Bước tới nội dung

Tiền căn báo hậu/XXXIII

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Tiền căn báo hậu của Alexandre Dumas, do Kỳ Lân Các dịch
XXXIII. Quân ăn cướp Rô-manh

TIỀN-CĂN BÁO-HẬU
Bá-tước Mông-tê Cà-rít-tô sự tích
(Của ông Alexandre DUMAS cha soạn)
TRADUIT PAR

KỲ-LÂN-CÁC

CUỐN THỨ TÁM
In lần thứ nhì 1000 cuốn
Giá mỗi cuốn... 0$30

SAIGON
Imprimerie F.-H. Schneider
1915
前根報後 

Sách nào không có hình nầy là giả.

XXXIII
Quân ăn cướp Rô-manh

Nói về sáng ngày thứ Nam-tước thức trước, liền gỏ chuông gọi tữu-bảo. Chuông còn đang ngân mà đầu-gia đã chạy vào phòng, không đợi cho Nam-tước hỏi, liền vọt miệng nói:

Dạ, thưa Công-tử, hồi hôm tôi nói có quả không, không còn xe cộ gì hết, nhứt là trong ba ngày lể chót.

— Nhè ba ngày ấy mà mướng không được xe, mới ngặt cho chớ!

Tử-tước đờ Mọt-xép bước vào hỏi:

— Sao, chắc mướng không được xe sao?

Nam-tước nói:

— Đó, Công-tử coi, rồi làm sao mình du-ngoạn được.

— Nếu vậy cái thành Rô-ma mà thiên hạ kêu là Vạn-cỗ-thành nghe ra không đáng.

Đầu-gia không muốn cho khách tha-phương chê thành mình, bèn đáp rằng:

— Dạ, nghĩa là từ ngày sớm mai Chúa nhựt cho đến tối thứ ba thì không có thế nào mướng được xe, chớ từ đây đến đó Nhị vị Công-tử muống kiếm 50 cái cũng có mà.

Tử-tước nói:

— Như vậy cũng là còn khá, bữa nay là ngày thứ 5, thì từ đây đến Chúa nhứt có lẽ kiếm được mà.

Nam-tước nói:

— Chừng đó mới khó kiếm nữa, là vì bộ hành tứ phương đến cả muôn thêm.

— Thôi, ta chớ khá lo việc hậu lai, mình cứ việc đặng buỗi nào hưởng theo buỗi nấy.

— Mà ít nữa phải mình mướng được một cái cữa sổ thì còn khá.

— Cữa sổ đặng coi ra đâu?

— Coi ra Đại-đình-nhai chớ coi ra đâu!

Đầu-gia nghe luận vậy bèn nói:

— Phải đa, có thế nào mà mướng được. Tại đền Đô-ri-a còn sót lại một cái mà họ cho ông hoàng Nga-la-tư mướng mổi ngày là 20 đồng vàng.

— Nhị vị Công-tử nghe vậy sững sờ, chỉ lấy mắt nhìn nhau thôi, đoạn Nam-tước nói:

— Thôi, tôi tưởng chúng ta nên qua thành Huê-ni mà coi chưng cộ thì hay hơn, vì đó nếu mướng không được xe cũng còn có huê-lầu-thuyền.

— Không đâu, tôi đã quyết coi chưng cộ tại Rô-ma, thì dầu mướng không được xe, tôi sẻ dùng cây cà-khiêu mà đi coi cũng đành lòng.

— Ừ, ừ! Nếu không mướng xe được, mình sẻ đi cây cà-khiêu chơi, mặc y phục theo sấp chăn chiên ở tĩnh Lán-biển, hoặc là đội lốt dơi quạ, thì thắm lắm phải chơi đâu.

Đầu-gia hỏi?

— Vậy chớ Nhị vị Công-tử muốn mưóng xe đặng du-ngoạn từ ngày nay cho đến Chúa nhựt chăng?

— Làm sao không mướng, vậy chớ ngươi tưởng hai ta đây tính lội bộ như mấy bợm lôi thôi vậy sao?

— Tôi xin vâng lời Nhị vị Công-tử, song tôi phải chường cho Nhị vị Công-tữ hiểu: mổi ngày phải trả cho chủ xe 6 đồng bạc, họ mới chịu.

— Thôi đi, ta có qua chơi đây nhiều khi, đã biết giá cả xe ngày thường, ngày Chúa nhựt, và ngày lể rồi. Vẩn ta chẳng phải như tay cự phú ở lầu nầy, nên ta cho ngươi biết trước ta đành lòng mướng xe ấy ba ngày giá là 12 đồng, thì ngươi cũng còn lợi bộn bàn trong đó.

— Dạ, xin Nhị vị công-tử trả thêm.

— Thôi nà. Nếu ngươi còn đòi thêm, thì ta đi lại chủ xe mà định giá, vì ta quen thuộc với nó, từ thuở nay nó giựt của ta cũng nhiều, nay ta có trả ít hơn số 12 đồng thì có lẻ nó đành lòng, như rứa ngươi phải mất lợi đa, nói cho mà biết!

— Thôi, thôi! tôi đành giá ấy, xin Nhị vị công-tử hão tâm. Tôi ráng mướng xe tốt vừa lòng Nhị vị công-tử.

— Vậy mới là phải lẻ cho.

— Nhị vị công-tử muốn chừng nào xe phải lại đây?

— Trong một giờ đồng hồ nữa.

Da, thưa vâng.

Cách một giờ có 1 cái xe tầm thường đến đậu tại cữa. Ngày thường thì chắc bị chúng chê lắm. Mà trong ngày lể vì khó kiếm xe, bề gì nhị vị công-tử nếu mướng luôn đi chơi cho hết lể được thì cũng sẻ vừa lòng lắm.

Nam-tước đang đứng trên lầu dòm ra cữa sỗ, ở dưới lầu tên chấp tiên vói kêu:

— Thưa công-tử, xe đến rồi, phải đem xe lại đến cữa lầu chăng?

— Phải.

Nói rồi liền cùng Tử-tước đi xuống thang, ra cữa, lên xe mà ngồi. Chấp tiên liền hỏi.

— Nhị-vị công-tữ muốn đi ngã nào?

— Đi lại Đền-thánh rồi chạy ra Ký-trường.

Vẩn nhị vị công-tữ nói phóng ước, chớ không rõ Đền-thánh lớn nhỏ, phải một ngày trọn mới coi cùng các nơi, mà muốn coi kỷ thì phải một tháng trường. Nên nội ngày ấy nhị vị công-tữ đi coi Đền-thánh vừa đủ các nơi. Thình lình nhị vị công-tử mới hay trời đã tối rồi, bèn dạy chấp tiên trở về Lon-đon-lầu. Khi xe về tới nơi, Nam-tước dặn 8 giờ tối phải đem xe lại rước đặng đi coi Ký-trường vì tối có trăng.

Nhị vị công-tử vào nhà hàng dùng cơm. Cơm nước vừa rồi kế có đầu-gia lên. Nhị vị công-tử bèn hỏi:

— Ngươi lên đây nói chuyện mướng xe phải không?

— Dạ, không, tôi lên đây có ý cho nhị vị công-tử hay rằng: ban đêm mà tính đi viếng Ký-trường thì là một cuộc rất lộng hiểm.

— Lộng hiểm vì cớ nào?

— Vì ngoài thành có một gả ăn cướp hay chận đàng giết chúng mà giựt đồ, tên nó là Lui-gi huậm-ba.

— Đầu-gia kiếm chuyện nhát hai anh em ta, có lẻ đâu ngày nay mà tại Rô-ma còn ăn cướp như vậy nà?

— Dạ, tôi mô dám nhát nhị vị công-tử. Tôi sợ nhị vị công-tử bị hại, nên bỏ công việc lên đây cho chư-tôn hay.

— Nếu vậy thì thuật chuyện ăn-cướp cho anh em ta nghe.

— Dạ, thưa nhị vị công-tử, ở tại Rô-ma hể tối rồi thì chẳng ai dám rời khỏi cữa thành, vì hể ra đi cách chừng 50 thước mà thôi, thì đã bị ăn cướp nó chận đường mà giựt gói rồi.

— Nếu anh em ta đem súng theo, chắc chúng nó không dám làm hung.

— Dạ, từ thuở nay không ai dám cự lại với chúng nó.

— Vì sao vậy?

— Dạ, vì chúng nó đông, ít nữa 12 đứa, đều có đem khí giái theo, làm sao mà cự nỗi.

— Tên Lui-gi huậm-ba đó lớn hay nhỏ, già hay trẻ?

— Dạ, số là tôi có quen thuộc với va, nên để tôi thuật chuyện lại hết cho nhị vị công-tử tường.

— Mà nó trẻ hay già?

— Dạ, va còn trẻ. Số là ngày kia tôi bị bắt, mà may va nhớ lại có quen lớn, nên va tha và va có cho tôi một cái đồng-hồ trái quít đáng 3000 quan và thuật hết việc tâm sự cho tôi nghe.

— Mà nó cao hay thấp.

— Dạ, tác trang Tử-tước vậy. Vẩn tên Lui-gi huậm-ba thuở nhỏ ở chăn trừu cho Bá-tước đờ Xăn-phê-lích ở gần biễn hồ Ga-bà-ri. Cha va cũng là người chăn trừu. Tuy va hồi đó mới được 7 tuỗi mà có tánh cừ khôi. Ngày kia va đến nhà cha sở mà xin học. Mà học làm sao được, vì mắc giử trừu cho người. Cha sở thấy vậy thương bèn dạy nó rằng: Vốn mỗi ngày ta đi làm lễ tại nhà thờ Bọt-gô, như con muốn học thì phải dắc trừu ra đón đường, khi cha làm lễ rồi trở về sẻ dừng chơn lại mà dạy con một ngày một chút.

Thằng nhỏ mừng lắm, nên mỗi ngày hể khi cha sở đi làm lễ trở về thì thấy nó đón đường. Cha sở bèn ngồi lại bên bờ đường lấy sách kinh ra mà dạy nó đọc. Làm vậy được ba tháng thì thằng Huậm-ba đã biết đọc chử chạy vo. Nó bèn xin cha sở dạy nó viết. Cha sở bèn viết cho nó vần A-B ba thứ, và dạy nó kiếm đinh tập viết trên đá bùng. Làm như vậy được ba tháng Huậm-ba biết viết lão thông. Cha sở thấy con nít sáng dạ vậy liền cho nó giấy viết và 1 cây dao. Tám ngày sau thằng Huậm-ba biết cầm viết như chơi. Cha sở thuật chuyện ấy lại với Bá-tước Xăn-phê-lích thì Bá-tước kêu nó đến thử coi rồi dạy người quản-nghiệp phải mỗi tháng phát cho nó 2 đồng bạc và cho nó ăn cơm chung với các nô bộc khác.

Huậm-ba mỗi tháng lảnh lương đem ra chợ mua sách và viết chì. Mà thằng sao có hoa tay lạ quá. Hể nó thấy vật chi liền vẻ hình giống hệt, rồi lấy dao gọt cây mà tượng hình khéo lạ.

Trong cơn ấy có một đứa con gái nhỏ hơn Huậm-ba một tuổi, cũng chăn trừu gần đó, nó tên là con Tê-rê-xa mồ côi cha mẹ. Mổi bửa hai đứa thả trừu cho ăn chung một đồng rồi ngồi gần nhau mà chuyện vản chơi bời, chiều lại chuồng ai nấy đuổi trừu về, sáng ra lại hiệp nhau nữa. Làm vậy cho đến Huậm-ba được 12 tuổi, Tê-rê-xa được 11 niên, thì bổn tánh hai trẻ càng ngày càng phát lộ.

Tuy Huậm-ba, hay ưa chử nghỉa vẻ vời mà tánh tình quáu ráu, nóng nảy, giận dử và hay khi ngạo thiên hạ mặc lòng, chớ bầy trẻ trong xứ không đứa nào bỉ sử nó được, không đứa nào mà thân thiết với nó hết.

Chơi với ai thì muốn ở cửa trên, chẳng hề chìu ai, chẳng hay triếu ai, không dạ vì ai. Tóm lại một đều là nó bất cận nhơn tình. Song le hể Tê-rê-xa bảo chi thì nó vâng theo, muốn chi thì nó phải làm vừa ý. Còn Tê-rê-xa thì tánh tình mẩn thiệp, vui vẽ cả ngày, hằng lo trang điễm trau dồi. Tiền lương mỗi tháng của Huậm-ba, và tiền bán tượng, bán hình đều dùng mà mua hoa tai, cà rá, mua áo mua quần cho con nọ. Bỡi rứa cả xóm không ai ngộ hơn, có duyên cho bằng Tê-rê-xa vậy.

Hai trẻ cùng nhau đàm đạo trọn ngày ước mơ việc hậu lai. Huậm-ba thì ước sau lớn khôn sẻ làm chúa tàu, làm quan tướng quân, hoặc là làm quan Đô-đốc, còn Tê-rê-xa thì ước giàu sang, tôi trai mọi gái đầy nhà, lên vỏng xuống dù, lên xe xuống ngựa, ruộng ngàn khoảnh, bạc đây kho.

Ngày kia Huậm-ba nói với người Quản-nghiệp của ông bá-tước Xăn-phê-lích rằng có thấy chó sói ra rình trừu, nên quản-nghiệp phát cho nó một cây súng. Ngặt cây súng ấy đã hư bá, mà Huậm-ba không từ, bèn lãnh về làm bá khác chạm trỗ khéo lạ, nếu nó muốn bán, họ dám mua đến 20 viên bạc. Song vì Huậm-ba từ thuở có trí đã ước mơ cho được có một cây súng. Vì trong xứ nào bất câu hễ người mạnh bạo cang đãm thì hay ưa sấm súng. trước là hộ thân, sau lại săn bắn.

Từ đó Huậm-ba cứ lo tiền mua thuốc đạn, tập bắn, đụng vật chi cũng đều nhắm làm bia mà luyện tài. Chẳng khỏi bao lâu Huậm-ba bắn hay vô cùng, cả xứ đều nghe danh thì ai ai cũng kiên nể. Bởi vậy tuy Tê-rê-xa là gái xinh đẹp mà trai trong xứ không tay nào dám hó hé, vì Huậm-ba không vừa.

Tuy vậy mà hai trẻ không khi nào tỏ dấu hoặc nói ra rằng có tình thương nhau. Cùng nhau cứ việc chơi bời. Ngày lại tháng qua chẳng khác hai gốc cây tơ mọc gần nhau, đua nhau trổ nhánh, rể xen với rể dưới đất, nhánh lộn với nhánh trên không, hai đứa nay khó mà xa nhau, vì đã lân cận nhau hèn lâu, đã thành như đôi oan-ương, chư cập đỗ quyên (con quốc) rồi.

Tê-rê-xa khi ấy đã nên 2 tám, còn Huậm-ba đặng mười bảy xuân. Cũng trong lúc ấy thiên hạ đồn rằng tại núi Lệ-bi-ni có một đám ăn cướp tụ hội lập sơn trại mà cướp móc bộ hành. Tuy luật quan tại Rô-ma nghiêm nhặt mặc lòng, mà chẳng hề khi nào trừ tuyệt được. Vẩn tại thành Náp có một tên đầu đảng rất lung lăng, tên nó là Cự-cư-mê-tô, bị quan binh truy tầm quá, bèn chạy qua tị nạn nơi bờ sông Hà-ma-xinh mà tụ đảng. Trong xứ trẻ hoang nghe vậy đến nhập lỏa cũng nhiều.

Chẳng khỏi bao lâu Cự-cư-mê-tô danh thinh như sấm.

Ngày kia nó vào làng bắt con gái người. Mà luật riêng ăn cướp đã bày, hể đứa nào bắt được đờn ba con gái thì nó có phép hoang dâm trước rồi giao lại cho đám lâu la bắt thăm mà chuyền lao nhau cho đến chết mời thôi.

Như cha mẹ con gái ấy, hoặc chồng con giàu có, thì sai người đến chuộc, bằng thất tín thì khó toàn tánh mạng.

Vẩn đứa con gái bị bắt khi ấy tên là con Ri-ta, con một người Tri-lâm ở làng Phổ-xi-nôn, Vẩn khi trước nó đã có tư tình với một đứa lâu la trong đám ấy tên là thằng Cạt-li-ni.

Lúc ăn cướp bắt đem về sơn trại thì nó thấy Cạt-li-ni, nó liền xin cứu mạng. Song luật ăn cướp bày ra đã phân minh, khó nỗi trở tay. Mà bởi Cạt-li-ni là lâu la tâm phúc của chủ trại, đã có cứu Cự-cư-mê-tô một lần khỏi chết, nên còn trông cậy có lẻ chủ trại nghĩ tình mà dung cho tình-nhơn khỏi nhục chăng. Đang khi Ri-ta bị trói để ngồi dưới cội tùng, lấy hai tay bụm mặt mà thút thích, thì Cạt-li-ni kêu chủ trại đến góc rừng mà than thĩ.

Cự-cư-mê-tô nghe Cạt-li-ni khấc ai, coi bộ động lòng, bèn bảo va đi kiếm một đứa chăn trừu sai đi kêu Tri-lâm là cha Ri-ta đến biểu.

Cạt-li-ni mừng quá đổi, chạy lại kêu Ri-ta bảo phải viết thơ cho cha mà thuật sự tình rằng chủ trại dung cho khỏi nhục, song phải đem 300 nguyên bạc mà chuộc mạng, kỳ cho 12 giờ, nghĩa là qua ngày thứ, 9 giờ ban mai phải đem bạc đến sơn trại.

Ri-ta viết thơ trao cho tình-nhân, Cạt-li-ni cong lưng chạy riết ra ngoài đồng kiếm trẻ sai đem thơ cho Tri-lâm. Thường lệ ăn cướp phương nầy hay dùng trẻ mục đồng đem thơ cho thiên hạ. Cạt li-ni kêu được một đứa chịu lãnh thơ, hứa trong một giờ đi tới làng Phổ-xi-nôn.

Cạt-li-ni giao thơ rồi bèn chạy về mà báo tin cho Ri-ta hay. Té ra khi về đến đó thấy lâu la đang ngồi ăn uống đồ vật thực giựt cũa bá-tánh, còn chủ trại với Ri-ta thì đi đâu mất. Cạt-li-ni hỏi thăm lâu la vậy chớ hai người ấy ở đâu, lâu la vụt cười xòa làm cho Cạt-li-ni nghẹn ngào, hạn xuất triêm thân, đau lòng dường bị tên bắn thấu vào trái tim vậy. Cạt-li-ni hỏi nửa thì có một tên lâu la lấy ly rót đầy rượu trao cho nó mà nói rằng:

— Mi hãy uống ly rượu nầy mà chúc bá niên giai lảo cho chủ trại với nàng Ri-ta. Trong khi ấy Cạt-li-ni nghe tiếng Ri-ta la thì nó đã hiểu tình hình rồi, bèn giựt ly rượu đập vào bãn mặt thằng lâu la ấy rồi chạy đi cứu Ri-ta.

Chạy được chừng vài chục thước nó liền gặp chủ trại đang bồng Ri-ta chết giấc trên tay. Khi chủ trại thấy Cạt-li-ni, bèn bỏ Ri-ta xuống đất, đứng dậy mỗi tay cằm một cây súng sáu lòng. Chủ trại với Cạt-li-ni đứng nghinh nhau, một đàng thì đắc chí hân hoan, vì đã ô dâm được nàng Ri-ta rồi, một đàng thì nộ khí xung thiên, vì tình-nhơn mình bị nhục. Thấy như vậy ai cũng tưỡng hai đàng thệ bất đồng lập, té ra lần lần Cạt-li-ni nguôi lòng, thã tay, buông súng mà dững dưng. Khi ấy mặt trăng đang tỏ rạng chiếu vào cảnh ấy, thấy ở chặn giữa thì nàng Ri-ta đang nằm dưới đất bất tĩnh nhơn sự, bên kia chủ trại đang thủ thế, còn bên nọ Cạt-li-ni đứng sửng như trời trồng.

Chủ trại bèn nói với Cạt-li-ni rằng:

— Sao, mầy đã cho trẻ đem thơ cho Tri-lâm hay chưa?

— Tôi đã sai mục đồng đi rồi, mai sáng 9 giờ Tri-lâm sẻ đem bạc đến đây.

— Vậy thì tốt. Nay ta nên vui chơi một đêm, vì con nhỏ nầy có duyên lắm, thật tao khen mầy biết lựa tình-nhơn đa. Song tao không phải tham hương, tiếc ngọc một mình, để tao dắc nó về trại cho bây bắt thăm mà vần công với nhau, ấy là cuộc chủ trại và lâu la cùng nhau cọng lạc.

— Thế thì chủ trại đành lòng giao Ri-ta cho lâu la xài vần công hay sao?

— Không lẻ ta phải bỏ luật chung mà vị nàng Ri-ta vậy?

— Tôi tưởng vì chủ trại thấy tôi khẩn cầu mà...

— Mầy với lâu la cùng nhau đồng thể, chả phải hơn chúng bậc nào, mà ta phải chổ chừa chổ đẽo kìa?

— Chủ trại nói nhằm lẻ.

— Song mầy phải giữ lấy bổn phận, chẳng kíp thì chầy phiên mầy sẻ tới.

Cạt-li-ni khi ấy nghiến răng gần bễ.

Chủ trại nói:

— Thôi, hãy theo ta về trại. Đi hay không?

— Tôi đi.

Chủ trại và đi và coi chừng Cạt-li-ni, vì sợ nó bắn lén, song thấy nó không có bộ làm quấy như vậy, mà cứ đứng gần bên cội tùng khoanh tay nhìn trân Ri-ta. Chủ trại thấy vậy nghi dạ, sợ Cạt-li-ni bồng Ri-ta chạy trốn chăng. Song chủ trại vì đã phỉ nguyện rồi không thèm vỉ tới, vả lại số bạc 300$ mà chia sả ra cho lâu la thì mỗi đứa chẳng được là bao nhiêu, nên va cứ việc bỏ đi về trại. Nhưng khi chủ trại mới bước chưn vào rào thì liền thấy Cạt-li-ni đã theo kịp bén gót.

Lâu la thấy chủ trại về bèn la:

— Bắt thâm, bắt thâm!

Cả đám và la và nhảy nhót xoang qua đảo lại nhấp nhán trước ngọn lửa coi ra tuồng như là quỉ ở dưới địa ngục đang tấm lửa vậy.

Chủ trại gặt đầu ừ, lâu la bèn xúm nhau viết tên mỗi đứa bỏ vào thùng, thậm chí tên Cạt-li-ni cũng không chừa, rồi bảo tên lâu la nhỏ tuổi hơn hết thò tay vào mà bắt một tấm đem ra. Thâm thứ nhứt là tên Gia-huô-la-xi-ô là tên lâu la bị Cạt-li-ni đập ly rượu vào bản mặt đó, xẻ một đường che hẻ từ màng-tang tới miệng, máu còn đang chảy ròng ròng.

Gia-huô-la-xi-ô thấy mình được độc đắc mừng la ó dậy, rồi nói rằng:

— Thưa chủ trại, hồi nảy Cạt-li-ni chê tôi, không chịu cụng ly với tôi, nay xin chủ trại bảo nó cụng ly chúc mừng cho tôi, có lẽ nó vị chủ trại mà cụng chăng.

Ai nấy trông Cạt-li-ni rầy coi chơi, té ra Cạt-li-ni tĩnh táo như thường, bèn lấy ly rót rượu cụng với Gia-huô-la-xi-ô mà nói:

— Tao chúc mừng cho mầy.

Cụng ly rồi uống róc một hơi, đoạn ngồi xuống mà nói với lâu la:

— Nay giờ tao chạy mệt quá bây giờ đói bụng, còn đồ ăn cho tao ăn với.

Lâu la bèn vổ tay khen rộ, đoạn áp lại đống lữa mà ăn uống, còn Gia-huô-la-xi-ô thì chạy ra ngoài đi kiếm Ri-ta đặng gầy cuộc mây mưa.

Cạt-li-ni cứ việc ăn uống như thường, mặt không có sắc buồn.

Lâu-la thấy vậy lấy làm lạ lắm, kế nghe sau hè có tiếng khua động, có người muốn vào trại, lâu-la day lại thì thấy Gia-huô-la-xi-ô bồng Ri-ta bước vô. Ri-ta nằm trên tay Gia-huô tóc tai dã dượi, đầu cổ chôm bôm. Khi Gia-huô đi vào gần lữa thì lâu-la thấy rỏ nàng Ri-ta mặt xanh như chàm, còn Gia-huô diện mạo thất sắc. Ai ai cũng đều kinh khũng, đứng dậy mà dòm, còn Cạt-li-ni cứ việc ăn uống như thường, không động dụng chút nào. Gia-huô cứ việc bồng Ri-ta đi đến gần chủ trại, để nàng nằm xuống đất dưới chưn chũ trại, thì lâu-la mới rỏ là nàng Ri-ta đã bị đâm một dao giữa ngựt, cây dao hởi còn cậm dính đó, thì lâu la dòm Cạt-li-ni, thấy vỏ dao đeo theo mình nó trống trơn. Chũ trại liền hỏi:

— Nếu vậy thì bây giờ ta mới hiễu vì cớ nào mà Cạt-li-ni ở náng lại không về một lược với ta rồi.

Thường lề quân giã-man hể thấy ai mạnh bạo, cang đảm thì hay phục, tuy trong đám lâu-la ít đứa dám làm như rứa, mà cả thảy đều hiểu đây là Cạt-li-ni tra tay đâm nàng Ri-ta, chớ chẳng ai đâu.

Cạt-li-ni thấy vậy liền lấy tay vịnh súng bước tới mà nói rằng:

— Trong đám lâu-la còn ai dám tranh lấy nàng Ri-ta chăng?

Chủ trại nói:

— Không, nay nó thuộc về phần mầy trọn.

Cạt-li-ni bèn ôm xốc thây Ri-ta mà vát đi ra khỏi trại.

Chủ trại liền dạy lâu la phân khắc vọng canh như mổi ngày, đoạn đi ngũ, lâu-la cũng đi kiếm chổ ngũ chung quanh đống lữa.

Qua nữa đêm thình lình ba vọng canh truy hô, thì chủ trại và lâu-la thức dậy ráo mà dự bị. Đây là Tri-lâm cha nàng Ri-ta đem bạc đến mà chuộc con. Tri-lâm bước vào trại trao cho chủ trại một gói bạc 300 đồng mà nói rằng:

— Tôi đem bạc nầy mà chuộc con tôi, xin chủ trại trã con Ri-ta lại cho tôi đem về nhà.

Chủ trại không thọ lảnh cũa ấy bèn bảo Tri-lâm theo ra ngoài. Chủ trại dắc ông già đi một hồi gặp Cạt-li-ni đang ôm thây nàng Ri-ta ngồi dưới cột tùng, thì nói với Tri-lâm rằng:

— Ngươi hãy bảo Cạt-li-ni trả con Ri-ta lại cho ngươi.

Nói rồi bỏ về trại.

Ông già đứng đó sững sờ, nghi trong lòng chắc đây có cuộc đại họa. Ông già ráng gượng đi lại gần cội tùng mà xem cho hãn dạ.

Khi Cạt-li-ni nghe ông già đi gần đến, bèn ngước đầu lên thì ông già mới thấy mặt con, vì hồi nảy Cạt-li-ni cứ ôm đầu Ri-ta vào ngực chặt cứng.

Cạt-li-ni cũng nhìn biết là ông già bèn nói rằng:

— Nãy giờ tôi đợi ông.

Ông già dòm cận thấy con mình bị chết đâm bèn la lớn:

— Sao mầy cã gan dám giết con tao?

— Vì chủ trại đã cường dâm Ri-ta. Vẫn tôi là tình-nhơn cũa Ri-ta, thấy vậy chịu không nỗi, bèn giết chết Ri-ta, vì nếu để nó sống thì nó sẻ bị đám lâu-la thay phiên dâm loạn.

Ông già nghe nói sững sốt, mặt mày tái xanh mà không thốt một lời. Cạt-li-ni nói:

— Nếu tôi làm vậy mà quấy thì ông xữ tội tôi.

Nói rồi cúi rút cây dao ra khỏi ngực Ri-ta, một tay trao dao cho ông già, một tay giở áo mà bảo ông già đâm ngay ngực,

Ông già nói:

— Mầy giết chết Ri-ta như vậy là phải lẻ, lại đây cho cha hôn con.

Cạt-li-ni chạy lại ôm ông già mà khóc tắm tức tắm tưởi. Tự thuở nay mới thấy thằng ăn cướp nầy khóc đây là thứ nhứt.

Ông già nói.

— Thôi, nín đi, để giúp cha chôn cất thi hài Ri-ta cho rồi sẻ hay. Cạt-li-ni chạy đi kiếm hai cây cuốc đào lổ chôn nàng Ri-ta, rồi lấy nhánh tòng đậy mả.

Tống táng rồi ông già nói:

— Cha cám ơn con, thôi con hảy đi, đễ cha một mình ở đây.

— Dạ, song le......

— Con hãy nghe lời cha.

Cạt-li-ni nghe lời chạy về trại, lấy mền đấp trùn mà ngũ như thường vậy.

Song hôm qua chủ trại có dạy phải dời trại qua chốn khác, nên hừng đông nhứt lâu-la đã thức dậy rồi.

Qua hừng đông nhì cã đoàn kéo ra đi. Cạt-li-ni trước khi từ biệt chổ ấy, muốn đi thăm mã Ri-ta mà coi ông già còn ở đó chăng. Té ra khi nó đến gần mộ Ri-ta thì thấy ông già đã cột giây lên nhánh tùng mà thắt cổ tòn ten trên mả con mà chết rồi. Cạt-li-ni bèn thề với vong linh cha con nàng Ri-ta sẻ chẳng chung đội trời với chủ trại.

Song cách hai ngày đám ăn cướp bị quan binh vây, bắn chết Cạt-li-ni, bỏ mạng không giử được lời thề. Mà có một đều lấy làm lạ, là Cạt-li-ni đang đấu chiến với quan binh sau lại bị đạn ai ở sau lưng bắn tới mà chết.

Có một đứa lâu-la nói hồi Cạt-li-ni ngã chết thì thấy chủ trại đứng sau nó cách chừng 10 thước. Số là khi Cạt-li-ni đi viếng mộ Ri-ta mà gặp thây ông già thắt cỗ, bèn đứng đó mà thề chẳng chung đội trời với chủ trại, thì hồi đó chủ trại rình nghe rỏ, nên mới tính tra tay trước cho dức đều hậu hoạn.

Họ còn nói nhiều chuyện tàng bạo cũa tên chủ trại nầy nữa,

Bỡi ấy cho nên cả xứ khi nghe tên Cự-cư-mê-tô thì ai cũng rởn ốc, rùn mình.

Hằng ngày thằng Huậm-ba và con Tê-rê-xa thường hay nói chuyện ấy với nhau luôn.

Tê-rê-xa khi nghe nói chuyện dữ tợn vậy thì sợ, Huâm-ba dổ dành bảo đừng lo, vì nó có tài bắn bá phát bá trúng, không sao đâu mà phải kinh hải.

Song xuân lại thu qua, hai trẻ càng ngày càng triếu nhau, nên cùng nhau đã thệ hãi minh san rằng: hể Huậm-ba 20 tuổi, Tê-rê-xa 18 xuân thì sẻ cùng nhau phối hiệp duyên lành, vì cả hai đều là con mồ côi, không cần phải xin phép ai, một cho hai chủ nhà hay thì đũ. Đúng kỳ hai trẻ đã kết duyên cang lệ.

Ngày kia vợ chồng đang bàn luận việc trình đồ, bổng nghe đàng xa có ai bắn lại 2, 3 tiếng súng, rồi thình lình thấy ở trong bụi gần đó có một người chạy ra, lại gần vợ chồng mà nói rằng:

— Họ kiếm bắt tao, hai đứa bây giấu giùm tao được chăng?

Vợ chồng nghi tên nầy là một tay ăn cướp, song trong xứ Rô-ma người điền phu hay mến kẻ cướp móc, hể gặp dịp thì không từ nan. Huậm-ba bèn chạy lại hang đá cũa mình, giở cửa hang mà chĩ cho tên ấy chun vào đó trốn, rồi đậy cữa lại mà đi ngồi gần Tê-rê-xa đàm đạo như thường.

Cách một lát có 4 lính mã-kị ở trong rừng chạy ra, ba tên dòm ngó giáo giác tứ phía, còn một tên thì đang dẩn một tên tội nhơn mới bắt được dọc đường, Ba tên mả-kị thấy vợ chồng Huậm-ba liền chạy lại hỏi dọ. Chúng nó khai không thấy gì hết. Ba tên lính bèn nói:

— Cha chả uổng lắm, vì tên ăn cướp chúng ta đang kiếm bắt đây là chủ trại.

Vợ chồng vùng hỏi:

— Có phải là Cự-cư-mê-tô chăng?

— Phải, nhà nước hứa hể ai bắt được thì sẻ được thưỡng 1000 đồng vàng, như bây biết nó trốn đâu, hảy chĩ ra thì ta chia cho bây 500 đồng.

Vợ chồng ngó nhau, ba tên lính thấy vậy tưởng đã đắc kỳ sở nguyện rồi. Song Huậm-ba nói:

— Vợ chồng tôi muốn lãnh thưởng lắm chớ, song không thấy, biết đâu hòng chĩ.

Ba tên lính nghe nói vậy bèn bỏ đi đáo soát cùng xứ mà kiếm không có, lần lần bỏ đó đi mất.

Huậm-ba bèn chạy lại mở cửa cho chủ trại ra. Vẩn chủ trại khi ngồi trong hang dòm kẹt cữa thấy vợ chồng trẻ nhỏ không chịu nộp mình, nên va bèn lấy ra một túi vàng mà đền ơn cố cập.

Huậm-ba từ chối không chịu lấy, còn Tê-rê-xa thì ngó túi vàng thèm lem lẻm. Chủ trại dòm thấy biết ý, nên khi từ giã ra đi, chủ trại cứ ngó ngoái lại sau mà xem nàng Tê-rê-xa hai ba lần rồi mới bỏ đi mất. Hèn lâu không nghe ai nói đến tên chủ trại nữa.

Kế ngày chưng cộ đã gần tới, chủ nhà Huậm-ba là ông Bá-tước Xăn-phê-lích nói ngày ấy tại nhà ngài sẻ có bày cuộc múa hát (khiêu-vỏ), nam thanh nử tú sẻ tề tựu tại đó mà khoe duyên khoe tài.

Huân-ba bèn xin phép ông chủ nhà cho vợ chồng nó trà trộn theo sấp nô bộc đi coi lể chơi. Ông chủ nhà chịu cho.

Cuộc bày ra đây là ông chủ nhà có ý làm vừa lòng con gái mình là tiểu-thơ Cạt-mê-la, một trang với Tê-rê-xa mà Tê-rê-xa tuy con nhà hàn vi chớ nhan xắc không kém chi tiểu-thơ phân nào.

Đến ngày khiêu-vỏ nàng Tê-rê-xa mặc áo tốt, trang điểm phấn dồi. Huậm-ba cũng mặc áo tốt. Vợ chồng trà trộn với đoàn nô bộc.

Trong đền chưng diện hựt hở, thiên hạ đô hội đến chơi. Đúng giờ khiêu-vỏ thì đâu đó có đôi, ôm nhau mà nhảy nhót. Song tiểu-thơ xem lại thì thiếu một đôi, bèn ngó chung quanh coi có ai xứng mặt đặng chọn mà mời vào. Kiếm hồi lâu không được, ông chủ nhà bèn nhớ trực đến Tê-rê-xa, nói cho tiểu-thơ hay, tiểu-thơ cho người đi mời. Huâm-ba tánh hay ghen, mà cực chẳng đã phải cho vợ ra đứng bắt cập nhảy múa với con nhà trâm anh phiệt-duyệt. Vợ đang nhảy múa thì chồng đứng ngó lườm lườm. Chừng bận múa thứ nhứt đã mãng, Huậm-ba kéo vợ đi mất. Qua bận thứ nhì tiểu-thơ cho trẻ đi kiếm Tê-rê-xa mà kiếm không đặng.

Khi vợ chồng về đến chổ nghĩ, thì Huậm-ba hỏi vợ rằng: Sao, mầy múa hát vậy vui không?

— Tôi không vui, vì áo quần tôi hèn hơn thiên hạ.

— Còn thằng trai bắt cập với mầy mà nhảy múa đó, nó nói cái chi với mầy vậy?

— Nó nói: nếu tôi muốn giống chi, miễn là ừ một tiếng thì sẻ được như ý.

— Phải, vậy thì mầy muốn áo quần tốt như đồ tiểu-thơ vậy chăng?

— Sao không muốn.

— Để tao kiếm cho.

Tê-rê-xa nghe nói vậy lấy làm lạ, lồm cồm chờ dậy mà dòm mặt chồng, thì thấy cập con mắt nó trợn trắng, bộ tướng hung bạo lắm, nàng ta thất kinh còn Huậm-ba chờ dậy bỏ đi ra ngoài.

Đêm ấy không biết ai đốt mà phòng tiểu-thơ phát cháy. May nhờ có người leo lên cứu tiểu-thơ khỏi chết, mà cả phòng cháy rụi. Ông chủ nhà bảo nô bộc tìm kiếm người cứu tiểu-thơ mà đền ơn, song kiếm hết sức mà không biết ai. Chủ nhà vẩn là người cự phú, nên cháy bao nhiêu không tiếc, miển là con mình còn sống thì thôi.

Sáng ra vợ chồng Tê-rê-xa cũng cứ cùng nhau dắc trừu ra đồng. Tê-rê-xa nhớ chuyện hồi hôm mà buồn. Huậm-ba thình lình nhắt lại chuyện hôm qua mà rằng:

— Hồi hôm mầy nói muốn cho được một cái áo như tiểu-thơ vậy phải không?

— Phải.

— Rồi tao hứa sẽ cho mầy phải không?

— Phải, rồi sao?

— Vậy thì mầy hãy đi với tao vào hang mà xem.

Nói rồi Huậm-ba đi mỡ cữa hang thì Tê-rê-xa thấy hai bên bàn có cặm hai cây đèn cầy đốt sáng lòa, chính giữa có treo 1 tấm kính, trên bàn có để một xâu chuổi trân-châu, có trâm giắc đầu nhận ngọc kim-cang và áo quần các món giống hệt đồ của tiểu-thơ mặc đeo ban đêm khiêu vỏ.

Tê-rê-xa thấy vậy mừng quính chưa kịp hỏi cũa ấy chồng làm chi có, bèn chạy vào hang mà thay đổi áo xiêm, đeo chuổi, giắc trâm lăn xăn.

Đang khi ấy Huậm-ba thấy trên chót nổng có người cỡi ngựa chạy tới, nó bèn mau mau đóng cữa hang mà đứng ngoài. Người ấy đến hỏi thăm đường đi. Huậm-ba bèn nói:

— Đây nhiều ngã đi lắm. Nếu tôi không đi chĩ cho, thì chắc người phải lạt đường.

Khách nói:

— Vậy thì ngươi hãy ra ơn mọn giúp ta.

Huậm-ba dắc khách tới ngã tư mà chỉ đàng rồi thì khách móc bạc cắt cho Huậm-ba thì nó nói rằng:

— Tôi vẫn làm ơn, chớ không bán ơn đâu.

— Nếu vậy thì xin ngươi hãy dụng hai đồng vàng nầy đem về làm hoa-tai cho vợ ngươi được không?

— Cái đó được, mà tôi xin người hãy thọ lãnh cây đao đây, cáng nó chạm khéo lắm, ít ai có.

— Nếu vậy thì ta phải mang ơn ngươi, vì cây đao nầy đáng giá hơn 2 đồng vàng của ta rồi.

— Như người ta thì vậy, chớ tôi đây thợ chạm hay, cai cáng ấy đáng chừng 1 đồng bạc mà thôi.

— Ngươi tên chi?

— Tôi tên Lui-gi Huậm-ba.

— Ta tên là Xim-ba bạn-biễn.

Nam-tước nghe đầu-gia Lon-đon-lầu nói đến tên đó bèn sực nhớ chuyện trong hang ở hòn vô chủ mà rằng;

— Thiệt là Xim-ba bạn-biển sao?

Đầu-gia nói:

— Ấy là tên người khách xưng ra như vậy.

Tử-tước đờ Mọt-Xêp nói:

— Có chi làm lạ sao mà Công tử hỏi vậy. Bất quá thì va đồng tánh với tiên-bối xưa hay đi châu-lưu khách địa thôi.

Nam-tước không cải với Tử-tước, chỉ bão đầu-gia thuật tới nghe chơi.

Đầu-gia nói:

— Khi khách đi rồi thì Huậm-ba bỏ hai đồng vàng trong túi cách lơ là mà về hang. Đi còn vài trăm thước gần tới hang, thình lình nó nghe vợ nó la: Ớ anh ôi, lại cứu tôi, thì nó ngó lại thấy ai ôm vợ nó mà chạy lên nổng. Nó tính khó bề rượt theo kịp, nó bèn rườn súng bắn một phát, tên bắt vợ nó nhào dụi xuống đất, vợ nó thì lăng cù ra xa. Nó nghi bắn nhằm vợ chăng, lật đật chạy lại ôm vợ mà hỏi, té coi lại thì không sao, nhìn kỷ thì mới biết người bắt vợ nó đó là chủ trại Cự-cư-mê-tô. Số là từ ngày chủ trại nhờ vợ chồng Huậm-ba mà khỏi chết, bèn sanh khối tình thương nhớ Tê-rê-xa là vợ Huậm-ba, nên thừa dịp đến bắt đặng đem về sơn trại mà ân ái. Ai dè cao nhơn tất hửu cao nhơn trị, nay bị mặt mày vùi cát mà hồn vía ra ma, thây phải quạ ăn.

Huậm-ba bèn lột áo quần của Cự-cư-mê-tô mà mặc vào đặng cho xứng với Tê-rê-xa đã mặc và đeo đồ cũa Tiểu-thơ là con chũ nhà đó vậy.

Ai khi ấy mà đi ngan qua đó mới lấy làm lạ, là vợ chồng thằng chăn trừu sao nay lại ăn mặc quá hàng trâm anh như thế.

Huậm-ba bèn nói với vợ rằng:

— Nay mầy bằng lòng cùng tao hoạn nạn tương cứu, sanh tữ bất ly chăng?

— Bằng lòng.

— Ấy vậy ta hảy bỏ đây mà đi lập tức.

— Đi đâu thì tôi cứ theo anh mãn nhứt đại thôi.

Nói rồi vợ chồng dắc nhau đi kiếm sơn trại cũa Cự-cư-mê-tô. Vợ chồng vạch bụi, tuôn bờ hèn lâu mới tới vọng canh thứ nhứt. Ăn-cướp thấy dạng đi bèn rườn súng hỏi đi đâu. Huậm-ba nói:

— Đi kiếm sơn trại có chuyện.

— Hãy đi theo ta đây.

Lâu la dắc vợ chồng lên sơn trại thì có phó chủ trại ra khách, hỏi đi có chuyện chi, Huậm-ba nói:

— Vẩn tôi đã nhàm nghề chăn trừu, muốn nhập lỏa với bọn ông.

— Ta lấy làm mừng lắm.

— Song tôi không phải đến đây mà làm lâu la thường vậy đâu.

— Vậy chớ ngươi muốn làm chức gì?

— Tôi chỉ muốn làm chánh chủ trại thôi.

— Ngươi có tài nghề công cán chi mà dám đèo bòng chức cao dường ấy?

— Vẫn tôi đã giết chết chủ trại ông rồi. lấy áo quần đang mặc trong mình đây, tôi đã đốt phòng tiểu-thơ là con chủ nhà tôi mà lấy đồ nữ trang cho vợ tôi mang đó.

— Ấy vậy thì đủ lẻ, đáng mặt làm chủ trại mà cai quản chúng ta rồi.

Nam-tước nghe nói tới đó bèn hỏi Tử-tước: Sao Công-tử tin chuyện vậy chăng?

— Tôi tưởng là chuyện huyển hoặc thôi, mà đầu-gia, ngươi nói tên Huậm-ba nầy đang đón đường bộ hành ngoài thành Rô-ma mà cướp móc phải không?

— Dạ, phải, nó dạn dỉ vô cùng.

— Sở tuần cảnh có thử bắt nó chăng?

— Bắt sao được, vì nó thông đồng với các tiều-phu, các mục đồng, các tay chài lưới, các bợm buôn lậu và ăn cướp tàu Ô. Nay nghe nó ở chổ nầy, mai nghe nó ngụ chổ khác, khó biết chắc nó ở hà phang.

— Còn cách nó đải bộ hành ra thể nào?

— Hể nó bắt được ai thì tùy đường về nhà xa gần mà kỳ cho có giờ đam bạc đến chuộc mạng, bằng trễ thì bị nó giết ngay.

Nam-tước hỏi Tử-tước:

— Như thế thì công-tử còn muốn đi viếng Diễn-trường chăng.

— Sợ gì không đi.

Tử-tước nói vừa dức lời thì có chấp tiên lên lầu thưa rằng xe đã đến cữa rồi.

Nam-tước và Tử-tước xuống lầu lên xe mà ra khỏi thành Rô-ma. Hồi đó là 9 giờ tối, trăng thanh gió mát, phải thì du ngoạn.