi hay sao mà con khóc vậy?
Tiễu-thơ không nói ra, mà gụt đầu vào ngực cha làm dấu là phải.
— Còn bạn bè sống thác thể nào?
— Dạ, không chết, vì nhờ chiếc tàu Gi-rông vớt được ráo.
Ông Mo-ren nghe vậy bèn giơ hai tay lên trời mà làm dấu rằng trời khiến phải sao thì ổng chịu vậy.
Tài-phú hồng-mao thấy vậy cũng ứa nước mắt.
Ông Mo-ren kêu vói ngoài cữa rằng: Ai đứng ngoài đó hãy vô.
Nghe dạy vậy thì bà Mo-ren và bước vô và khóc dầm dề, có thầy Rê-mông đi theo với bảy tám tên mạch-lô đứng lắp ló ngoài cữa, quần áo tả tơi. Tài-phú hồng-mao thấy vậy muốn lại hỏi han, song anh ta nghỉ lại sợ chúng biết, bèn đi dang ra nơi góc tối đứng mà nghe thời sự.
Bà Mo-ren lại ngồi gần chồng nắm tay mà bi lụy, tiểu-thơ cứ đứng vịnh vai cha, còn thầy Rê-mông thì đứng giữa phòng.
Ông Mô-ren hỏi:
— Việc rủi ro xãy ra làm sao?
Thầy Rê-mông kêu tên Bên-lông mà rằng:
— Chú hãy bước vào đây thuật chuyện lại cho ông chủ nghe.
Bên-lông bước vào mà rằng:
— Chào ông mạnh giỏi.
Ông Mô-ren thấy vậy buồn cười mà hỏi:
— Vậy chớ Cạp-bì-tên ở đâu, không thấy vô.
— Dạ, Cạp-bì-tên còn bệnh, nằm tại thành Banh-ma, mà không sao, nhờ trời vài ngày đây ổng cũng về tới xứ.
— Thôi ngươi hãy thuật chuyện nghe,
Bên-lông trước khi nói, thò tay vào họng móc thuốc ngậm bên nây bỏ sang qua bên kia, xơm tới vài bước, lấy tay chận miệng, day mặt qua chổ khác mà xịt nước miếng, rồi mới nói như vầy:
— Dạ, số là chúng tôi khi trở lái chạy ra khơi đến gần Bạch-địa-giác bị trời bặc gió hơn sáu ngày, tàu phải cầm cơ giữa biển, kế đó nhờ có gió nam thổi khá, tàu chạy như tên bay. Khi ấy tôi đang cầm lái thì Cạp-bì-tên đến kêu tôi mà hỏi rằng:
— Nầy Bên-lông, mầy coi đàng chơn trời cái đám mây đó có phải là điềm dông tố chăng?
Tôi trả lời rằng:
— Cha chả tôi sợ có dông tố đa, sao mà nó đen kịt và tuôn lên mau quá vậy?
Cạp-bì-tên nói:
— Tao cũng tưởng như mầy. Ấy vậy để ta dự phòng, vì nếu để bườm vậy thì không xong đa. Nói rồi liền hô:
— Ớ bạn bè, mau mau bớt bườm đi, và gò lèo lại.
Lịnh vừa ra thì gió đà tới bên chưn, làm cho tàu nghiên triềng.
Cạp-bì-tên nói:
— Gió lớn lắm, bớt bườm giữa đi.
Bớt bườm rồi mà gió càng ngày càng to, cạp-bì-tên còn dạy cuốn bớt bườm nhỏ nữa.
Tên tài-phú hồng-mao nói:
— Cuốn bớt bườm chẳng bằng đễ chừng một cái mà chạy, còn bao nhiêu đều phải hạ hết, vì lối đó không nên khinh dễ đâu.
Ai nghe tài-phú hồng-mao luận vậy cũng đều ngó chàng va.
Tên Bên-lông bèn trả lời rằng: Đó rồi chúng tôi hạ hết bườm để cột không mà chạy.
Tài-phú hồng-mao nói:
— Chạy vậy mà tàu Pha-ra-ông củ quá chịu sao nổi.
— Bỡi vậy cho nên không khỏi bao lâu tàu bị sóng vậc qua vã lại bèn nức lường phá nước. Cạp-bì-tên kêu tôi mà nói rằng:
— Bên-lông ôi! Tao chắc tàu phá nước rồi, giao lái cho tao cằm, mầy đi xuống hầm coi thử quã vậy chăng?
Tôi liền trao tay lái, chạy xuống hầm thì thấy nước vô đã tới rúng tôi rồi. Tôi chạy lên hô lớn rằng: Bạn bè phải áp lại thục nước! mà thục chừng nào nó vô chừng nấy. Tôi bèn nói rằng:
— Ôi thôi, tàu muốn chìm thì để cho nó chìm, hơi sức nào mà thục, chết một lần, chớ không lẽ chết hai lần hòng sợ nà.
Ông Cạp bì-tên la tôi rằng:
— Sao mầy lại đi làm gương xấu cho bạn bè bắt chước vậy, mầy sẽ coi tao. Nói vậy rồi ổng chạy vào phòng lấy hai cây súng sáu lòng cằm một tay một cây, chạy lại gần anh em tôi mà nói lớn rằng:
— Đứa cả gan không chịu thục nước thì tao bắn nó bể óc.
Tên tài-phú hồng-mao nói:
— Làm hẳn vậy mới được cho.
— Nghe vậy đứa nào cũng sợ, hết sức lo thục nước. May sao trời tạnh gió. Song nước cứ chảy vô tàu hoài, một giờ đồng hồ thêm vài phân. Coi thì không ra chi, song trọn ngày đo lại nước bò lên thêm hơn sáu bảy tấc, dò coi từ đáy tàu tới mực nước có hơn 1 thước bề sâu rồi.
Cạp-bì-tên thấy vậy bèn nói rằng:
— Thôi, mình đã làm hết sức mà cứu không nổi, sau ông Mo-ren có hay không trách mình được. Ấy vậy bây giờ bỏ cù-lặp xuống biển lo mà thoát nạn, cho mau chớ trể.
— Dạ, bẫm ông chủ, chúng tôi thiệt tình thương mến chiếc Pha-ra-ông lắm, song mạng con người quí trọng hơn, nên khi chúng tôi nghe ông Cạp-bì-tên nói vậy, chúng tôi liền chạy đi thòng cù-lạp xuống biển. Bạn bè xuống rồi mà ông Cạp-bì-tên không chịu xuống, bảo anh em chúng tôi xạt đi. Tôi không nghe nhảy lên bon ôm đại ổng mà quăng xuống cù-lạp rồi tôi nhảy theo, cù-lạp vừa giang ra thì bon tàu bựt nỗ tiếng to hơn súng đồng. Một chập tàu quay chuồng chuồng rồi chúi mũi trước mà chìm mất. Còn anh em tôi linh đinh giửa biển, sóng dập gió dồi, 3 ngày 3 đêm nhịn đói nhịn khát.
Đói théc chúng tôi tính bắt hăm coi ai chịu cho chúng tôi làm thịt đặng ăn đở đói. May đâu chúng tôi dòm thấy đàng chưn trời có tàu chạy tới. Chừng thấy rỏ chúng tôi bèn lên hiệu, tàu thấy liền chạy lại mà cứu anh em tôi,
Đó các việc như vậy, lời thiệt tôi khai ngay, có bạn bè cã tàu làm chứng.
Các mạch-lô nghe vậy đều giơ tay lên làm chứng.
Ông Mo-ren nói:
— Ta vẩn biết chúng bây là người cang đãm, việc rủi ro xãy ra đây là tại thời vận ta nó suy vi cho nên mới sanh ra việc buồn thãm như thế. Ấy cũng tại ý Chúa sở định, chớ không phải tại lòng người. Chúa định bề nào ta phải vâng theo bề nấy. Thôi, à còn tiền lương bây hãng thiếu bây bao nhiêu?
— Dạ, tôi tưởng không nên nói đến việc lương tiền làm chi.
— Phải tính cho thanh, ta không chịu cho bây thiệt hại.
— Dạ, hãng còn thiếu chúng tôi ba tháng lương.
— Cô-cà-lết, hãy phát cho mổi đứa 200 quan. Chớ chi như mổi khi thì ta thưởng thêm bây mổi đứa 200 quan, song kỳ rày hãng không khá, vả chăng tiền bạc còn bao nhiêu lại trong hãng thì thuộc về người khác, ta không phép phanh phui, có lẻ bây không phiền hà việc ấy, và thương tưởng ta luôn.
Bên-lông day lại nói nhỏ với bạn bè rồi day qua nhổ nước miếng mà nói rằng:
— Bẩm ông chủ, anh em tôi tính lảnh một đứa 50 quan, còn bao nhiêu lại, chừng nào sau ông khá sẻ hay.
— Bây có lòng tốt vậy, ta rất cám ơn, song bây cứ việc lảnh y số, rồi đi kiếm chổ làm ăn.
— Dạ, bẩm ông chủ, ông giận anh em tôi sao mà không cho anh em tôi ở nữa.
— Ta làm sao giận bây. Ngặt tàu bè gì chìm hết rồi thì bây ở lại đây làm chi.
— Có lẻ nào ông hết tàu. Mà như có chìm hết thì ông đặt đóng chiếc khác, anh em tôi chờ đợi được mà.
— Ta hết của rồi lấy đâu mà đóng tàu khác.
— Nếu ông hết của thì phát lương cho chúng tôi làm chi.
— Thôi, chớ khá nói nhiều. Chừng nào ta khá, bây sẻ trở lại ở cùng ta. Rê-mông, dắc chúng nó đi xuống, coi phát tiền đũ cho chúng nó.
— Dạ, chúng tôi kiếu ông và chúng tôi trông cậy sau sẻ trở lại ở với ông,
— Ta cám ơn bây.
Bên-Lông và các Mạch-lô kiếu ông chủ đi xuống.
Ông Mo-ren đáp rằng: Thôi chúng ngươi hảy đi lảnh tiền công, ta cũng ước ngày sau sẻ còn gặp nhau nữa.
Nói rồi ông Mo-ren lấy tay ra dấu thì Cô-ca-lết bèn bước ra bảo bạn tàu đi theo, thầy Rê-mông cũng đi theo sau.
Khi bạn bè và hai người giúp việc trong hãng đi rồi, ông Mo-ren nói với vợ con rằng:
— Bây khá đi ra, để cho ta đàm đạo với ông đây.
Ông Mo-ren và nói và lấy mắt chỉ tên tài-phú hồng-mao hãng Tôm-xông và Phú-lãng công ty, đang đứng trong góc mà chờ. Bà Mo-ren và cô tiểu-thơ quên lững, chừng nghe ông Mo-ren bảo vậy, liền ngước mặt lên, thấy khách rồi, bèn lui chơn. Cô tiểu-thơ lấy mắt lưu tình, tài-phú ta trong lúc ấy mặt mày nghiêm nghị, thấy tiểu-thơ lấy mắt cầu khẩn cho cha mình, liền động lòng thương xót mới mỉn cười ấy là dấu hứa sẻ hết lòng chiếu cố.
Khi vợ con đi ra rồi ông Mo-ren bèn hỏi khách rằng:
— Túc-hạ đã mắt thấy, tai nghe, ta không cần gì phải nói dông dài, thời vận ta đã hưu hĩ rồi.
Tên tài-phú đáp rằng:
— Dạ, tôi thấy ông mới chịu một đều rủi ro xảy đến, thật là vô phước cho ông quá chừng. Bởi vậy tôi càng quyết lòng làm ơn cho ông hơn nữa
— Sao lại làm ơn?
— Dạ, có phải là ông thiếu hãng tôi nhiều hơn hết chăng?
— Túc-hạ nhơn có trong tay các tờ nợ rất gấp phải chạy mà trả trước.
— Vậy thì ông muốn kỳ hẹn chăng?
— Nếu ta kỳ được, thì ta khỏi mất danh tiếng, như thế thì ta sẻ còn sống mà ở đời với thiên hạ.
— Ông muốn xin kỳ tới mấy tháng?
Ông Mo-ren nghe hỏi dụ dự, đoạn nói:
— Ta xin kỳ hai tháng.
— Vậy thì tôi đành lòng cho ông kỳ ba tháng.
— Túc-hạ chịu cho mà biết hãng Tôm-xông Phú-lãng chịu chăng?
— Xin ông an tâm, có tôi bảo lảnh; nay là mồng 5 Juin phải chăng?
— Phải.
— Vậy thì các tờ nợ đây ông làm gộp lại một cái, hứa mồng 5 Septembre 11 giờ trưa sẻ trả. (Khi ấy đồng hồ ở trong thơ-phòng đang gỏ 11 giờ).
— Đúng kỳ ấy ta sẻ đợi túc-hạ đến, nếu có bạc đủ thì ta trả, bằng không thì ta bắn mình mà chết, chớ không chịu nhục đâu.
Câu sau nói nhỏ, nên tên tài-phú không nghe được.
Tờ kỳ đã làm rồi, thì các tờ cựu tên tài-phú bèn xé bỏ, thì ông Mo-ren vô phước đây còn có giờ mà lo chạy đặng trả cho người.
Ông Mo-ren rất cảm đức tên tài-phú mà thế thường dân hồng-mao rất nghiêm nghị, chẳng thấy động dung. Ông Mo-ren đưa khách ra tới cữa rồi trở vào. Tên tài-phú bước tới đầu thang liền thấy tiểu-thơ đang giã đò đi xuống thang, chớ kỳ thiệt là nảy giờ đứng rình ngoài, trông coi thời sự ra làm sao.
Tiểu-thơ thấy tên tài-phú liền chấp tay lại mà than rằng:
— Ông ôi! Tôi rất cám đức ông vô cùng.
— Cô ôi! Ngày kia cô sẻ tiếp được một phong-thơ ký tên... Xim-ba bạn biễn... Trong thơ dặn làm sao, cô phải cứ y như thữ làm theo, dẩu có đều chi lạ lùng, cũng chớ từ nan.
— Cha chả, khó lắm!
— Mà cô dám hứa sẻ thi hành các lời dặn bão trong thơ ấy chăng?
— Dạ, tôi thề sẻ làm y như thử.
— Ấy vậy, thì tôi xin kiếu Cô. Cô cứ giữ lòng trung trinh đức hạnh cho vẹn toàn, thì trông cậy Chúa sẻ thưỡng Cô mà cho Cô đặng phối hiệp cùng thầy Rê-mông.
Cô tiểu-thơ nghe nói vậy liên mắc cở đỏ mặt tía tai.
Tên tài-phú nói rồi bỏ đi xuống thang.
Khi xuống đến sân tên tài-phú hồng-mao gặp tên Bên-lông đang cầm mổi tay 100 quan tiền, đang lưởng lự không biết nên lấy hay là nên trả lại cho chủ. Tên tài-phú bèn kêu va mà nói rằng:
— Nầy, chú, tôi có chuyện riêng nói với chú.