Bước tới nội dung

Tiền căn báo hậu/XXXI

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tiền căn báo hậu của Alexandre Dumas, do Kỳ Lân Các dịch
XXXI. Tại I-ta-li Xim-ba bạn biển ra mặt

XXXI
Tại I-ta-li XIM-BA BẠN BIỂN ra mặt

Nói về trong đầu năm 1838 có hai vị công-tử, cả hai ở kinh-thành Ba-ri, qua chơi tại thành Phô-lô-răn-xờ, một là Tữ-tước đờ Mọt-xép (là con trai của Phẹt-năn và cô Mẹt-xê-đết), hai là Nam-tước Đê-bi-nê. Nhị vị công-tữ tính rồi sẽ qua thành Rô-ma đặng coi chưng cộ là nơi Nam-tước Đê-bi-nê có du-lịch 4 năm rồi, sẻ tiếng dẫn Tữ-tước đờ Mọt-xép.

Nhưng mà cuộc đi coi cộ tại Rô-ma chẳng phải là dể, phải lo chỗ tá túc trước, bằng không thì phải cực thân, nên nhị vị công-tữ mới viết thơ cho Lon-đon-lầu ở đường Ết-banh tại thành Rô-ma, bảo dọn một gian phòng cho rộng sẵn đó, đặng khi qua có chổ mà tá túc. Đầu-gia Lon-đon-lầu đáp từ rằng hiện tại trống có hai cái phòng và 1 cái xép ở từng thứ nhì, đành nhượng cho nhị vị công-tữ, mổi ngày giá là 1 đồng vàng (20 quan).

Nhị vị công-tữ đành mướng, rồi đó Tữ-tước đờ Mọt-xép đi qua thành Náp chơi, Nam-tữ còn ở Pho-lô-răn-xờ.

Nam-tữ khi chơi tại Phô-lô-răn-xờ ngỏa nguê rồi bèn đi qua cù-lao En-bờ viếng cho biết thành cung vua Na-bô-lê-ông, vì khi trước đã có đến viếng cù-lao Cọt rồi.

Ngày kia Nam-tước đi bắn chim mà bắn không được bao nhiêu, nên lái đò mới mách bảo rằng:

— Như công-tữ muốn bắn cho vừa lòng thì nên ra hòn ngoài khơi mà bắn, vì đó không thiếu chi thượng cầm hạ thú.

— Hòn ấy tên là chi.

— Dạ, nó tên là hòn Mông-tê Cà-rít-tô.

— Ta có giấy phép đâu mà dám đến đó bắn chim.

— Dạ, Công-tữ chã cần chi giấy phép, vì là hòn vô chủ.

— Nếu hòn ở giữa Địa-trung-hải vậy mà vô chủ thì ta nên đi xem cho biết.

— Dạ, vô chủ là vì cả hòn đều là đá, không có lấy được một công đất dư mà trồng trỉa

— Hòn ấy thuộc về xứ nào?

— Dạ thuộc về xứ Tốt-canh.

— Ngươi nói có thượng cầm hạ thú là những vật chi?

— Dạ, có ngàn ngàn dê rừng?

— Dê ở đó lấy chi ăn, chỉ liếm đá mà trừ hay sao?

— Dạ, có thiếu gì là cây lúm khúm.

— Rồi mình tối ngủ đâu?

— Dạ, ngủ trong hang đá, hoặc xuống ghe trùm áo trời mưa mà ngủ. Như công-tữ muốn đi chừng nào, tôi sẳn lòng, vì đêm ngày gì tôi chạy bườm hoặc chèo cũng được.

Bỡi cuộc chưng cộ tại Rô-ma còn lâu, nên Nam-tước tính đi chơi cho biết. Khi Nam-tước chịu đi thì bạn tàu nói nhỏ xù xì cùng nhau. Công-tữ bèn hỏi:

— Sao có chi lạ mà bây xù xì với nhau đó?

Lái đò đáp:

— Dạ, thưa công-tữ rỏ, vã chăng hòn vô chủ nầy là nơi tụ hội các tay buôn lậu và ăn cướp tàu ô. Nếu chúng nó hay chúng ta đến đó, chừng trở về thì thoàn ta phải bị cầm 6 ngày.

— Té ra có chuyện vậy nữa sao. Sáu ngày bị cầm, đúng số 6 ngày Chúa dựng nên trời đất, cha chả bị cầm lâu vậy sao?

— Song le, nói mà nghe, chớ ai đi tỏ vẻ rằng công-tữ đi ra hòn vô chủ mà phòng lo.

— Nếu có ai tỏ vẻ thì chẳng phải ngươi ta đâu.

Bạn nói:

— Mà chúng tôi cũng không lẽ đi thóc mót.

Nam-tước dụ dự một lác rồi chịu đi

Chừng thuyền trương bườm lang chạy ra khơi rồi, Nam-tước bèn nói:

— Chú lái, chú mới nói rằng hòn vô chủ là chổ tụ hội các tay buôn lậu và ăn cướp tàu ô phải không, nếu ta gặp được chúng nó thì khoái hơn dê rừng.

— Dạ, tôi không dám dối công-tữ đâu.

— Vẩn ta có nghe nói mà vì quan có bắt được cả ổ hang chúng nó rồi, thì nay có lẽ là chuyện huyển hoặc mà thôi.

— Dạ, chuyện ăn cướp nầy chẳng khác như chuyện quân hoang ở Rô-ma, họ đồn rằng Đức Giáo-hoàng Lê-ô thứ 12 đã phá sào huyệt nó rồi mà sao tại cữa thành thiên hạ còn bị đoạt gói hoài thế. Vậy chớ công-tữ không có nghe nói quan sứ-thần Langsa khi đi sứ qua Tòa-thánh đã bị quân hoang đoạt hết của tiền sao?

— Ta có nghe.

— Công-tữ vẩn có ở lại Ly-huột một đôi khi cũng có nghe rằng tàu nầy, tàu kia chở hàng vài ngày sẽ về tới, rồi sao biệt tích. Họ đồn rằng tàu bị xiêu phong hoặc bị lố mà chìm, phong ấy, lố ấy là thuyền ăn cướp đa.

— Nó làm cách nào?

— Dạ, nó đón đường mà đoạt cũa chớ gì.

— Làm sao các kẻ bị hại vậy không thưa quan đặng bắt nó.

— Bởi vì khi ăn cướp đánh tàu nào thì trước hết nó dọn hàng hóa và đồ quí qua thuyền nó, rồi nó trói lái bạn lại như trói sấu, đoạn nó lấy sắt nặng cột vào cổ, đụt lũng tàu bỏ đó mà đi tàu bị nước ào vào mà lụy. Bởi ấy còn ai đâu mà đi thưa với quan.

Chớ chi trước khi đi mà lái đò thuật chuyện ăn cướp thí mạng người như vậy thì chắc Nam-tước không hề chịu đi. Song le nay đã đi lở rồi không lẻ nghe vậy mà bảo thuyền trở về, dầu có nhát cho thế mấy cũng phải làm mặt dạng mà nói rằng:

— Ta vẩn có đi du lịch trong nhiều cù-lao, mà chẳng hề thấy bóng dạng ăn cướp là gì.

— Bởi vậy tôi thuật lại cho công-tữ nghe, chớ tôi không có ý dọa công-tữ đâu.

— Mà ngươi nói chuyện nghe hay quá, thì cứ việc và chạy bườm và đàm đạo nghe chơi.

Song nhờ gió xuôi nên thuyền chạy mau lắm, chạy một đêm và trọn một ngày còn chừng vài muôn thước gần tới hòn thì mặt trời đà chen núi. Trời một ngày một tối thui, nhờ bạn biễn thuộc đường nên ít lo, chừng đến gần thấy trên hòn có ngọn lữa đỏ lòm, Nam-tước bèn hỏi lái đò:

— Hồi hôm ngươi nói hòn không ai ở, nay sao lại có ngọn lữa gì đó.

— Dạ, thựa công-tữ rỏ tôi nói hòn tuy vô chủ mà là nơi các tay buôn lậu và ăn cướp tàu ô hay tụ hội. Bởi thế nên tôi mới không ghé, cho thuyền chạy trợt khỏi hòn rồi.

— Lữa như vậy chẳng phải là lữa nguy hiểm đâu, vì nếu người đốt lữa ấy là ăn cướp, thì lẻ phải âm thầm, có đâu đốt lữa ngọn cho chúng hiểu mình đến tụ hội đó sao?

— Dạ, là vì ngọn lữa đốt nơi đây ở trong đất liền không thấy, phía ngoài khơi ngó vào mới thấy được mà thôi.

— Theo ý ngươi thì lữa ấy không vừa, ắt có cuộc nguy hiểm phải không?

— Dạ, thưa công-tữ để tôi dọ lại coi đã.

— Dọ cách nào?

— Rồi công-tữ sẻ thấy.

Nói rồi lái đò bàn luận với bạn bè, đoạn day thuyền chạy trở lại, chừng khuất bóng lữa, bẻ bánh lái đò cho thuyền vào bờ, sập bườm mà linh đinh tại đó. Các việc ấy làm êm ái, bạn lái gì đều lẳng lặng làm thinh. Lái đò dạy bạn gay chèo mà sẻ lén xạt, còn va thì lo lấy bì nạp vào ba cây súng đặng đề phòng. Chèo được một hồi, lái đò bảo ngừng lại, đoạn ra áo mà xuống biển lội lén vào hòn. Trời tối như mực, cứ do theo nước dợn sáng mà biết lái đò lội tới đâu thôi. Khi nước hết dợn sáng, thì biết lái đò đã lên bờ rồi. Bạn bè ngồi làm thinh mà chờ, được chừng nữa giờ thấy nước dợn thì một lát thấy lái đò lội ra thuyền. Cã thuyền đều hỏi:

— Sao? Ai ở đó đốt lữa vậy?

— Mấy người đốt lữa đó quen với tôi.

Nam-tước cười mà hỏi:

— Té ra ngươi cũng là một bọn ăn cướp sao?

— Dạ, thưa công-tữ, tôi vẩn nghề chi hể có lợi đều làm cả.

— Vậy thì ta lên bờ chơi được, không sao mà sợ?

— Dạ, lên được không hề gì đâu.

— Mấy người ấy sẻ không làm hại ta sao?

— Dạ không, là vì họ biết quan đang tập nã họ, họ mới trốn ra đây, số là có hai tên Cọt giết người bị quan kiếm bắt.

— Vậy thì ta nên lên đó mà làm quen với chúng nó, hết thảy nội bọn là mấy người?

— Dạ, sáu người, là kễ về hai tên Cọt đó.

— Họ sáu người, mình đây cũng sáu người, đồng sức đa. Nếu họ làm dữ, mình sẽ ra tay, sợ gì.

— Dạ, phải, thưa Công-tữ để tôi sữa soạn rồi sẽ lên.

— Sữa soạn đi.

— Ấy vậy ai ai đều phải ngậm miệng làm thinh.

Nam-tước lọt vào đám nầy nghe ra có cuộc nguy biếm, nhứt thân, nhứt thương đến hòn vô chủ, bạn lái gì không quen thuộc với mình, vã lại trong lưng có lộn theo vài ngàn quan tiền, chắc sao bạn bè nó đã rỏ, lâm le muốn hại mình mà lấy bạc và lấy súng săn. Khi Nam-tước đang suy nghĩ vậy thì bạn trương bườm chạy tớt một hồi liên thấy có 5, 6 người đang ngồi chung quanh đống lửa. Khi thuyền đi ngan đó lái đò bèn đâm mũi vào bờ và lên giọng hò hát, lái thì bắt cái bạn lại hò khoang.

Mấy người ngồi trên gành nghe hò hát vậy, bèn chạy ra mé đá mà dòm coi thuyền chi và có ý gì đến hòn vô chũ ban đêm. Dòm một hoi năm người bèn trở lại đống lửa đang nướng một con dê rừng, còn người thứ 6 thì đứng đó mà coi chừng, khi thấy thuyền vào gần bén hòn, nó rường súng mà hỏi: ai đó!!

Nam-tước thấy vậy bèn lấy bì nạp vào lòng súng. Lái đò trả lời theo tiếng riêng. Nam-tước không hiểu, đoạn hỏi Nam-tước rằng:

— Thưa Công-tữ, công-tữ muốn xưng tên hay là dấu tên.

— Không cần gì nói tên ta ra làm chi, vì chúng nó không hiểu, ngươi hãy nói ta là người langsa đi du-lịch thì đủ.

Khi lái đò đáp từ với trên bờ rồi, thì tên đứng coi chừng, bảo một đứa đang ngồi gần đống lửa chạy đi báo tin.

Trong cơn ấy tuy ai lo phận nấy mặc lòng, chớ mỗi người đều có lòng châm chỉ coi thời sự sẽ ra thể nào. Một chập kế đứa đi báo tin trở lại mời: Xin quí khách hãy lên.

Khi nghe mời vậy lái bạn đều nhãy lên bờ. Nam-tước lên sau, y phục như người tài tữ phong lưu, nên bọn ở hòn không nghi ngờ. Nam-tước thấy bọn ấy lơ là bèn yên tâm, nghe mùi thịt dê mới biết đói bụng, nói nhỏ với lái đò, lái đò liền dạy bạn đem rượu bánh đồ ăn và thịt chim cho va đi đổi lấy thịt dê cho Nam-tuớc dùng. Một hồi lâu lái đò trở lại có bộ lo, nên Nam-tước hỏi:

— Sao, họ không chịu đổi sao?

— Dạ, đầu đảng bọn họ cho mời Công-tữ đến dùng cơm tối với va, vì va nghe Công-tữ là người langsa, mời đến đàm đạo chơi.

— Té ra đầu đảng bọn ấy lịch lãm dường ấy, ta lại há đi từ không đến sao, vã lại ta đem đồ ăn theo mà chung cùng với đó.

— Chẳng phải là đầu-đảng thiếu vật thực đâu, song va nói như Công-tữ muốn đến nhà va thì phải chịu khó để trẻ bịt con mắt, chừng vào nhà rồi sẽ mở ra.

— Va có nhà tại đây sao?

— Dạ tôi nghe nói chổ ở va tốt lắm.

— Ngươi có quen thuộc chi với va chăng?

— Dạ không, mà tôi có nghe nói.

— Nghe nói lành hay dữ.

— Đũ hai cách.

Nam-tước nghe vậy thì có ý châm chỉ ngó diện mạo lái đò coi nó có ý riêng gì chăng.

Lái đò thấy vậy hiễu bèn nói rằng:

— Dạ, thưa Công-tữ hãy suy nghĩ cho đáo để rồi sẻ đi.

— Ngươi tính nên đi hay là không nên đi?

— Dạ, phận tôi thì khác, ai mời đi, thì đâu tôi chả từ,

— Ngươi tính nên đi, phải không?

— Dạ, nên đi cho hiểu tình hình.

— Có chi lạ lắm sao mà nên đi cho rỏ tình hình.

Lái đò kề tai nói nhỏ với Nam-tước rằng:

— Dạ, tôi không rõ thiên hạ đồn có quả vậy không...

Nói đến đó liền day xem bốn phía coi có người lạ mặt ở gần đó chăng, rồi day lại nói rằng:

— Họ nói: đầu đảng ấy có dọn một cái hang tốt vô song, dẩu cho lầu đài vương đế cũng sánh không kịp.

— Cha chả là mộng mị.

— Dạ, không phải chuyện mộng mị đâu. Quả có như thế, vì người hoa-tiêu chiếc thuyền Xanh-Phẹt-đi-năn có vô đó một lần, về nói không có lầu đài nào bì lại.

— Nếu vậy thì đây là hang A-li-Ba-ba trong truyện Dạ-đàm A-rập rồi đó.

— Dạ, tôi chĩ thuật chuyện thiên hạ đồn lại cho Công-tữ nghe thôi.

— Ngươi khuyên ta nên đến đó phải không?

— Dạ, cái là tự ý Công-tữ, tôi đâu dám bỉ sữ trong việc trọng hệ vậy sao!

Nam-tước suy nghĩ rằng nếu người ấy giàu sang dường thế không lẻ cướp móc chi vài ngàn quan tiền, nên ta ráng đi cho biết. Nói rồi bảo lái đò đi trả lời cho bọn nó hay.

Nam-tước kêu tên bạn đang nhổ lông chim làm thịt mà hỏi:

— Bọn ấy đến đây bằng tàu hay bằng thuyền.

— Dạ, tôi biết tàu cũa họ.

— Tàu tốt hay xấu?

— Dạ, Công-tữ mà được một chiếc tàu như vậy để đi du-lịch thế gian chơi, thiệt là khoái lắm.

— Tàu ấy trọng tải bao nhiêu?

— Dạ, chừng 100 tôn (mổi tôn là 1000 kilos). Nó là một chiếc khoái-thuyền để đi du-lịch không kiên dông tố bảo bùng gì hết.

— Tàu ấy đóng tại đâu?

— Dạ, tôi không rỏ cho mấy, song tôi tưởng chắc đóng tại thành Rên.

— Có lẻ nào va dám đóng tàu buôn lậu tại thành Rên?

— Dạ nẩy giờ tôi không có nói đầu đảng ấy là người buôn lậu.

— Mà lái đò có nói với ta.

— Là tại lái đò ở xa thấy không rỏ mà nói vậy.

— Nếu va không phải đầu đảng buôn lậu, vậy thì là đầu đãng bọn nào?

— Dạ, va là một người cự phú đi du-lịch giải khuây.

Nam-tước nghe kẻ nói người nói vọ thì trong lòng lại càng muốn đến nơi cho biết, đoạn hỏi nữa rằng:

— Va tên là chi?

— Dạ, hể ai hỏi va thì va nói tên va là Xim-ba bạn biển. Mà tôi tưởng ấy là tên giả thôi.

— Căn cư va ở đâu.

— Dạ, tôi không rỏ.

— Ngươi có thấy va lần nào chăng?

— Dạ, có thấy một đôi khi.

— Người ra làm sao?

— Dạ, lát nữa Công-tữ sẻ thấy.

— Va tiếp khách tại đâu?

— Dạ, tại hang mà lái đò nói với Công-tữ hồi nãy đó.

— Bây đến đây hoài, sao không tìm kiếm cho biết?

— Dạ, có tìm kiếm đôi khi mà không gặp được miệng hang giấu kín lắm, họ đồn rằng phải thuộc một câu thần chú mới kêu cữa được.

— Đây chắc là một chuyện Dạ-đàm rồi. Vừa nói dức lời có tên gác gành đi với 2 tên bạn Du-lịch-thuyền lại thưa:

— Dạ, thưa Công-tữ, chủ tôi đang trông Công-tữ.

Nam-tước nghe vậy liền lấy khăn trao cho tên gác gành bảo bịt con mắt.

Khi bịt kỉ cang rồi, họ bảo Công-tữ thề không có lòng muốn xem địa thế, tọc mạch tình hình chi cả.

Nam-tước thề rồi, thì hai tên bạn Du-lịch-thuyện một đứa liền nắm một tay mà dắc đi.

Đi chừng vài trăm bước thì nghe khí thở khác mùi, Nam-tước định dẹo rằng mình đã vào hang.

Đi một hồi nữa thì nghe dường như có tiếng mở cữa, rồi khi thở đổi mùi thơm và ướt thập, còn chơn đi đi trên khảm. Tới đó hai tên bạn buông tay Nam-tước ra, thì nghe có tiếng mời chào rằng: Ta chào Quí-khách đàng xa mới đến. xin lấy khăn bịt mắt đi. Nam-tước lật đật mở khăn thì thấy trước mặt một người tác chừng 38, 40 tuổi, mặc y phục tư-ni-xi. Tuy diện mạo xanh xao mà rất trì trọng oai nghi, con mắt trong và chói sáng như sao băng, lổ mủi cao và ngay ngắn, răn trắng tợ ngà, râu đen như mực. Cả châu thân ngủ đản, trung trung người, không cao không thấp, nước da giống dạng ở rập lâu năm, dường như mất máu vậy. Nam-tước khi chưa vào hang nghe lái bạn nói trong hang chưng diện rực rở thì tưởng là cuộc mị mộng, nay thấy quả như vậy liền lấy làm lạ vô cùng, vì hai bên vách đá đều có treo hàng lụa thêu Kim-xuyến bằng vàng thiệt, thân trong có ghế trường-kỉ, trên có treo đồ lổ-bộ cán làm bằng ngọc thạch, có đính ngọc kim cang, trên nóc hang có treo 1 cây đèn bằng thủy tinh Huệ-ni, còn dưới đất thì lót khảm Thổ-nhỉ-kì, mềm mại đi đứng khoái chơn.

Chủ hang ngồi ngó Nam-tước mà chiêm nghiệm rồi nói rằng:

— Xin quí-khách chớ phiền, vì tôi đã dạy trẻ đề phòng bịt con mắt quí-khách mà dắc vào đây, vì hòn nầy là chổ hoang vu vô chủ, nếu không cẫn thận vậy thì khi tôi đi khỏi thiên hạ đến phá tán. Mất của không tiếc mà tiếc là không còn chổ kín đặng đến đây thừa nhàn nơi thanh tịnh đó thôi. Bởi vô lể vậy nên tôi ráng chuộc tội là dọn một tiệc tạ quí-khách cho xứng đáng mới vừa lòng.

— Túc hạ chớ khá khiêm tôn thới quá, và tôi chẳng lấy cuộc đề phòng ấy gì làm lạ, bởi tôi có thấy trong sách nói hể muốn đến nơi dị-cảnh thì phải vậy, như trong chuyện Dạ-đàm, có nói.

— Thưa Công-tữ, chớ phải tôi hay Công-tữ sữa soạn đến đây thì tôi đã dạy trẻ dọn tiệc xứng đáng hơn. Nay thình lình Công-tữ tới, tôi xin lỗi có chi dùng nấy. Á-lý cơm rồi chưa?

Á-lý là một tên hắc-quí nghe kêu bèn chạy vào mà làm dấn rằng cơm dọn rồi.

Chủ hang mới nói với khách rằng:

— Tôi xin chường tên họ đặng dễ bề chuyện vãng khỏi lầm: Tôi là Xim-ba bạn biễn đây.

— Ấy vậy thì Túc hạ nên gọi tôi là A-la-đanh.

— Vậy thì tôi xin A-la-đanh tiên sanh hãy theo tôi sang qua phòng bên nay mà dùng bữa cùng tôi.

Nam-tước đi từ bước càng khoái nhản thêm từ bước, qua đến phòng ăn thấy trên bàn vật thực vỉ vèo, đoạn dòm chung quanh bèn thấy tứ phía cẩn đá cẩm thạch, có chạm trổ chỉ niển khéo lạ, hai bên có hai cái tượng đá hình người đờn bà đội dổ lam có chưng quả tữ nhiều thứ cây quí lạ, nào là thơm xứ xi-xinh, lựu ma-la-ga, cam ba-lê-a, nào là lê langsa, chà là tư-ni-xi.

Trên bàn cơm những đồ chi xin kể ra đây: một con trỉ rô-ti, để trong dỉa bàn thang, chung quanh có 10 con sáo cọt, một đùi heo rừng, 1 đùi dê con, một con cá chẻm, một con tôm hùm, chung quanh các món ấy thì không thiếu chi đồ khác, đũ thứ sơn trân hải vị. Còn đồ dùng thì là dĩa bạc đủa ngà, ly thũy tinh, khăn bố nhuyển v. v.

Chủ khách nhập tiệc, có một mình Á-lý ở đó hầu thôi. Nam-tước thấy Á-lý giỏi bèn trầm trồ khen, chủ hang liền nói:

Á-lý vẫn là một đứa khốn cùng, nhờ tôi cứu mạng, nó mang ơn cứu tữ hoàn sanh nên hết lòng phục sự.

Á-lý nghe nói vậy chạy lại ôm tay chủ mà hôn.

Nam-tước thấy vậy mới hỏi:

— Thưa Xim-ba tiên sanh, tôi muốn biết vì dịp nào mà tiên sanh cứu Á-lý khỏi chết.

— Thưa A-la-đanh tiên sanh, vẩn Á-lý ngày kia đi dạo chơi gần cung nội của vua xứ Tư-ni, mà cung nội ấy là nơi các mái của vua ở, nên Á-lý mới bị án phải đứt lưỡi, đứt tay và đứt đầu; án ấy định như vầy: Ngày thứ nhứt cắt lưỡi, ngày thứ hai cắt tay, ngày thứ ba cắt đầu. Vốn tôi ước có một đứa câm để làm tôi tâm phúc, nên ngày thứ nhứt khi Á-lý bị cắt lưỡi rồi, thì tôi vào đền vua mà xin đổi mạng Á-lý cho vua một cây súng 2 lòng, vua ban đầu còn dụ dự, tôi thấy vậy bèn cho thêm một con dao săn hồng-mao rất bén, nên vua liền chịu thả A-lý không cắt tay và cắt đầu, song cấm nó không được ở xứ Tư-ni.

Bởi ấy khi nào chiếc du-lịch-thuyền của tôi chạy gần bờ Phi-châu thì Á-lý liền chạy trốn dưới lường, chừng nào thuyền đi khỏi đó nó mới dám lên bon.

— Tiên sanh cả đời khi cứ bắt chước người đồng danh tiên bối mà đi du-lịch thế gian hoài sao?

— Phải, là tại tôi khi trước có lời khấn hứa, mà vi không thế làm được, nay thông thả nên phải giử lời khấn hứa ấy luôn-

Chủ hang và nói và nghiến răn trợn mắt.

Nam-tước hỏi.

— Tiên-sanh đã có bị nhiều chuyện khốn đốn lắm sao?

Chủ hang nghe hỏi dực mình mà ngó khách châm chĩ rồi trả lời:

— Tiên-sanh thấy dấu chi mà biết rằng khi trước tôi có bị chuyện khốn đốn?

— Thiếu gì dấu, giọng tiên sanh nói, cách trừng liết, ngó xem, màu da mặt, cùng là cách cữ chĩ ở ăn làm cho tôi nghi dạ,

— Tôi ở ăn sung sướng hơn vua chúa; tôi tự chủ làm vua trong vạn vật; đến đâu vui thì ở, buồn thì đi, thong dong tự tại như chim, có cánh như diều; các nô bộc tôi đều vâng phục tôi mọi đàng. Lâu lâu tôi thữ thách đố các quan thế gian, là khi tôi gặp ai bị quan truy tầm tập nả thì tôi cứu đem đi xa im ấn. Vã lại tôi hay xử đoán, hoặc giết hoặc tha tự ý tôi chẳng hề ai dám cải chối, từ nan. Nếu tiên-sanh mà được cữ chĩ ở ăn như tôi vậy chắc tiên-sanh không vụ gì đến thế gian chi nữa.

— Tôi chắc tiên-sanh có hờn đều chi trọng hệ hoặc phiền nhơn quần xã hội, nên mới từ thế gian đến ở chốn u nhàn nầy.

— Tiên-sanh nghĩ sai rồi, tôi vẩn là người bát ái hay thương xót loài người, có ngày tôi sẻ về Ba-ri mà tranh cuộc làm phước với ông A-be.

— Từ thuở nay tiên-sanh chưa đến Ba-ri lần nào sao?

— Chưa, mà ít lâu đây tôi sẻ đến đó.

— Tôi muốn biết chắc ngày nào tiên-sanh đến Ba-ri đặng tiếp đãi tiên-sanh mà tạ ơn tri ngộ tại hòn vô chủ đây.

— Tôi hết lòng cám ơn quí-khách, song chừng tôi đi vậy chắc phải mai danh ẫn tích, không muốn cho ai biết.

Tiệc gần tàn mà chủ hang không rờ đến món chi, ấy là có ý cầm khách thôi.

Á-lý lấy trái cây trên dỏ-lam đem xuống cho khách trán miệng và có để trên bàn 1 cái thố bằng ngọc, chẳng hiểu đựng chi ở trỏng mà Á-lý bâng để rất kĩ cang. Nam-tước giở nấp thố mà dòm rồi ngó chủ hang.

Chủ hang bèn cười mà nói:

— Tiên-sanh không biết là món chi sao?

— Thiệt tôi không hiểu là món chi đa.

— Nó là tiên-đơn của Ngọc-hoàng thượng-đế thường hưởng.

— Tiên-đơn là tên vật quí ở trên thiên đình, còn tại hang tiên-sanh đây phải kêu nó bằng tên gì?

— Vẩn người thế gian hay có cái vùn thế, cái phước một bên tay, cái khoái lạc một bên mình mà không thấy không hiểu. Tiên-sanh hãy nếm một miếng vật nầy mà chiêm nghiệm, thì sẻ biết cuộc tiêu diêu khoái lạc, trí tiên sanh sẻ vượt khỏi nơi trần tục mà cao bay đến nơi huyền diệu. Đễ tôi làm cho tiên-sanh bắt chước.

Nói rồi chủ hang lấy muổng múc ăn coi một cách ngon lạ.

Nam-tước nghe chủ hang cắc nghĩa món ăn ấy liền nói:

— Uạ, y như lời tiên-sanh nói nảy giờ thì món nầy chắc là một vị bông cỏ cành-sa[1] đây ma.

— Phải, tiên sanh nói nhằm, nó là một vị cành-sa đó, tôi bảo lựa thứ tốt dọn lại kĩ cang.

— Tôi nghe tiên-sanh khoe cái tánh nó, tôi muốn ăn thữ coi có quả vậy chăng.

— Tiên-sanh hãy thữ cho biết. Song mới thữ một lần chua thấy gì, vì bất câu là món chi ngọt, lạt, chua, cay, đều phải thữ đôi ba phen cho quen cái lưỡi thì mới rỏ mùi ngon. Khi uống nó vào rồi trong mình lần lần quên hết mọi đều trần tục, trí hóa rộng khơi, vượt khỏi chốn ta bà thế giái, mà lên cõi thiên thai, tiêu diêu khoái lạc vô cùng. Tiên-sanh hãy thữ lấy mà chiêm nghiệm.

Nam-tước lấy muổng mút cành-sa bỏ vào miệng nếm thữ mà nói rằng:

— Tôi chưa rỏ nó sẻ làm cho được tiêu diêu khoái lạc chăng, song nghe lại cái mùi nó chưa được ngon ngọt mĩ miều y như lời tiên-sanh nói.

— Phải, là vì mới thữ lần đầu thì tiên sanh làm sao biết nó mỷ vị. Vẫn tiên-sanh khi mới tập uống trà, uống rượu, uống ca-phe, thì ban đầu là hiểu chi đâu, chừng uống năm ba phen mới ghiền, mới mê. Chí như người la-mã đi lấy a-ngùy mà gia vị vào thịt trỉ, chệc ăn ổ yến, nghe thì rất khó hiểu, mà sao họ thấm ăn như vậy.

Ấy vậy tiên-sanh phải thữ ăn nó tám ngày thì mới thấm mới ghiền. Nay tôi mời tiên-sanh bước qua phòng bên kia đặng dùng ca-phe.

Mời khách rồi liền dạy Á-lý bâng ca-phe.

Chủ khách uống ca-phe rồi liền nằm lên ghế trường kĩ mà đàm luận.

Chủ hang nói:

— Tôi coi bộ tiên-sanh ưa du lịch nơi hướng đông, tôi đây thấy người phương đông rất lịch lãm, rất phong lưu, chừng công chuyện tôi muốn làm tại Ba-ri mà hoàn thành rồi thì chững tôi sẽ trở lại phương đông mà cư ngụ cho đến trọn đời. Chừng Tiên-sanh có muốn đi kiếm viếng tôi thì phải đến hoặc tại thành Bắc-đa hoặc thành It-ba-hăm mà đón tôi.

Khách lim dim trả lời rằng:

— Việc ấy chẳng khó chi, tôi nay dường như đã có mọc cánh rồi, tôi tưởng muốn đi vòng thế gian chừng một đêm một ngày thì giáp.

— Nếu vậy thì Tiên-sanh đã thấm thuộc Cằnh-sa rồi. Tiên sanh hãy dương cánh mà bay lên chốn thiên thương, có tôi coi chừng, chớ khá nghi tâm, chừng rủi mà Tiên-sanh bị hơi nóng mặt trời cháy cánh rớt xuống, thì có tôi hứng, không sao.

Chủ hang nói rồi liền dùng tiếng Á-rập dạy Á-lý bước ra ngoài mà chực việc,

Còn Nam-tước nằm thiêm thiếp nghe trong mình khoẻ khoắn vô cùng. Xác hồn nghe nhẹ nhàn và thông thần một cách lạ lùng; ngủ quang càng thêm cãm xúc nhặm lẹ; trong trí thấy trời trong gió mát, biển bạc thinh thinh; thấy mình ngồi thoan vởn vở nơi dòng nước bich; thủy thủ ca xoang, kình ngư đua dởn. Thoạt nghánh mắt thấy hòn vô chủ tương tợ một cụm mậu lâm ở giữa sa mạc, chớ không phải ở giữa hải dương. Lần lần thấy thoàn chạy vào gần bờ, còn thủy thủ thì càng thêm lên giọng hò khoan, nghe yêm tai khoái chí lắm. Rồi lại thấy thoàn ghé vào hòn, mình bước lên bờ mà chun vào hang, bạn bè còn cứ việc lý hát. Vía Nam-tước thấy Xim-ba bạn biển ra nghinh tiếp thấy Á-lý, đứng phục sự, đoạn vía lại thấy trong phòng có hình tượng rất khéo thình lình trở nên ba nàng tố-nữ chuốc hài huê xơm tới bên giường, trêu huê ghẹo nguyệt. Vía Nam-tước lấy làm lạ, sao hình đá cẩm thạch mà biết ghẹo người, đoạn áp lại mà hôn hít lăn xăn làm cho ngài nữa mừng, nữa sợ, nữa khoái, nữa lo.


  1. Thứ thuốc Cành-sa nầy trên Nam-vang và bên Xiêm thiên hạ dùng nó như á-phiện vậy. Nó là bông cây bố ở Thiên-trúc. Ai có việc buồn rầu hút nó thì quên hết mọi việc thế gian, trí khôn vượt lên chốn Xuân-đài mà tiêu diêu khoái lạc.