Tiền căn báo hậu/XXVI
XXVI
Quán cơm Ga-kiều
Chính giữa chặn đường từ thành Ben-gạc chạy qua thành Bô-ke có một cái quán cơm nhỏ cất bên đường day ngỏ hậu xuống sông Rônh, trước có treo tòn ten một tấm kẻm vẻ hình cầu Ga-kiều một cách vụn về, gió thổi tấm bản ấy đưa qua đánh lại nghe lạch bạch. Gần bên quán có một cái vườn còi, trồng bậy bạ ba cây cà-na, bốn cây táo rừng, vài cây ớt, ít buội rau. Phía góc vườn có một cây tòng già tàng lớn như lọng, chung quanh lối đó có vài buội lúa mì mọc lơ thơ, mỗi buội có ve làm ỗ ở đó kêu tiếng lãnh lót, dường như tiếng kèn tiếng sáo để rước khách đường xa rủi chơn sa nhằm nơi cô lậu quã văn như vầy.
Hơn tám chín năm nay quán ấy thuộc về vợ chồng lảo kia. Trong quán có sắm một đứa tôi trai tên là Ba-cộ, một đứa tớ gái tên là Thị-Nết, đủ sai vặt, hoặc tiếp khách bộ hành.
Lão quán niên xỉ lối 40 ngoài, mình ốm gầy mà cao, con mắt trong mà sâu, sóng mủi kéc, hàm răn ngà, tóc bạc hoa râm, râu móc họng.
Cã ngày hằng đứng trước cữa mà đón bộ hành, mà vì trời nắng quá, nên anh ta phải lấy khăn màu đỏ mà bao trùm đầu. Vẫn lão quán nầy chư khán quan có quen thuộc rồi, tên lão là Ca-đờ-rút.
Còn mụ quán là La-thị hình dung ốm yếu, mặt mủi đao thương, hằng ngày nằm dật dựa nơi trong, cằng rằng cắng rắng với chồng, cứ một đều trách thiện cã ngày. Mà nói cho phải, Ca-đờ-rút ít hay cải lẩy, một đánh chữ làm thinh hoặc khuyên lơn năn nĩ như vầy:
— Thôi đi má nó à! Số mạng trời định cho ta nghèo nàn, thì phải sao chịu vậy, hơi nào mà than trời, trách đất nà.
Tuy Ca-đờ-rút miệng nói rằng phải an mạng chờ thời, chớ trong lòng hằng chua xót, ruột thắt gan teo, chẳng phải cây đá gì mà không động lòng.
Vẩn Ca-đờ-rút là người sanh tưởng cỏi nam, nên hay ăn ở cần kiệm, song thường hay có tánh sua se: không cuộc lể, cuộc chưng cộ nào mà vợ chồng không đỗi áo, thay xiêm, đi vởn vơ các nơi đô hội. Lâu ngày lần lần quần hàng áo lựa, cà rá hoa tai đều vào tiệm, đặng lấy tiền mà đở ngặt. Ngày nay ai ăn chơi, lên xe xuống ngựa mặc ai, vợ chồng cứ cui cút giữ cái quán ấy đặng làm căn bổn.
Ngày kia Ca-đờ-rút đang đứng trông bộ hành trước cữa, như hạn trông mưa, thình lình nghe vợ nằm trên gát, kêu réo om sòm, chàng va chạy lên mà không đóng cữa quán.
Khi Ca-đờ-rút đứng đón đường cã buổi thì chã thấy một con ma lai vảng, nay bị vợ kêu, và đi vào và cằng rằng, thì đàng xa có một người cởi ngựa đi tới, coi kỷ lại là một ông thầy tu. Thầy tu cởi ngựa đến trước quán bèn gò cương lại, nhảy xuống đất, dắc ngựa đem cột vào song, đoạn lấy khăn lao mặt rồi vào lấy đầu gậy có bịt sắt mà gỏ cữa. Chó trong nhà nghe gỏ cữa chạy ra sũa ngừ in ỏi, tức thì nghe trên gát có người đi xuống thang, và xuống và nói:
— Có tôi đây! Con chó mực, mầy muốn chết sao, mà cứ sũa hoài. Xin ông chớ sợ, nó không cắn mỗ gì đâu. Mời ông bước vào, ông muốn dùng rượu chi, hay là muốn dùng cơm. Ối, tôi rối quá! Dạ bạch quá Giáo-sư, muốn sai khiến tôi việc chi, xin Giáo-sư dạy bão.
Thầy tu cứ ngó lão quán châm chỉ mà không đáp từ, chừng thấy lão quán trơ trơ không nhớ diện mạo mình, liền giã giọng người I-ta-li mà hỏi:
— Vậy ngươi có phải là Mông-sư Ca-đờ-rút-xờ hay không?
— Dạ, phải, tôi tên là Gác-ba Ca-đờ-rút đây, ông có chi dạy bảo, tôi xin vâng.
— Vậy thì trúng rồi, khi trước ngươi có ở giảy phố lại đường Mi-lăn phải không?
— Dạ, phải, song ở đó làm ăn khó lắm, và trời ở Mạt-xây nóng nực quá, nên tôi phải di cư qua đây, bạch quá Giáo-sư, có muốn dùng rượu mà giải lao chăng?
— Ừ, ngươi hãy lấy cho ta một ve rượu bồ-đào cho ngon, đem ra đây uống mà nói chuyện.
— Dạ, như ý ông muốn.
Nói rồi Ca-đờ-rút chạy vào tủ lấy rượu và ly đem ra.
Thầy tu liền hỏi:
— Ngươi ở đây có một mình hay sao?
— Dạ, thưa có người mà cũng như không, là vì vợ tôi nó đau hoài, không làm chi nổi mà giúp tôi. Tội nghiệp nó quá!
— Té vậy, ngươi có vợ mà, mà trong quán sao coi bộ nghèo nàn quá vậy.
— Dạ, biết sao bây giờ, tại thời vận, số mạng như vậy, chớ không phải làm lành hoặc ở ngay ngắng mà làm giàu được đâu.
Thầy tu nghe nói vậy, cứ châm chỉ ngó lảo quán. Lảo quán nói:
— Dạ, thiệt tôi đây là người lòng ngay dạ thẳng, đời nầy ít ai nói được như tôi vậy.
— Nếu quả như lời ngươi nói vậy, thì kẻ lành sẻ được thưởng, kẻ dữ sẻ bị phạt.
— Ông là người tu hành thì phải nói vậy, tin cùng không tin thì tự ý thiên hạ.
— Ngươi chớ nói vậy mà lầm, vì sự thưởng phạt sẻ bày tỏ trước mặt ngươi đây.
— Dạ, ông nói sao, tôi không hiểu ý?
— Ý ta muốn rỏ ngươi có phải là người ta nên tin cậy chăng?
— Dạ, xin ông thử tôi.
— Ấy vậy ngươi có nhớ lại trong năm 1814, ngươi có quen lớn với một tên bạn biển tánh danh là Ết-mông Đăn-tết chăng?
— Dạ, tôi vẩn quen lớn với Ết-mông Đăn-tết lắm. Mà tội nghiệp nó vô cùng.
Thầy tu cứ chăm chĩ dò ý lão quán mà nói rằng:
— Tiểu danh nó là Ết-mông.
— Dạ phải, kỳ rày tánh mạng nó ra thể nào, ông có biết rỏ chăng? Có quen thuộc với nó chăng? Nó còn sống hay chết, có phước hay là vô phước?
— Đăn-tết nó bị hàm oan, tù rạt khổ sở vô cùng, rồi chết rụt trong khám rồi.
Cà-đờ-rút nghe nói vậy hởi ôi, day mặt chỗ khác lấy khăn lau nước mắt mà than rằng:
— Cha chả là tội nghiệp cho thằng Đăn-tết quá chừng. Đó, ông có thấy chưa. Chúa ở bất công lắm, vì người hiền thì chịu lao khổ, đứa dữ vinh vang, không ai làm chi chúng nó nổi.
Thiệt cuộc đời một ngày một biến, tôi ước sao cho có nắng lữa mưa dầu, đặng mà diệt hết nhơn loại cho rồi.
— Ngươi coi bộ thương yêu Ết-mông Đăn-tết lắm phải không?
— Dạ, tôi thương nó lắm. Song tôi cũng có lổi cùng nó, là có lúc tôi thấy nó có phước, tôi sanh lòng ganh gổ. Mà từ khi nó bị hàm oan tới giờ, trong lòng tôi thương tiết nó và hối hận vô cùng.
Té ra, ông có quen lớn với nó lắm phải không?
— Vẩn khi nó gần chết, họ cho rước ta lại cho nó xưng tội và chịu xức dầu thánh.
— Ông ôi, nó chết về bệnh gì, không lẻ trẻ tuỗi như nó mà chết cực.
— Ta không rỏ nó chết về bệnh gì, song nó cứ thề thốt rằng nó không biết vì làm sao mà nó bị ly tiết như vậy.
— Phải, làm sao nó biết được, cha chả tội nghiệp nó quá!
— Bỡi ấy nó mới cậy ta phải ráng mà phân tỏ đục trong đặng rữa nhơ cho nó.
Vẫn ở trong khám có một người Hồng-mao cũng ở tù như Đăn-tết, đến lúc Hoàng-gia khôi phục, người Hồng-mao ấy được tha ra. Khi ấy người Hồng-mao có một cụt ngọc kim cang, mà vì Đăn-tết có lòng săn-sóc va khi đau ốm, nên lúc ra khỏi tù, va cho Đăn-tết cụt ngọc kim cang ấy, thiệt là trọng giá. Đăn-tết cứ giấu cột trong mình phòng khi ra khỏi tù bán cũa báu ấy mà làm giàu, chớ không dám đem mà lo lót với ngục-tốt đặng vược ngục vì sợ chúng nó đoạt đi mà lại còn làm hại cho mình nữa.
Ca-đờ-rút nghe nói vậy hỏi phăng.
— Ông nói ngọc ấy trọng giá lắm phải không?
— Phải, nó đáng giá 5 muôn quan.
— Nếu vậy thì nó to bằng trái nhản rồi.
— Không được lớn vậy đâu, ta có đem theo đây, để ta lấy cho mà xem.
Thầy tu thò tay vào túi lấy ra một cái hộp nhỏ, giở nấp giơ cho Ca-đờ-rút xem. Ca-đờ-rút thấy ngọc gắn trong một chiếc nhẫn, thiệt là tốt lạ. Ca-đờ-rút bèn hỏi:
— Ông nói ngọc nầy đáng giá 5 muôn phải chăng?
— Ngọc không thì đáng giá 5 muôn, còn chiếc nhẩn cũng là khéo, bán sẻ được tiền.
Nói rồi, thầy tu đậy nấp hộp lại mà bỏ vào túi. Ca-đờ-rút hỏi:
— Vì sao ngọc nầy lại về tay ông cầm, hay là Đăn-tết trối lại cho ông giữ chăng?
— Đăn-tết trối lại như vầy: « Vẫn tôi có ba người bạn hữu và một vợ gần cưới. Cã bốn tôi chắc họ hằng nhắc nhở thương tiếc tôi luôn: Trong đám anh em bạn đó có một người tên là Ca-đờ-rút. Người thứ nhì tên là Đăng-lạc, người thứ ba, tuy là muốn đoạt hôn tôi mà cũng thương tôi, tên là Phẹt-năn,
Ca-đờ-rút nghe kể vậy cười gằng có ý muốn cãi mà thầy tu nói:
— Để ta kể cho hết lời trối cũa Đăn-tết rồi, ngươi có việc chi tỏ nỗi đục trong thì sau sẻ hay.
« Còn người thứ tư là vợ tôi gần cưới tên là... là...
— Tên là Mẹt-xê-đết (Cà-đờ-rút nói hớt).
— À phải đa, tên là Mẹt-xê-đết. (Thầy tu nơi đến tên đó muốn ứa nước mắt).
— Sao nữa, ông?
— Ngươi hãy cho ta xin một miếng nước lạnh.
Cà-đờ-rút chạy lấy bình nước đem lại, thầy tu rót uống thấm giọng mà hỏi rằng:
— Hồi nãy ta nói tới đâu.
— Dạ, ông nói tới tên người vợ Đăn-tết gần đi cưới là cô Mẹt-xê-đết đó.
— Ả, phải, ta nhớ rồi... Đó rồi Đăn-tết dặn ta rằng: xin ông hãy chịu khó thân hành đi đến Mạt-xây, bán hột ngọc nầy lấy bạc chia ra làm năm phần mà cho năm người bạn hữu thiết cũa tôi đó.
— Nãy giờ ông kể có bốn người, sao Đăn-tết lại biểu chia năm phần.
— Ta kễ có bốn người, là vì người thứ năm đã khoản rồi.
— Ai vậy?
— Là cha Đăn-tết chớ ai.
— À phải. thiệt, tội nghiệp ổng lắm!
— Ta đi đến Mạt-xây hỏi thăm thì mới hay ổng đã qua đời, Ta nghe họ nói ổng mất đã lâu, mà họ không rỏ ỗng lâm bệnh chi mà bỏ mình, ngươi có biết tôn tích chăng?
— Dạ, ai mà biết việc nầy rỏ hơn tôi, vì tôi ở gần song xó cữa với ỗng. Khi con ỗng bị bắt được một năm thì ổng mới qua đời.
— Mà ổng lâm bệnh chi?
— Tôi nghe nói quan thầy đề án là nhiệt trường, mà những kẻ quen thuộc thì nói ổng vì rầu con mà thác,... còn tôi đây thấy tạng mặt thì tôi biết ổng vì...
— Vì sao?
— Vì thiếu ăn, vì cơ hàn mà bỏ mạng.
Thầy tu nghe nói vậy, bèn nhãy dựng lên mà nói rằng:
— Cha chả, sao tới thế vậy! Vật khốn kia là chó hoang mà hởi còn có người đoái tưởng đến, cho chút đồ thừa, huốn là con người, nhứt là con người có đạo Thiên Chúa ở giữa họ, mà phải chết đói, Ta tưởng không lẻ vậy đâu.
— Tôi thấy sao nói vậy, thêm bớt mà ích gì?
Người vợ nằm trên gát nghe nói chuyện liền lết xuống thang rầy chồng rằng:
— Chuyện gì cũa anh mà phải đi gánh bàn độc mướng vậy?
Hai người giực mình ngó ngoái lại thì Ca-đờ-rút rầy vợ.
— Mầy khéo làm tài khôn không. Ông Giáo-sư đến hỏi thăm thì tao phải làm ơn nói rỏ cho ngài hiểu chớ.
— Anh thiệt là khờ khạo lắm. Ai bảo anh làm mặt lanh, biết người ta đến dọ tin ấy mà làm chi hay không, hòng lẻo mép vậy?
Thầy tu nói:
— Thiếm chớ nghi tâm, ta có lòng ngay thật, miển là chồng thiếm cứ việc khai ngay thì đủ.
— Phải đa, đừng nghi ngại, chớ dự phòng, nói hết đi cho người ta nghe, rồi vuốt lương đàng đuôi mà trừ, đoạn thình lình ngày kia họa đến nhà, ngữa cổ ra mà chịu.
— Thiếm nghi nan chi vô ích, vì chẳng phải ta là kẻ đi gieo họa cho người khác đâu.
Vợ Ca-đờ-rút nói gì lầm bầm trong họng một hồi mà nghe không rỏ, rồi gụt đầu xuống gối ngồi đó rung rẩy mà lóng tai.
Thầy tu uống nước thấm giọng rồi hỏi:
— Ông già ấy chắc bị chúng bỏ ráo, nên mới chết đói vậy phải không?
— Dạ, không phải là thiên hạ bỏ hết, vì cô Mẹt-xê-đết hởi còn lai vãng săn sóc, ông Mo-ren hằng tới lui giúp đở. Song ông già Đăn-tết sanh lòng cứ oán giận Phẹt-năn là đứa Đăn-tết nói là bạn lành cũa mình đó.
— Nói vậy thì Phẹt-năn không phải là bạn lành cũa Đăn-tết sao?
Vợ Ca-đờ-rút la rầy chồng:
— Phải giữ miệng mồm cho lắm!
Ca-đờ-rút hự một cái rồi nói rằng:
— Dạ, thằng Phẹt-năn quả làm mặt bạn lành cũa Đăn-tết đặng có đoạt vợ người, chớ bạn lành gì. Vẩn Đăn-tết lòng dạ quảng đại nên hay tưởng các kẻ ấy là bạn thiết cũa mình... Thiệt là tội nghiệp cho Đăn-tết lắm! Mà vậy cũng là xong, ví bằng cho nó hay, chắc hồn nó không an nơi chín suối... Mà thường thường tôi hay sợ người chết trù ẻo hơn là kẻ sống oán thù.
Vợ Ca-đờ-rút nói:
— Anh là đồ ngu.
Thầy tu hỏi Ca-đờ-rút:
— Ngươi có biết Phẹt-năn hại báo Đăn-tết đều chi chăng?
— Tôi biết nhiều chuyện lắm.
— Biết, thì nói mà nghe.
Vợ Ca-đờ-rút nói:
— Nầy, anh muốn làm cách nào thì tự ý anh, tôi không dám cản, song tôi tưởng anh đừng nói thì hay hơn.
— Mầy nói nghe ra có lý.
Thầy tu nói:
— Té vậy ngươi không chịu khai hay sao?
— Dạ, nói mà làm chi vô ích, chớ chi Đăn-tết còn sống, đến đây hỏi tôi cho biết nhân tình ai thương ai ghét va, thì cái đó chẳng hỏi tôi cũng khai, chớ như lời ông nói hồi nãy, thì Đăn-tết đã chết rồi, ơn đền oán trả gì được nữa, hòng nói chi cho mất công.
— Nếu vậy thì ta phải giao phần ăn gia tài cũa Đăn-tết cho mấy đứa đó là đồ chẳng ra chi hay sao?
— Ông nói nghe ra có lý, phải chơi đâu. Song le phần ăn đó lá bao nhiêu, có phỉ gì cho chúng nó, chẳng khác nào giọt nước té vào biển đông.
Vợ Ca-đờ-rút nói:
— Đã vậy mà oai thế chúng nó kỳ rày to lắm, chúng nó sẻ làm hại anh dể như trở tay.
— Nếu vậy thì quân đó ngày rày trở nên sang giàu oai thế lắm sao?
— Vậy thì ông chưa rỏ công chuyện cũa chúng nó sao?
— Làm sao rỏ được, ngươi hãy thuật lại cho ta nghe.
Ca-đờ-rút suy nghĩ một hồi rồi nói rằng:
— Chuyện dài lắm, hơi nào mà thuật lại.
Thầy tu làm bộ lơ là mà nói:
— Mặc ý ngươi, ta không ép, ấy cũng là dấu ngươi là người lương thiện, mà vốn ta lảnh lời trối cũa Đăn-tết thì ta cứ thi hành y như vậy, là ta sẻ đi bán ngọc nầy đặng chia phần ăn cho rồi.
Nói rồi, thầy tu bèn đem hộp ra, mở nấp, dệu trước mắt Ca-đờ-rút.
Ca-đờ-rút kêu vợ:
— Mầy ôi, lại coi đây, thiệt ngọc kim-cang tốt quá.
— Ngọc kim-cang là cái gì, đâu nà, đưa tôi coi thữ cho biết một chút.
— Nãy giờ mầy điếc sao, thằng Đăn-tết nó trối lại một hột kim cang, cậy ông đây đem bán mà chia cho tao với Đăng-lạc, Phẹt-năn, Mẹt-xê-đết và cha nó mỗi người một phần. Ngọc nầy đáng giá 5 muôn.
— Cha chả, ngọc tốt quá, anh há.
— Vợ chồng mình được một phần ăn ở trong đó.
— Đã vậy mà còn chia được nữa, là phần ăn cũa cha Đăn-tết, vì ổng chết rồi, thì ta sẻ chia ra làm tư mà cho thêm mổi người 1 phần.
Vợ Ca-đờ-rút hỏi:
— Sao lại chia ra làm bốn phần?
— Là vì Đăn-tết có bốn người bạn thiếc.
— Dạ, thiếc gì mà phãn phúc, hòng kêu rằng thiếc.
Ca-đờ-rút nghe vợ nói vậy, liền nói tiếp:
— Ờ, ờ, tao nói nãy giờ cũng như mầy, có lẻ đâu đem cho quân phản phúc như vậy cho uổng kìa.
Thầy tu nghe vậy mĩn cười, bỏ ngọc vào túi mà nói:
— Tại vợ chồng muốn vậy, thì ta phải y theo vậy. Xin ngươi hãy chỉ chổ chúng nó ở đâu cho ta đi tìm.
Vợ chồng Ca-đờ-rút thấy thầy tu bỏ ngọc vào túi bước ra ngoài thăm chừng ngựa rồi bước vô, thì cả mình xuất hạn, vợ chồng lấy mắt nhìn nhau mà nói nhỏ như vầy:
— Nếu mình muốn lấy ngọc ấy về minh trọn, thì sẻ được.
— Anh chắc vậy sao?
— Sao không chắc, ổng là người tu hành không nuốt lời hứa đâu.
— Ôi! Anh tính sao tự ý, tôi không muốn can dự vào đó chút nào.
La-thị nói rồi bỏ đi lên nằm trên gát, và đi và dặn chồng:
— Anh phải suy nghĩ cho đáo để.
— Tao nhứt định rồi.
Thầy tu vô hõi:
— Ngươi nhứt định chi?
— Nhứt định khai ráo cho ông rỏ nguồn cơn sự tích.
— Như vậy thì hay hơn, chã phải ta cần chi các đều ngươi khai đó, song ta chĩ muốn không phụ lòng Đăn-tết mà thôi thê,
— Tôi sẻ giúp ông cho khỏi phụ vong linh Đăn-tết.
— Ta lóng tai mà nghe ngươi khai.
— Dạ, khoan đã! Để tôi đi xem coi có ai không, vì tôi không muốn cho họ biết rằng ông đã vào đây, hoặc tôi đang thuật nữa chừng, họ vào phá đám.
Ca-đờ-rút nói rồi bèn chạy ra đóng cữa, gài then.
Thầy tu nhắt ghế ngồi trong tối đặng dể xem tướng Ca-đờ-rút. Chừng Ca-đờ-rút đi đóng cữa vào ngồi sữa soạn thuật sự tích kẻ làm hại Đăn-tết, thì La-thị ở trên gát nói vói xuống rằng:
— Tôi không có xúi anh đa, bụng anh làm, dạ anh chịu, sau đừng có đổ thừa tại tôi đa.
— Ừ, bụng tao làm, dạ tao chịu.