Bước tới nội dung

Tiền căn báo hậu/XXVII

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tiền căn báo hậu của Alexandre Dumas, do Kỳ Lân Các dịch
XXVII. Thuật sự tích kẻ làm hại Đăn-tết

XXVII
Thuật sự tích kẻ làm hại Đăn-tết

Nói về Ca-đờ-rút trả lời với vợ rồi bèn dây mặt lại ngay thầy tu mà thuật như vầy:

— Trước khi thuật sự tích nầy, tôi xin ông phải hứa với tôi một đều.

— Hứa đều chi?

— Là khi tôi thuật hết đầu đuôi sự tích những kẻ làm hại Đăn-tết, rồi ông muốn sanh sự chi, thì ông đừng khai tên tôi ra, vì chúng nó oai thế lắm, sẻ giết tôi như giết rận.

— Ngươi hãy tin ta là kẻ tu hành, ai xưng tội chi thì ta để bụng, chẳng hề khai ra.

Ngươi phải nhớ một đều là ta vẩn có lòng không muốn phụ lời trối cũa Đăn-tết, chớ không có ý chi lạ. Ngươi khá chuyện thiệt khai ngay, chớ thêm đừng bớt. Vã lại ngươi cho ta biết vậy thôi, chớ ta không đi tìm kiếm các kẻ ấy mà làm chi. Vốn ta là người I-ta-li và là kẻ làm tôi Chúa, không phải là phàm nhơn tục tữ, rồi việc thì ta trở về chốn tu hành và lo tu tâm luyện tánh, không vụ đến việc dương gian lam chi, mà ngươi hòng nghi ngại.

Ca-đờ-rút nghe nói vậy bèn an tâm mà nói:

— Dạ thưa ông, không lẻ tôi để cho ông và vong linh Đăn-tết lầm tưởng những kẻ ấy là bạn lành cũa Đăn-tết.

— Ta nên khởi sự nói việc nhà ông già Đăn-tết, vì Đăn-tết hằng nhắc nhở ổng luôn.

— Chuyện nhà ông già Đăn-tết rất thãm, có lẻ ông cũng rỏ khúc đầu rồi.

— Ừ, vì Đăn-tết có nói cho ta rỏ việc nhà cho đến lúc va bị bắt giữa tiệc trung tại quán nhỏ kia ở gần Mạt-xây.

— Dạ, tại Phần-hờ... Trời ôi! Bây giờ tôi còn thấy rỏ ràng trước mặt, như chuyện mới xãy ra hôm qua vậy.

— Phải khi ấy là đang lúc ăn lể hỏi vợ Đăn-tết chăng?

— Dạ, phải, ban đầu thì là vui mà chung cuộc lại rất buồn. Thình lình có Cò-mí-xe dẩn lính vào bắt Đăn-tết.

Đăn-tết thuật chuyện nhà cho ta biết tới đó thôi, chớ từ ngày bị bắt về sau thì va không hề thấy mặt năm người bạn lành cũa va đó, mà cũng không ai nói chuyện lại.

— Dạ, khi Đăn-tết bị bắt rồi thì ông Mo-ren chạy đi dọ tin, chuyện nghe ra rất thảm. Ông già Đăn-tết một mình trở gót về nhà và đi và khóc than thê thãm. Tới nhà rồi mà không nghĩ, cứ đi lên đi xuống, đi qua đi lại trong phòng hoài. Tối lại cã đêm không ngũ, vì tôi ở từng dưới nghe ổng đi hoài. Tôi thấy vậy cũng đau lòng chẳng hề nhắm mắt. Mỗi một bước tôi nghe ỗng đi, đều dội thấu ruột gan tôi, dường như kim châm vào dạ vậy.

Sáng ra Mẹt-xê-đết đến tòa kêu oan xin ông đờ Huynh-pho là quan phó Biện-lý thẩm xét cho chồng mình nhờ, thì quan không thấy nói chi, rồi cổ đi lại thăm ông già Đăn-tết. Khi thấy ông già diện mạo vỏ vàng, cã đêm không ngũ, cã ngày không ăn, thì cỗ năn nĩ ông già để cổ đem về bên làng Ca-tà-lăn mà dưởng nuôi săn sóc, song ông già không chịu mà nói rằng:

— Ta không lẻ bỏ đây mà đi, vì con ta nó tríu ta lắm, nếu may mà nó được tha, thì mau mau nó chạy về đây thăm ta, nếu nó không gặp ta thì nó mới nghĩ làm sao.

Khi ấy tôi đứng ngoài nghe rỏ đầu đuôi, tôi ước cho ông già chịu đi qua ở với Mẹt-xê-đết cho rồi, chớ ở bên nây ổng cứ đi hoài thì rất xốn xang cho tôi quá đỗi.

— Sao khi ấy ngươi không vào mà phủ hủy ông già ít đều.

— Dạ, phũ hủy mà được đọt gì, ông già nằn nằn quyết một thương nhớ con, ai mà phũ hũy nỗi. Vã lại tôi không hiểu vì sao mà ỗng coi bộ không chịu thấy mặt tôi. Vẩn có một đêm kia tôi nghe ổng khóc thúc thít, tôi cằm lòng không đậu, bèn chạy lên đặng phũ hũy ỗng, té ra khi tôi đi đến cữa thì nghe ỗng đang đọc kinh cầu nguyện. Tôi nghe các lời ỗng than van cùng Chúa, tôi rất cãm súc quá chừng, chí như tôi, nếu mà con tôi chịu hàm oan dường ấy, chắc tôi sống không nỗi đâu, bề gì cũng đi trầm mình cho rãnh.

— Cha chã là tội nghiệp cho ông già quá!

— Dạ, đó rồi một ngày ổng càng một lưu vắng không chịu thấy mặt ai. Có nhiều khi ông Mo-renMẹt-xê-đết đến thăm ổng mà kêu hoài ỗng không ừ hữ, song tôi biết chắc ông có ở nhà. Ngày kia thình lình sao ỗng lại cho cô Mẹt-xê-đết vô thăm ổng, thì tôi nghe cỗ than thĩ ỷ ôi cùng ỗng, xin đừng buồn rầu lắm mà hao tổn tâm thần, ổng bèn nói rằng:

« Con ôi, cha chắc thằng Đăn-tết tánh mạng nó không còn, nay hồn nó đang chờ mình nơi chín suối đó con. Cha lấy làm hữu hạnh là vì cha già yếu sẻ mau đặng gặp mặt nó hơn con. »

Song le thiên hạ nhơn tình, đâu đâu cũng thế, dầu lòng dạ từ thiện hay thương xót người mặc lòng, mà thấy cuộc buồn thãm lâu ngày như vậy, ai cũng phải bãng lãng bơ lơ. Bởi đó không còn thấy ai lai vãng sớm viếng tối thăm ông già nữa, chĩ thấy có vài người lên xuống đi lấy đồ. Chừng sau mới rỏ là ông già bán lần đồ trong nhà mà ăn. Đến sau phãi bán tới áo quần. Ngày kia chũ phố vào căng tôi ở mà nói ông già thiếu ba tháng phố, không tiền trả, chũ phố hăm đuổi, ông già kỳ hẹn tám ngày sẻ tính thanh, chũ phố cho. Cách hai ba ngày tôi không nghe động địa, đi đứng gì ráo, tôi bèn chạy lên thăm, tuy cữa đóng mà nhờ kẹt hở, tôi dòm thấy mặt mày ổng đao thương khô héo, tôi bèn chạy kêu ông Mo-ren và cô Mẹt-xê-đết. Cã hai đều lật đật chạy tới. Ông Mo-ren có kêu lương-y theo, thì lương-y nói ỗng đau nóng trong đại trường, bão phải cữ ăn. Khi ấy tôi thấy ông già buồn cười thì tôi rỏ ý mầu, cã đời tôi chẳng hề quên cái cười ấy đâu.

Đó, nay đã có lịnh quan thầy cấm ăn, thì ông già không thèm bế môn nữa, dể cho ỗng lấy cớ mà tịch cốc.

(Thầy-tu nghe nói tiếng tịch cốc bèn rên dài)

Ca-đờ-rút thấy vậy hỏi:

Ông nghe vậy cũng phải động tình!

Cha chã là thãm khổ.

— Kế đó cô Mẹt-xê-đết trở lại thấy diện mạo ông già một ngày một khác, thì có lòng lo, muốn đi cậy người ta khiêng ổng về bên làng Ca-tà-lăn, ông Mo-ren cũng bảo vậy và cho người ta khiêng đại ỗng đi, ổng la rầy quá, làm cho mọi người đều sợ mà để ổng lại đó. Cô Mẹt-xê-đết cứ ở đó canh giữ, còn ông Mo-ren đem cho lén một túi bạc, rồi kiếu đi về. Còn ổng cứ giữ cái lịnh của quan thầy cữ ăn mà không chịu ăn uống gì hết. Ỗng tịch cốc như vậy cho đến chín ngày mà tắc hơi. Trong cơn tịch cốc, ỗng cữ chưởi rủa trù ẻo những kẻ làm hại con ổng và trước khi chết ổng trối với cô Mẹt-xê-đết rằng:

« Nếu sau con may mà gặp được Đăn-tết thì nhớ nói với nó rằng cho trước khi chết cha có chúc lành cho nó. »

Thầy tu nghe vậy nghẹn ngào bèn đứng dậy lấy tay vuốc ngực và đi vòng trong phòng cho khuây lảng rồi hỏi Ca-đờ-rút.

— Nếu vậy thì ngươi tưởng ông già chết về bệnh...

— Dạ, chết vì bỏ ăn, chắc như vậy, thề chi tôi cũng dám thề.

Thầy tu nghe vậy rơi lụy, mặt mày biến sắc, bèn cầm ly nước mà ực một hơi rồi nói rằng:

— Thiệt quả là một cuộc oan trái.

— Đây chẳng phải tại trời, ấy là tại người làm cớ cho ông già phải chết oan.

— Thôi, chuyện ông già đã mãn phần, thì ta nên nói qua chuyện mấy người hãm hại con mà làm cho cha phải chết đói đó. Song ta nhắc lại cho ngươi nhớ, là ngươi đã hứa sẻ khai ngay hết cho ta nghe, xin ngươi hãy giữ lời chớ quên.

— Có hai đứa đã cùng nhau âm mưu hảm hại Đăn-tết, một thằng tên là Phẹt-năn vì nó muốn cô Mẹt-xê-đết, một thằng tên là Đăng-lạc vì nó muốn dành chức Cạp-bì-tên cũa Đăn-tết.

— Hai đứa đó nó âm mưu cách nào?

— Dạ, nó cáo với quan rằng Đăn-tết là người theo phe Na-bô-lê-ông.

— Trong hai đứa ấy đứa nào đầu mưu độc sữ?

— Dạ, cả hai đều có tội, vì đứa nầy viết tờ cáo, đứa kia đem thơ gởi theo trạm.

— Tờ cáo ấy nó viết tại đâu.

— Dạ, nó viết tại quán Phần-hờ, chiều áp ngày lể hỏi.

— Phải rồi, phải rồi. Tôn-sư ôi là Tôn-sư! Thiệt quả thầy thấu đáo nhơn tình thế thái lắm.

— Dạ, ông nói chi đó?

— Có nói chi đâu, xin ngươi hãy thuật luôn.

— Dạ, cơn rứa chừ, Đăng-lạc viết tờ cáo, bằng tay trái đặng giấu tuồng chữ, còn Phẹt-năn thì lãnh phần đi gởi trạm.

— Mà hồi đó ngươi cũng có ngồi uống rượu với chúng nó tại quán Phần-hờ chớ?

— Ai nói với ông rằng chiều đó có tôi ở tại quán Phần-hờ ngồi uống rượu với chúng nó?

Thầy tu biết mình nói ló mòi liền trả lời:

— Có ai nói với ta đâu, vì ta thấy ngươi biết rỏ việc, nên ta nghi có lẻ ngồi chung ăn uông nhau mới là hay biết rỏ ràng vậy.

— Dạ, phải, hồi đó có tôi ngồi uống rượu với chúng nó.

— Sao ngươi không cản đản, đễ chúng nó làm nhăn, té ra ngươi cũng là đồng lỏa với nó mà.

— Dạ, hồi đó hai đứa phục rượu tôi say mèm, gần mất trí lận, con mắt tôi coi dấp dáng, dấp dữi. Tôi cũng có cãn mà chúng nó nói là chuyện giã ngộ, không phải làm thiệt.

— Qua ngày mai ngươi thấy rỏ chẳng phải là chuyện giã ngộ, Giữa tiệc trung khi lính tới bắt Đăn-tết, ngươi có mặt tại đó, sao ngươi không dĩ hơi.

— Dạ, hồi đó có mặt tôi, tôi muốn khai ngay ra mà ngặt mắc bị thằng Đăng-lạt nó gàn trở, nó lại nói rằng: « Nếu quả thiệt Đăn-tết có tội, quả thiệt nó có ghé lại cù-lao En-bờ lảnh thơ đem về cho phe Na-bô-lê-ôngBa-ri, nếu quả thiệt quan xét được cái thơ trong mình nó, thì ai mà binh vực nó đều phải liên lụy như nó. »

Dạ, hồi đó tôi vẩn sợ việc nước quá chừng, nên tôi mới điềm nhiên, để cho Đăn-tết bị hại, thiệt là một đều nhát gan chớ không phải là tôi ác đức đâu!

— Ta hiểu, nghĩa là ngươi không vụ, để mặc chúng nó làm sao thì làm.

— Bởi vậy, ngày đêm hằng thống hối tiền khiên, ăn năn trách mình. Tôi dám thề với ông tôi hằng chịu tội với Chúa. Tôi nghĩ lại từ ấu chí trưởng có quấy một lần đó, mà cũng tại đó mà tôi suy sụp, khốn khỗ cất đầu không nổi, chỗi đầu không lên. Tôi lở một phúc mà phải bị khốn kiếp cã đời. Cho nên khi nào La-thị nó than van thời vận thì tôi hay la dứt rằng: là cuộc báo ứng (đời xưa trã báo mà chầy, đời nay trã báo một giây nhãn tiền).

Ca-đờ-rút nói rồi gụt đầu thở ra.

Thầy tu nói:

— Ừ, ngươi khai thiệt như vậy thì là đều phải, vì tri quá tất cải, bề gì cũng sẻ được dung thứ.

— Dạ, mà Đăn-tết đã chết rồi, có đâu đây mà tha tội cho tôi.

— Hề gì, khi nó còn sống nó không dè chuyện vậy.

— Mà nay vong linh nó đã thấu rồi.

Thầy tu bỏ đi lang vài vòng rồi lại ngồi mà nói:

— Nãy giờ ngươi nói tên ông Mo-ren nhiều khi, vậy chớ ông ấy là ai đó?

— Dạ, ông Mo-ren là chủ chiếc tàu Pha-ra-ông, cũng là chủ cũa Đăn-tết.

— Ông Mo-ren có can dự vào cuộc nầy cách nào.

— Dạ, ổng hết lòng cang đảm, ngay thẳng, lo tìm kiếm thế thần mà cứu Đăn-tết. Khi Na-bô-lê-ông phục nghiệp được rồi thì ông Mo-ren cứ kêu oan hoài cho Đăn-tết, mà vì bị họ ém, nên khi Na-bô-lê-ông bị lưu, thì phe tôn thất hành hạ và kiếm đều hại thầm ông Mo-ren.

Nhiều khi ông Mo-ren đi tới nhà cha Đăn-tết năn nĩ bảo ông già về ở nhà ổng mà ông già không chịu. Trước khi ông già gần chết, ông Mo-ren có đem cho 1 túi bạc, hồi nãy tôi có nói, nhờ tiền ấy mới có mà trả nợ cho ông già, còn lại bao nhiêu thì dùng mà chôn cất ổng. Bởi vậy ông già được ấm cúng khỏi mang tiếng đời. Nay cái túi đỏ đựng bạc ấy tôi hãy còn giữ đây.

— Ông Mo-ren còn sống chăng?

— Dạ, còn sống.

— Nếu vậy thì Chúa đã thưởng công cho ổng rồi, nay chắc ỗng giàu sang, nhà tràn trề phước lạ phải chăng?

Ca-đờ-rút buồn cười mà nói rằng:

— Dạ, giàu sang, tràn trề phước lạ như tôi đây một thứ.

— Nếu vậy thì ông Mo-ren bần cùng như ngươi vậy sao?

— Dạ, gần mạt, gần suy sụp và mất danh tiếng đa.

— Sao vậy?

— Cuộc đời thường như thế: người hiền hoạn nạn, đứa dữ vinh vang. Hai mươi lăm năm cần cán, lo làm, đã được thiên hạ tin dùng tại thành Mạ-xây, nay thinh không phải suy sụp. Hai năm trời chìm hết năm chiếc tàu, bị hại trong ba cuộc khánh tận gian. Nay chĩ còn trông cậy một chiếc tàu là chiếc Pha-ra-ông mà lúc nọ Đăn-tết làm cạp-bì-tên đó. Nếu tàu ấy mà bị lụy nữa thì ông Mo-ren chắc phải tàn mạt.

— Ông Mo-ren có vợ, có con không?

— Dạ, có, thiệt vợ ổng rất hiền từ và nhơn đức như thánh. Ổng có một đứa con gái, gần có chồng. Nay bèn chồng thấy thông gia suy sụp thì không chịu cưới: ổng có một người con trai đang làm quan hai.

Như ỗng không vợ con thì để hủy mình mà thoát tục, chí như vợ con sờ sờ còn đó thì lại càng khỗ tâm cho ổng lắm.

— A, khốn khỗ dữ a.

— Đó, Chúa thưởng phạt rất minh lắm đa! Hiền từ rộng rải và có lòng ngay thẳng như ông Mo-ren vậy mà lại bị nhiều đều khốn khỗ, còn như tôi vẩn có quấy với Đăn-tết một chút, mà vợ thì trầm trệ đau hoài, nay mai đây phải chết, chồng cũng sẻ chết đói như ông già Đăn-tết[1], chí như thằng Đăng-lạc và thằng Phẹt-năn, hai đứa là quân giết người không gươm mà sao nó nay lại được giàu sang lên vỏng xuống dù, lên xe xuống ngựa vinh vang hơn thên hạ vậy. Thiệt Chúa rất công bình lắm há!

— Sao mà chúng nó được giàu có vậy?

— Việc gì chúng nó làm đều nên, đều có lợi cã, còn người hiền ló đâu hư đó, mưu đâu bại đó.

— Thằng Đăng-lạc là đứa đầu mưu nay nó làm nghề gì?

— Khi nó báo hại Đăn-tết rồi, cách ít lâu nó bỏ thành Mạt-xây mà đi. Nhờ có ông Mo-ren gởi gấm, nên nó được vào hãng bạc kia tại nước Ết-banh mà làm chức tài phú. Đến cơn nước Ết-banh dấy cang qua thì Đăng-lạc lãnh chịu bán đồ cần dùng cho binh lính langsa làm giàu. Nhờ tiền đó mới sanh lợi. Ông chủ hảng gã con cho nó. Sau vợ nó chết, nó được ăn gia tài rồi lại cưới được vợ góa của ông đờ Nạt-gôn là con gái quan nội thần vua Ết-banh rất nên oai thế. Đăng-lạc nhờ vậy mà làm giàu to, lại được phong tước Nam (baron) (công, hầu, bá, tữ, nam). Nay có đền đài ở đường Mông-lăng tại Ba-ri: Tôi trai mọi gái đầy nhà, xe ngựa cả tào, tiền của vô số[2].

— « Giàu sang như thế mà nó hữu phước chăng?

— « Ai mà biết được đến đều ấy. Hữu phước hay là vô phước thì việc trong phòng có màng che, sáo phủ, tuy nhà có vách, ngạch có tai, mà nó không có lưỡi, làm sao người ngoài thấu được tâm sự, việc tư cũa người được. Nếu cũa cải nó làm cho con người hữu phước được, thì nên cho Đăng-lạc là hữu phước. »

— « Còn thằng Phẹt-năn?

— « Phẹt-năn, thì lại khá hơn nữa.

— « Vẫn Phẹt-năn là đứa làm nghề hạ bạt, mà lại dốt nát, làm sao mà nó lại được giàu sang. Thiệt việc khó nghiệm chớ phải chơi đâu.

— « Ai ai cũng lấy làm lạ, không hiểu vì cớ nào mà nó được vậy. Chắc đây là tại nó có làm quấy đều chi, mà giấu nhẹm, chưa ai tường trong đục mà thôi.

— « Tuy vậy mà bề ngoài thấy một đôi chuyện được chớ: là chẳng phải khi không mà làm lớn, làm giàu to, cũng phải ban đầu nhò rồi sau mới lần to đại được?

— « Chẳng phải vậy đâu. Khi không mà được giàu sang một lược, mới là lạ cho!

— « Quả là chuyện phong thần rồi.

— « Dạ, cũng là tương tự chuyện phong thần, xin ông hãy nghe rồi sẻ rỏ.

Vẫn khi Na-bô-lê-ông chưa phục nghiệp được thì Phẹt-năn còn ở yên nơi làng Ca-tà-lăn; đến khi Na-bô-lê-ông hồi trào liền ra lịnh chiêu binh, nên Phẹt-năn phải ra tùng quân như kẻ khác. Tôi cũng bị như người ta, mà tôi mới cưới vợ nên quan sai tôi ra tuần do nơi bãi biển.

Còn Phẹt-năn thì phải nhập vào đội ngủ kéo ra biên cương mà giao phuông trong trận Ly-nhi.

Hai bên đánh nhau rất rát, tối lại min quân, hai bên đình chiến, thì Phẹt-năn bị cắc phần hầu hạ quan tướng-quân, mà quan tướng-quân nầy vẫn đã giao thông với giặc, đêm đó ngài đã nhứt định phãn Na-bô-lê-ông qua đầu binh Hồng-mao. Ngài bèn bão Phẹt-năn theo ngài thì Phẹt-năn chịu, liền cuốn gói đi theo. Phải mà Na-bô-lê-ông còn tại vị thì Phẹt-năn đã bị tòa binh xữ rồi, song rũi Na-bô-lê-ông thất thũ bị đầy lưu, dòng Buộc-bông được hồi trào, nhờ vậy mà Phẹt-năn đặng công thành danh toại. Phẹt-năn trở về xứ đặng đóng lon quan hai. Vã lại quan tướng-quân phãn Na-bô-lê-ông nay rất đắc sũng oai thế giữa trào mà không phụ Phẹt-năn, nên qua năm 1823 Phẹt-năn đặng đóng lon quan ba trong lúc giặc Ết-banh, nghĩa là hồi Đăng-lạc đang lảnh chịu bán đồ cần dùng cho binh lính langsa đó. Quan sai Phẹt-năn qua Mã-tri là kinh thành Ết-banh mà dọ tình hình trong xứ, Phẹt-năn qua đó gặp Đăng-lạc, hai đàng tâm đầu ý hiệp, cùng nhau bèn lập mưu kế đặng kiếm công danh.

Phẹt-năn tính xong rồi trở về dẩn binh đi lẹn qua Ết-banh, đánh ăn nhiều trận, đến trận lấy được đồn Trô-ca-xê-rô thì Phẹt-năn đặng đóng lon quan năm và đặng thọ thưởng Bắc-đẩu bội tinh cùng đặng phong tước bá (comte).

Thầy tu nghe vậy bèn than rằng: « Thiên cơ, tiền định! »

Ca-đờ-rút nói: « Mà chưa hết đâu, xin ông hảy nghe »:

Khi giặc Ết-banh tàn rồi thì cã Âu-châu khi ấy có thế đuợc hưởng cuộc hòa bình lâu dài thì đường công danh cũa Phẹt-năn một ngày một lu. May sao có nước Hy-lạp (Cà-rết) dấy việc cang qua, đánh cùng Tược-ki đặng tự do độc lập, không chịu làm chư hầu hoài, thì anh hùng dỏng sỉ tại nước Langsa khi ấy đều day mặt qua Hy-lạp, trước là thương nước nhỏ kình địch với nước to, sau là trợ đương nước yếu cự cùng nước mạnh. Tuy Chánh-phủ Langsa không tỏ dấu bề nào. trợ binh cho Hy-lạp, chớ cũng nhắm mắt, để cho anh hùng dỏng sỉ xuất dương qua đó mà tùng chinh.

Phẹt-năn thừa cơ hội bèn đâm đơn xin phép Chánh-phủ qua trợ chiến với Hy-lạp, mà tên hãy còn đứng trong bộ binh Langsa. Cách ít lâu nghe tin rằng Mọt-xép bá tước (là tước cũa Phẹt-năn) đặng vua Hy-lạp là A-lý Ba-sa phong làm chức Huấn-luyện tướng-quân để tập luyện binh gia.

Sau A-lý Ba-sa bị tữ trận. Song trước khi A-lý Ba-sa có thưởng Mọt-xép bá tước nhiều tiền bạc. Mọt-xép bá tước liền trở về nước Langsa mà hưởng cuộc phú quí vinh huê và được Chánh-phủ Langxa y chức tướng-quân cho nữa.

— « Như rứa thì ngày nay Phẹt-năn trở ra thể nào? »

— Như rứa thì ngày nay Phẹt-năn đã kinh dinh cất lầu đài mà ở tại đường Hen-đơ môn bài số 27 Ba-ri.

« Thầy tu mở miệng muốn hỏi mà ngập ngừng một hồi, đoạn ráng gượng mà hỏi rằng:

— « Còn cô Mẹt-xê-đết kỳ rày ở đâu, chớ họ nói với tôi rằng cổ đi đâu biệt tích »?

— « Dạ, không biệt tích đâu, bất quá là như mặt trời, chiều nay lặn, sáng mai lại mọc càng chói rạng thêm thì có. »

— « Té vậy cô Mẹt-xê-đết cũng đã giàu sang nữa sao? »

— « Dạ, nay cô ấy đã trở nên một đứng phu-nhơn rất vinh diệu tại kinh-thành Ba-ri. »

— « Ngươi hãy thuật luôn cho ta nghe, vì chuyện nầy rất lạ. »

— Dạ, vẩn khi Đăn-tết bị hàm oan rồi thì cô Mẹt-xê-đết rất buồn bực, sầu bi. Hồi nãy tôi có thuật cho ông nghe rằng cô Mẹt-xê-đết có đến tại tòa kêu oan cho chồng, rồi về săn sóc điều dưỡng, phục sự cha chồng. Trong cơn đang rầu thảm như vậy lại họa vô đơn chí, cổ nghe tin buồn nữa là em cô cậu với cổ là Phẹt-năn đã bị tùng quân rồi. Nói cho phải Mẹt-xê-đết không hay không biết việc quấy cũa em làm, nên khi nghe nó phải bị tùng quân thì lại càng buồn thêm nữa. Phẹt-năn đi tùng chinh, Mẹt-xê-đết ở nhà một mình quạnh trước vắng sau. Ba tháng trường giọt lụy khôn ngưng, Đăn-tết ở đâu, Phẹt-năn hà tại, hai đàng đều bặc vô âm tín, còn một ông già chồng thập phần tữ nhứt phần sanh, cha chả là thảm cho bồ liểu biết bao, phận bạc như huê trôi bèo rả.

Ngày kia Mẹt-xê-đết ra ngồi tại ngã ba đường về Mạt-xây mà trông tin chồng, trông tin em, trông một ngày một bặc, chiều lại phải về nhà, thấy cảnh mà thêm buồn. Thình lình nghe sau lưng, có ai đi giống hình như em mình vậy, bèn day lưng lại thấy Phẹt-năn mặc nhưng-y, mang lon quan hai về làng. Tuy gặp em thì mừng mà dạ còn hởi trông tin chồng. Mẹt-xê-đết mừng quính bèn nắm tay em mà hỏi việc hàn huyên. Phẹt-năn thấy vậy tưởng ngày nay chị mình đã nguôi ngoai việc trước, sanh lòng thương tưởng mình rồi. Song Mẹt-xê-đết trong lòng còn nhớ tình cũ ngãi xưa, mà nhiều khi cha chồng mình cũng có nói: « Chắc con tao chết rồi, chớ không thì nó đã về đây » Vã lại Mẹt-xê-đết cũng chẳng phải ghét nhơ gì Phẹt-năn, khi trước đã gá lời thệ hãi minh san với Đăn-tết rồi thì chẳng lẽ một gái mà hai chồng đó thôi. Rủi thay cho Mẹt-xê-đết, là bị ông cha chồng tịch cốc mà bỏ mình, chớ chi ổng còn sống thì Mẹt-xê-đết chẳng hề cải giá đâu, vì bề nào cỗ cũng sợ cha chồng nan trách. Phẹt-năn cũng hiểu thời thế như vậy. Nên khi nó nghe tin ông già đã qua đời rồi, nó bèn bương bộ về, lại có mang lon quan hai. Khi đi thì Phẹt-năn không dám tỏ tình thương, lúc về lại bày đều huê nguyệt.

Mẹt-xê-đết thấy vậy bèn nói với Phẹt-năn rằng: « Để cho chị đợi trông Đăn-tết sáu tháng nữa. Ví bằng bặc vô âm tín thì chị sẻ tín. »

Thầy tu nghe vậy buồn cười mà nói rằng:

— Tính dồn lại thì đã đặng 18 tháng, Mẹt-xê-đết đã trông đợi hết hơi rồi. Có ai mà được như Đăn-tết vậy nữa. Người ta chịu phòng không lạnh lẻo mà đợi chờ 18 tháng trường.

Ca-đờ-rút nói:

— Sáu tháng sau Phẹt-năn về cưới cô Mẹt-xê-đết, vợ chồng chịu phép hôn phối tại nhà thờ A-cunh.

— Chớ phải Đăn-tết còn sống vợ chồng cũng se chịu phép hôn phối tại nhà thờ đó. Nay chẳng phải Đăn-tết thì là Phẹt-năn.

— Khi chịu phép rồi ra về, ai nấy tưởng cô Mẹt-xê-đết đã nguôi ngoai chuyện trước rồi. Ai dè lúc đi ngang qua quán Phần-hờ, chị ta nhào ngữa mà bất tĩnh nhơn sự.

Tuy Phẹt-năn cưới đặng Mẹt-xê-đết rồi lẻ thì vui mừng. té ra chàng va coi bộ sợ sệt, đêm ngày nghi tâm không biết chừng nào Đăn-tết về, nên chàng va tính việc di cư, dời nhà đi xứ khác cho biệt tích.

Tám ngày sau khi cưới rồi, vợ chồng đề huề ly hương.

— Ngươi một hai khi có gặp Mẹt-xê-đết chăng?

— Dạ có, là trong cơn giặc Ết-banh, Phẹt-năn mắc đi làm tế tác, tôi có đi đến tại thành Bẹt-bi-nhăn mà thăm, thì thấy chị ta đang lo dạy con học.

Thầy tu nghe nói Mẹt-xê-đết có con bèn dùn mình mà hỏi:

— Con nào?

— Dạ, con cũa chị ta, tên nhủ danh là Anh-be.

— Cô ta có học thức sao mà dạy con được, vì Đăn-tết nó có nói với ta rằng: cô ấy là con nhà chài lưới, tuy có sắc mà thiếu học.

Đăn-tết không châu toàn được. Chớ quả cô Mẹt-xê-đết đáng mặt làm đến bực cung phi, vì sẵn tánh thông minh trời đã dành để trong lòng. Đến khi được cuộc phú quí vinh huê rồi, Mẹt-xê-đết lo luyện tập cầm kỳ thi họa, lo nấu sữ xôi kinh. Tôi tưởng cỗ ham mộ việc học hành là chẳng phải muốn xa vọng chuyện chi dầu, một nhơn đó mà tiêu khiển ngày giờ và lấp vùi chuyện cũ thôi. Nay cổ đã giàu mà lại sang, đã làm tới bậc bá-tước phu-nhơn, song...

— Song làm sao?

— Tôi chắc cổ không bề an tâm đâu.

— Sao mà ngươi biết được vậy?

— Số là khi tôi bần cùng quá đổi, tôi liều mạng đến tìm bạn xưa mà xin chút đỉnh tiền bạc đở ngặt, thì Đăng-lạc bảo gia-đinh đuỗi tôi, còn Phẹt-năn thì sai gia-đinh đem cho tôi 100 quan tiền.

— Té ra ngươi không gặp được mặt hai đứa đó sao?

— Dạ không, mà tôi có thấy được mặt bà Mọt-xép bá-tước phu-nhơn rồi.

— Làm sao thấy được?

— Dạ, khi gia-đinh trao cho tôi 100 quan tiền, tôi thọ lãnh rồi đi ra, thì trên lầu quăng xuống cho tôi 1 túi vàng được 15 đồng, tôi ngướt mặt lên xem, liền thấy cô Mẹt-xê-đết thục mặt vào trong mà đóng cữa sổ lại.

— Còn ông đờ Huynh-pho?

— Dạ, tôi không quen lớn gì với ổng, không xin xỏ chi, hòng biết cho được.

— Vậy mà ngươi có rỏ nay ổng ra thể nào, và ổng làm hại Đăn-tết cách nào chăng?

— Dạ không, mà tôi biết có một đều, là sau khi bắt Đăn-tết rồi, ỗng cưới con gái ông Hầu đờ Xanh-mê-răn, đoạn đổi đi ngồi chổ khác. Có lẻ ông cũng giàu như Đăng-lạc, sang như Phẹt-năn, chỉ có một mình tôi cùng khỗ gian nan thôi, bị người ghét, trời hờn.

— Ngươi chớ nói vậy mà lầm, trời nào ghét ai, vì chưa tới thời thì vậy, chớ lúc tới rồi thì sẻ báo ứng thậm tốc.

Thầy tu nói rồi liền móc cái hộp đựng ngọc trao cho Ca-đờ-rút mà nói rằng:

— Ngươi hãy thọ lãnh cũa quí nầy mà làm giàu.

— Ông cho tôi hết hột ngọc nầy sao?

Đăn-tết dặn chia giá ngọc ra làm năm mà phát cho năm người bạn lành, mà nay xét kỷ thì Đăn-tết có một bạn lành thôi, thì ta không chia, để trọn cho ngươi. Giá nó đáng 5 muôn quan, đủ làm cho ngươi hết hoạn nạn rồi.

— Dạ, thiệt ông cho tôi hột ngọc nầy sao. Xin ông đừng giã ngộ, tội nghiệp tôi lắm.

— Ai mà giã ngộ nà. Hãy lấy đi.

Ca-đờ-rút một tay lau mồ hôi, một tay rung rẫy thò lấy ngọc, vừa đụng lại thục tay lại.

Thầy tu cười mà nói rằng:

— Ngươi đi lấy cái túi đỏ mà ông Mo-ren đựng bạc đem cho lén ông già Đăn-tết đó, đem lại đây mà đổi với ngọc nầy.

Ca-đờ-rút lấy làm lạ, vừa đi lấy cái túi vừa suy nghĩ. Chừng đem túi đỏ lại giao cho thầy tu thì thầy tu liền trao ngọc cho va, va mừng quýnh mà nói rằng:

— Thiệt ông là thiên thần chớ chẳng phải người phàm. Vì khi Đăn-tết trối ngọc lại cho ông thì không có ai thấy, đóng như kẻ khác thì họ đã đoạt rồi.

— Như ngươi vậy thì ngươi đã đoạt rồi há.

À, chuyện ngươi nói nãy giờ đó thiệt hay là giã dối.

— Dạ, thiệt lắm, như ông không tin thì tôi xin lấy cây thánh giá treo trên vách đó mà thề cho ông tin.

— Thôi thôi, chẳng thề thốt mà làm chi. Ta chúc cho ngươi vinh huê phát đạt, còn ta đây sẻ trở về nơi tu hành mà tu luyện, để cho người thế tranh cạnh, dành xé, tương tàn nhau.

Thầy tu nói rồi thì từ biệt Ca-đờ-rút rồi mở cữa, lên ngựa mà trở về Mạt-xây.

Nói về khi thầy tu đi rồi và Ca-đờ-rút vừa day lưng lại bèn thấy La-thị đứng sau lưng mặt tái xanh như tào lá, tay chưn rung lặp cặp mà hỏi chồng rằng:

— Tôi nghe thầy tu cho anh cụt ngọc có quả vậy chăng?

Ca-đờ-rút nhãy lan ba mà nói rằng:

— Em ôi, mình hết khỗ rồi, đây nè, em hãy xem lấy.

— Không biết ngọc ấy thiệt hay là giả?

— Có lẻ nào ông ấy đến đây mà gạt vợ chồng ta sao?

— Chừng đỗi đâu, ỗng đến gạt mình mà dọ tin.

Ca-đờ-rút nghe vợ nói vậy có ý nghi tâm, cúi đầu suy nghĩ một hồi, đoạn nói với vợ rằng:

— Nếu vậy thì để ta đi hỏi thữ coi ngọc giã hay là ngọc thiệt.

— Anh đi hỏi ai bây giờ?

— Con sao khờ quá. Vậy chớ mầy không biết bữa nay tại thành Bô-ke có nhóm chợ phiên hay sao. Có thợ ngọc ở kinh-đô Ba-ri đến đó bán ngọc, tao đi đó giơ ra cho họ coi. Mầy ở nhà giữ quán, trong hai giờ đồng hồ tao sẻ trở lại quán trung.

Ca-đờ-rút nói rồi giựt nón đội chồng lấy khăn choàn đầu mà chạy tuốc ra đường, nhắm Bô-ke trực khứ.

La-thị ở nhà một mình nói thầm: năm muôn vẩn là tiền bạc, song chưa phải là cuộc giàu sang. (Thiệt là tham tâm vô yễm).


  1. Như vậy là: Vận khứ lôi hoanh tiếng phước bi.
  2. Ấy là thời lai phong tống đằng vương các.