Tiền căn báo hậu/XXXIV
XXXIV
Mường tượng XIM-BA BẠN BIỂN
Nói về nhị vị Công-tử 9 giờ tối nhơn dịp trăng thanh gió mát ngồi xe đi ra khỏi thành Rô-ma mà đi coi Diển-trường là một tòa nhà thuở xưa dân La-mã cất ra làm rạp rất rộng lớn để cho thú dữ đấu vỏ. Khi đi dọc đàng Nam-tước cứ nghi ngại trong lòng hoài, nghe đầu gia Lon-đon-lầu thuật chuyện Huậm-ba mà có xen tên Xim-ba bạn biển vào mà nhứt là chặn Huậm-ba quen thuộc với các kẻ chài lưới, các con buôn lậu và bọn ăn cướp tàu ô, thì ngài có lòng lo lắng, tư lự, bồi hồi, bán tính bán nghi, vì cách mấy ngày trước Nam-tước đã nghe thấy rỏ ràng Xim-ba bạn biển im ẩn hai tên sát nhơn cọt, chở đem nó về xứ đặng trốn quan. Vã lại Xim-ba bạn biển khi đãi Nam-tước trong hang cũng có nói rằng hay đi cùng khắp các nơi. Nam-tước nhớ đến các việc thì trong lòng càng nghi cho Xim-ba bạn biển làm đầu đảng cướp. Song khi xe chạy gần tới Diển-trường các việc tư lự trong lòng Nam-tước bèn bay mất, vì tòa nhà nầy rất đồ sộ. Khi xe chạy đến đậu trước đền thì ở đâu không rỏ có một người ở trong tối bước ra xin tiến dẩn quí khách đi xem Diển-tường. Vã lại Đầu-gia Lon-đon-lầu có cho người đi theo nhị-vị công-tử đặng dẩn lộ, nay lại có thêm một đứa nữa thì thành hai gã. Vẩn tại Rô-ma khách du-lịch phương xa đến chơi khó mà tránh quân ấy lắm. Chúng nó hay vởn vơ các khách sạn, các chốn thiên hạ ưa xem đặng làm nghề dẩn lộ mà độ nhựt. Hể thấy khách phương xa đến thì nó áp đến mà dưng công, chẳng khác nào quân xe kéo và vạn đò Saigon vậy, cứ việc đeo buổi theo mình cho đến khi mình ra về thì mới buông tha thôi.
Nói về Diễn-trường nầy là một cuộc đồ sộ thế gian không chổ nào bằng. Nam-tước đã đến đây xem 4 phen rồi, còn Tử-tước mới đến đây lần đầu. Khi bước vào đền lấy làm lạ lùng quá đổi, thấy tòa ngang dãy dọc nhiều lớp nhiều lang, chẳng biết bao nhiều mà kể; công chạm trỗ khéo lạ không ngòi viết nào tả nỗi, phải có thấy mới tưởng tượng được, vì trí con người khó mà tưởng tượng cuộc chưa tường.
Khi nhị-vị công-tữ vào đến trung điện thì thấy nóc đền lâu đời đã mục sập, bày lổ trống thấy trời xanh, trống một lổ lớn chẳng khác nào thiên-tỉnh trong các phố cao chừa ra cho khí trời lọt vào vậy. Có phong-lan, mộc-nhỉ và dây cát đằng mọc cùng, yến sáng mặt trăng giọi vào xem ra rất u nhàn đồ sộ.
Nam-tước khi ấy để cho hai tên dẩn lộ dắc Tử-tước đi xem cùng cho biết, còn ngài thì đứng trong bóng tối mà chiêm nghiệm. Thoạt nghe có đá ở trên lầu té xuống. Nam-tước dực mình ngó tứ hướng, chợt thấy một người sẻ lén trên thang bước xuống đi nhẹ nhàng dường như có ý chi đó.
Tuy người ấy cứ ẩn theo bóng tối mặc dầu mà nhờ yến sáng trăng giọi nên Nam-tước xem được y phục và tướng tá quả là một vị quới-tộc trâm anh, hoặc là nhà thượng-lưu.
Người ấy coi bộ trông ai nên ngó giáo giác mà kiếm. Thình lình trên từng trên Nam-tước nghe có người đi, một hồi lại thấy có bóng người đến chổ lổ thiên-tỉnh dòm xuống, hấy người quới-tộc đứng chờ dưới nầy, bèn nắm dây các đằng chuyền mà xuống, đi đến gần người đứng dưới mà nói rằng:
— Dạ, thưa Đại-nhơn, có khi tôi làm cho Đại-nhơn nãy giờ phải chờ đợi tôi chăng. Tôi đi trể chừng vài phúc, vì đồng hồ nhà thờ La-trăn mới gỏ 10 giờ đó.
— Ấy là tại ta đến đây trước giờ kỳ ngộ chớ chẳng phải tại ngươi đến trể, ta cũng tưởng là tại ngươi mắc chuyện nên mới đến trể chút đỉnh.
— Dạ, tôi phải đợi tại khám Xanh-tăng-rờ mà năn nỉ hết hơi mới nói chuyện được với tên Bếp-bô.
— Bếp-bô nào?
— Dạ, Bếp-bô là người giúp việc trong thiên-lao, tôi mỗi tháng có châu cấp tiền bạc cho nó đặng rõ biết công chuyện trong khám.
— Như thế thì ngươi là một tay rất cẩn thận.
— Dạ, ở đời phải tiên phòng, biết đâu may đâu rủi, nếu ngày kia tôi bị lọt vào khám như thằng Bếp-bi-nô, thì sẻ có người trợ lực đặng thoát vòng lao lý chớ.
— Vậy thì ngươi đã rỏ được việc chi?
— Dạ, Bếp-bô nói với tôi rằng ngày thứ ba nhơn cuộc chưng cộ sẻ chém hai tên tù xử tữ tại Rô-ma, ấy là lệ thường xưa nay mỗi năm hằng có vậy. Hai đứa tội-nhơn bị chém đó, sẽ một đứa tên là Rông-dô-lô là đứa đã cả gan giết thầy cả là cha nuôi của nó, thiệt là đáng kiếp, khó thương. Còn tên thứ nhì là thằng Bếp-bi-nô, thiệt rất tội nghiệp quá.
— Tại bây quá quắc chẳng những làm cho Giáo-hoàng Chánh-phủ phải kinh khủng, mà các nước lân cận cũng đều sợ hải, nên chánh phủ phải làm gương thị chúng.
— Dạ, Bếp-bi-nô nó không phải lâu-la của bọn tôi. Nó là đứa chăn trừu, quan bắt tội nó sao đi cả gan lén đem đồ ăn cho chúng tôi dùng trong lúc bị quan binh vây nghẹt.
— Như thế thì nó là đứa đồng lõa với bây, còn gì nữa hòng chối. Song le quan còn vị nó, dùng gươm máy mà chém, chớ phải quan bắt được chúng bây thì chắc họ đập chết. Vả lại chém gươm máy vậy đặng cho dân xem chơi luôn thể, vì ở đời chẳng thiếu chi là cuộc chơi thú vị.
— Các cuộc chơi thú vị ấy chưa đủ vui, tôi đang tính bày cuộc thú vị thêm cho dân coi chơi luôn thể.
— Đây chắc là ngươi toan làm đều chi quấy nữa đây chẳng sai?
— Dạ, tôi sẵn lòng đều chi cũng sẽ dám làm, đặng cứu thằng Bếp-bi-nô, vì nó có lòng trung hậu với tôi mà bị nạn, nay không lẻ tôi đành lòng bỏ nó. Nếu không vậy thì tôi sẻ hổ thầm với lương tâm tôi lắm.
— Ngươi tính làm cái gì đó?
— Dạ, tội sẻ đặt hai chục tên võ-sĩ đứng chung quanh giàng chém đó, hể lính dẩn thằng Bếp-bi-nô tới nơi, thì tôi ra lịnh, chúng nó liền rút đao ra, áp lại đoạt tù.
— Ngươi bày kế đó nghe ra lộng hiểm, chẳng bằng cái mưu của ta đang trù nghĩ đây.
— Dạ, mưu của Đại-nhơn thể nào?
— Ta tính dùng 1 muôn đồng bạc đi hối lộ một ông quan kia đặng xin đình để qua sang năm hể chém Bếp-bi-nô, rồi ta dùng 1 ngàn đồng hối lộ với ngục-tốt cho nó vượt ngục.
— Đại-nhơn tưởng làm vậy chắc thành công chăng?
— Chắc như ba bó một giạ.
— Dạ, xin Đại-nhơn cắc nghĩa.
— Khó gì mà không hiểu, vẩn bây thì hay dùng gươm đao súng ống làm ngang, chớ ta chỉ dùng tiền bạc im hơn. mà hay hơn, vì đa kim ngân phá luật lệ. Ấy vậy bây nên để cho ta tính cho.
— Song, nếu Đại-nhơn làm mà không thành công, thì chúng tôi cũng sẵn lòng thi kế.
— Bây cứ đề phòng, song le ta chắc làm sẻ nên việc.
— Dạ, mốt đây là ngày thứ ba, còn có một ngày nữa, Đại-nhơn chớ quên.
— Phải, mà 1 ngày có 24 giờ, mỗi giờ có 60 phút, mỗi phút có 60 sao, nội trong tám muôn, sáu ngàn, bốn trăm sao đồng hồ thì thiếu gì giờ mà làm công chuyện cho nên.
— Nếu Đại-nhơn tính được, làm sao cho chúng tôi hay?
— Khó gì, vẫn ta đã mướng ba cái cữa sổ tại nhà hàng Rốt-bô-li mà xem cộ. Nếu ta làm thành việc thì hai cữa hai bên ta treo vãi vàng, còn cữa giữa treo vãi trắng có đính chữ thập đỏ.
— Dạ, vậy được. Mà Đại-nhơn tính cho ai đem giấy rỗi đến giao cho tã đao đình thủ.
— Ngươi hãy sắm sẳn cho ta một đứa giã dạng thầy tu, lãnh tờ rỗi đem đến giao cho tã đao.
— Dạ, Đại-nhơn đã rõ lòng tôi rất trung hậu với Đại-nhơn chưa?
— Đã rõ lắm.
— Mà nếu Đại-nhơn cứu được bếp-bi-nô khỏi nạn, thì chung thân tôi sẽ vâng phục Đại-nhơn luôn.
— Hể nói ra thì phải gia lấy, vì ngày kia có lẻ ta cần dùng đến ngươi đa.
— Dạ, tôi dám thề khẩu tâm như nhứt, dầu đường xa muôn dặm mà Đại-nhơn ra lịnh chi, nếu phải muôn thác, tôi chẳng hề từ nan.
— Nầy, ta nghe hơi có ai khua động bên đây.
— Dạ, đó là khách tha phương họ rọi đuốc đi xem Diển-trường, không sao đâu.
— Tuy vậy mà ta không nên cho họ thấy ta nói chuyện với ngươi ở chốn nầy, vì mấy thắng dẫn lộ hay lẽo mép e sợ thiên hạ họ hay ta quen thuộc với ngươi mà ta mất danh tiếng chăng?
— Dạ, nếu Đại-nhơn xin được giấy rổi thì...
— Thì ta treo vãi trắng ở cữa sỗ giữa có đính chữ thập đỏ.
— Còn như việc bất thành?
— Thì ba cữa đều treo vãi vàng cả ba.
— Như thế thì...
— Thì bây phải ra tay, ta ở đó mà xem tài bây ra thể nào.
— Dạ, tôi xin kiếu Đại-nhơn.
Nói rồi tên ấy bỏ đi, còn Đại-nhơn thì lấy lúp trùm mặt, đi ngan qua chỗ Nam-tước đang núp bóng nghe lóm mà xuống sân.
Cách một chút nghe Tữ-tước ở đàng xa kêu, Nam-tước không dám lên tiếng gấp, chờ cho hai người đi xa, tuy là Nam-tước không thấy mặt, chớ đà rõ biết tâm sự của họ rồi.
Nam-tước khi lên xe thì tâm thần bất-định, Tữ-tước luận bàn việc chi, nói năng đều gì, Nam-tước không nghe, không hiễu đến, dầu hiễu cũng không cãi, vì để lòng mà suy nghĩ đến việc mình mới nghe thấy tại Diển-trường đó.
Trong hai người đến đó nói việc tâm sự thì chắc có một người ỡ tại xứ nầy, còn người kia tuy là giấu mặt, song giọng nói Nam-tước nhớ mày mạy có nghe rồi một lần, lời tĩ hứng, tiếng khinh khi tại Diển-trường của người ấy nghe ra chẳng khác nào với lời tĩ hứng, tiếng khinh khi tại hang ở hòn vô chu.
Bỡi ấy Nam-tước chắc đây chẳng phải là ai, mà quả là Xim-ba bạn biển ở hòn vô chủ thôi.
Chí như Nam-tước mà gặp Xim-ba bạn biển trong cơn khác thì chắc sẻ chường mặt, song ngặt gặp va đang nói chuyện riêng. Mà Nam-tước gìn lòng nếu sau mà gặp Xim-ba bạn biển lần nữa, thì sẻ chẳng bỏ qua đâu.
Cã đêm Nam-tước ngũ không yên, cứ trần trọc suy nghĩ việc trước chuyện sau thì chắc ý rằng người ở Diển-trường với người ở hang hòn vô chủ cũng là một, là Xim-ba bạn biển đây. Chắc việc rồi bèn ngũ, nên bữa ấy Nam-tước thức dậy trưa lắm.
Tữ-tước thì thức dậy sớm đi lo mua giấy đặng tối coi hát, Nam-tước mắc viết thơ về Pháp-quốc nên đễ xe cho Tữ-tước dùng cã ngày.
Chiều lại năm giờ Nam-tước mới thấy Tữ-trước về đem thơ cũa anh em viết gởi gấm mình cho các nhà trâm-anh tại Rô-ma và giấy coi hát, thiệp mời ăn tiệc v. v.
Tối lại Nam-tước và Tữ-tước cùng nhau đi coi hát. Nam-tước đã có hưỡng cuộc đời nhiều rồi nên ít diện, còn Tử-tước mới lớn lên đang tự đắc, háo thắng, tưởng hể qua đến Rô-ma thì đờn bà con gái sẽ mê mặt, nên ngài diện một cách hẵn hòi. Khi vô đến rạp thì ngài hay dùng ống dòm mà nhắm tứ hướng, song không cô nào thèm liết mắt mà vỉ đến ngài.
Chừng vãng xuất nhứt Nam-tước liết thấy một cô kia đã quen tại Ba-ri, tưỡng là còn ở bển, nay sao lại qua bên nây, bèn lồm cồm đứng dậy ngó, Tữ-tước thấy vậy hỏi:
— Công-tữ biết cô ấy sao?
— Tôi quen, Công-tữ coi cô ấy có duyên chăng?
— Có duyên lắm, cha chã tóc tốt thiệt. Cô nầy phải là người Lang-sa chăng?
— Không, cỗ là người Huệ-ni.
— Tên chi, ha Công-tữ?
— Cô nầy là Bá-tước R... phu-nhơn.
— Tôi có nghe nói. Họ nói cổ đã có nhan sắc mà lại thông minh trí huệ. À tôi nhớ tôi có gặp cổ tại nhà ông đờ Huynh-pho một lần. Thiệt bậy quá, sao khi ấy tôi quên lững, không lại gần xin làm quen.
— Công-tử muốn cho tôi tiến-dẩn chăng?
— Sao lại không muốn, mà công-tử có quen thuộc với phu-nhơn lắm sao mà đòi tiến-dẩn tôi?
— Tôi có nói chuyện với cô ấy ba, bốn lần, thì tôi tưởng nay tôi có tiến-dẩn công-tử cũng không thất lể đâu.
Khi ấy Bá-tước R... phu-nhơn thấy Nam-tước bèn giơ tay làm dấu chào, Nam-tước cúi đầu đáp lể.
Tữ-tước thấy vậy bèn nói:
— Nếu vậy thì công tữ đã quen thuộc nhiều đây mà.
— Không quen thuộc chi nhiều, vì tánh tình đờn bà các nước, khác hơn tánh tình đờn bà nước mình. Chớ thấy quen vậy mà tưởng là có phong tình huê-nguyệt rồi mà lầm.
— Quen tình phải không?
— Không, quen nghĩa thôi.
— Thôi, xin công-tữ hảy tiến-dẩn tôi.
Nói rồi đứng dậy sữa soạn tóc tai rồi lấy nón đi theo Nam-trước. Khi đến chổ Bá-tước R.. phu-nhơn ngồi thì Nam-tước gỏ cữa bước vào tiến-dẩn Tữ-tước rằng là người ở Ba-ri, con nhà phong lưu phiệt duyệt rằng ở Ba-ri không được đến kính chào phu-nhơn, nên nay cậy mình tiến-dẩn.
Phu-nhơn cười và mời nhị vị công-tữ ngồi. Đang khi Tữ-trước chuyện vãng với phu-nhơn thì Nam-tước lấy ống dòm mà xem các giàng thì thấy trong phòng kia có một dự giai-nhơn ăn mặc theo cách Hy-lạp ngồi trước, phía sau lưng có một người đờn ông ngồi núp trong bóng tối, Nam-tước bèn hỏi thăm Bá-tước R... phu-nhơn có biết cô ấy chăng, người sao mà mỷ-miều quá-vậy?
Phu-nhơn nói:
— Tôi không quen thuộc, song từ ngày khai trường hát cho đến nay đã được một tháng, thì đêm nào tôi cũng thấy cô ấy ngồi chổ đó luôn, khi thì có người đờn ông ngồi sau lưng đó đi theo, khi thì có một đứa nô-bộc đen theo hầu.
— Phu-nhơn tưởng cô ấy đúng nhan sắc chăng?
— Thiệt là tuyệt sắc giai-nhơn.
Nói rồi cười xòa, đoạn phu-nhơn đàm đạo với Tữ-tước, còn Nam-tước cứ lấy ống dòm xem cô ấy mãi.
Xuất nhì khởi hát. Nam-tước mắc coi trên sân khấu, chừng day lại chổ phòng cô Hy-lạp ngồi bèn thấy người đờn ông ngồi sau lưng nãy giờ đứng dậy, quả là chủ hang ở hòn vô chủ đây, tướng tá giống hệt người hồi hôm đứng tại Diển-trường mà nói chuyện riêng với ăn cướp đó.
Nam-tước bèn day lại hỏi phu-nhơn:
— Phu-nhơn có biết người chồng cô Hy-lạp đó chăng?
— Không.
— Hổm nay phu-nhơn không có ý xem người ấy sao?
— Thói I-ta-li không có vậy, cứ biết tình-nhơn mình, chớ không hề biết đến ai nữa.
— Dạ, tôi quên, xin chịu tội.
— Đâu nà, đưa ống dòm tôi xem thữ... Cái người sao in xác chết mới sống lại vậy, mặt mày xanh lét như mặt ma kià?
— Diện mạo như vậy lâu nay không hề đổi.
— Té ra công-tử có quen thuộc người đó, thì hảy nói cho tôi rỏ là ai.
— Tôi nhớ có gặp người nầy một lần, tướng tá hồi đó làm sao thì bây giờ cũng vậy, không khác chút nào.
— À phải, người như vậy, hể thấy một lần thì trí khôn ta nó bắt nhớ luôn chẳng hề quên được. (Phu-nhơn và nói và dùn mình).
— Phu-nhơn tưởng người ấy sao?
— Tôi tưởng người ấy là ma-lai[1] (vampire).
— Để tôi đi coi cho biết người ấy là ai.
— Xin công-tử chớ đi, tôi tính cậy công-tử đưa tôi về nhà.
— Phu-nhơn sợ hay sao?
— Làm sao không sợ, giống ma-lai nó ngổ lắm. Bi-rông tiên-sanh có tả diện mạo ma-lai cho tôi nghe một lần, nay mặt mày tướng tá người nầy giống hệt ma-lai.
Công-tử mai sẻ đi tìm kiếm người ấy mà coi. Còn tối nầy phải ở đây đặng vãng hát đưa tôi về.
Mà thôi, đễ tôi về bây giờ, công-tử đưa tôi đi, vì ở nhà có khách.
Nghe phu-nhơn nói vậy Nam-tước khó từ nan, bèn lấy nón đưa phu-nhơn về nhà. Khi về đến nơi không thấy khách. Nam-tước phiền. Phu-nhơn cười và nói:
— Tôi thấy mặt người đó tôi sợ quá, nên kiếm chuyện nói cho công-tữ đưa tôi đi về.
Nam-tước mĩn cười. Phu-nhơn thấy vậy nói:
— Chuyện nầy không nên cười, tôi khuyên công-tữ hảy về ngũ rồi mai hể đi kiếm, vì tôi sợ công-tữ còn vấng vít bóng vía tôi mà chuyền hơi cho ma-lai nó đánh mùi làm khốn tới tôi chăng.
Phu-nhơn nói rồi từ giã công-tữ vào phòng đóng cữa mà ngũ. Nam-tước đi về Lon-đôn-lầu thấy Tữ-tước đã về trước thay đồ mát nằm ghế phô-tơi mà hút thuốc xi-gà, khi thấy Nam-tước về bèn ngạo rằng:
— Tôi tưởng Công-tữ sáng mới về.
— Công-tữ thiệt là cổ quái lắm! Cứ nghi cho đờn bà hay cống-độ làm sao chớ. Hổm nay hỏng việc hoài mà chưa bỏ cái tư tưởng sai siễn như vậy.
— Thấy vậy làm sao không lầm, họ nói to nhỏ với mình, họ nắm tay mình, họ cười mín chi với mình, họ biểu mình đưa họ về nhà, rồi ăn trợt thiệt là kỳ, chớ chi đờn bà Ba-ri mà làm như thế thì còn gì là duyên.
Đờn bà xứ nầy vậy hết, chớ không phải là cuộc huê ghẹo bướm đâu, mà hồi nảy công-tữ không thấy phu-nhơn kinh khủng sao?
— Kinh khủng cái gì, cái người đứng sao lưng cô Hy-lập đó là người thường nhơn như ta vậy, ăn mặc đàng hoàng, diện mạo có hơi xanh, như vậy mới ra mặt nhà phong lưu chớ, tôi muốn diện mạo tôi được cái màu xanh như vậy mà không được, cái gì lại sợ.
— Mà công-tữ có lại gần xem kỉ, nghe giọng nói ra thể nào chăng?
— Va nói tiếng Hy-lập.
— Thôi, quả rồi.
— Quả cái gì?
Nam-tước không trả lời mà lại hỏi:
— Hồi tôi đưa phu-nhơn về nhà, công-tữ ở lại có đi đâu không?
— Không, tôi đi lại gần dòm cho rỏ người ấy là ai, rồi về đây nảy giờ nằm trù nghĩ một chuyện ngộ quá,
Chuyện chi ngộ quá nói nghe coi.
— Số là, mấy bữa rày hai anh em mình kiếm mướng xe, mướng ngựa hoài mà không được, phải không?
— Phải.
— Ấy vậy tôi trù nghỉ mình nên mướng một cập bò, một cái xe, sơn diện bông lá, treo tòng, kết tụi, rồi mình bận áo quần như con gặt ở thành Nấp, nếu phu-nhơn R.... chịu giã làm đờn bà ở xứ Xo-răn thì coi ra rất đẹp như trong tượng ông Lê-ô-bôn Rô-lu đã tả cảnh vậy, vì phu-nhơn R... có sắc, thay mặt giã làm bà Thần-tình được.
— Công-tữ trù nghĩ việc nầy hay lắm, ngộ lắm, phải chơi đâu, mà công-tữ có bày vẻ ra cho ai nghe chưa?
— Có, tôi có kêu đầu-gia lên bảo va đi kiếm mướng bò và xe và bảo sơn thếp sừng bò bằng nước vàng, mà sừng bò thì đầu-gia nói sơn lâu lắm.
Mới nói vừa tới đó kế đầu-gia chạy vô nói:
— Chào nhị vị Công-tữ.
— Sao, mướng được xe và bò chưa?
— Dạ, tôi có một việc hay hơn mà cho nhị-vị công-tử rỏ.
— Việc chi hay hơn?
— Dạ, số là ông Bá-tước đờ Mông-tê Cà-rít-tô bảo tôi mời nhị-vị công-tử dùng xe ngài và dùng cữa sổ của ngài mướng đặng coi lễ luôn.
— Bá-tước đờ Mông-tê Cà-rít-tô nào?
— Dạ, là ông cự phú mướng cả từng nhì đây.
— Vậy sao. Mà sao ông ấy không viết thiệp mời anh em ta?
Nói vừa đến đó kế có người đem thiệp vào mà nói rằng: Bá-tước đờ Mông-tê Cà-rít-tô sai tôi xin phép nhị vị công-tử đặng sáng mai ngài đến viếng nhị vị công-tử mà thù tạc cái nghĩa ở lân cận nhau. Xin nhị vị công-tử định giờ nào tiếp khách.
Nhị vị công-tử đáp:
— Ấy là đủ lể, không có lổi phải gì được nữa. Vậy thì ngươi hảy thưa lại Bá-tước rằng, chúng ta mai sẻ đến viếng Bá-tước mà cám ơn ngài có lòng cố cập.
Tên sai-nhơn nghe nói vậy xá mà kiếu đi ra.
Tử-tước nói với đầu-gia.
— Đầu-gia nói không sai, thiệt Bá-tước cữ chĩ rất đúng lễ và rất hậu tình.
— Mà công-tử chịu dùng xe ngài đặng đi du ngoạn chẳng?
— Chịu chớ, song ta còn tiếc cái xe bò, mà vì có được cữa sỗ thì cũng bù lại được. Song không biết Nam-tước công-tử chịu chăng?
— Tôi cũng một ý với Tử-tước công-tử.
Nam-tước nghe nói Bá-tước mời lên cữa sổ lầu Rốt-bô-li mà coi cộ thì lấy làm khoái chí, vì đêm đi xem Diển-trường có nghe sự kỳ hẹn Xim-ba bạn biển nói với người kia về hiệu lịnh rỗi tù xữ tử, được cùng chẳng được sẽ làm cách nào. Nếu quả người gặp tại Diễn-trường là chủ hang hòn vô chủ thì chánh là Bá-tước đờ Mông-tê Cà-rít-tô dùng hai tên giã ấy mà mai danh ẩn tích chớ chẳng ai đâu. Nam-tước hứa thầm rằng sẻ ráng sức nhìn xem cho hản dạ.
Cả đêm Nam-tước không ngũ cứ suy nghĩ các việc dị thường đã mắt thấy mà lại tai nghe. Chuyến nầy nếu Bá-tước đờ Mông-tê Cà-rít-tô có phép hiện hình thì mới thoát khỏi mình cho.
Tử-tước không rỏ duyên do, cứ việc ngũ thằng giấc hoè.
Vừa sáng ra Nam-tước rung chuông kêu đầu-gia lên hỏi rằng:
— Nghe nói bữa nay có chém tù xữ tử phải không?
— Dạ, phải, mà nếu Công-tử hỏi đặng mướng cữa sổ mà coi thì trể rồi.
— Nếu ta muốn xem cho khoái chí, ta sẽ lên núi Bình-xi-ô mà coi lựa phải đi mướng cữa sỗ chi cho mất công.
— Ấy là Công-tử không muốn đi chen lấn với dân giã.
— Có lẻ ta không đi, song ta muốn hỏi thăm ít đều: Bửa nay quan dạy chém mấy đứa, tên gì, họ gì, chém hay là đập chết?
— Dạ, họ mới đem bãn rao đến đây, có đũ tên họ và cách xữ tử ở trỏng, và bảo thiên hạ phải đọc kinh siêu độ cho chúng nó.
— Ngươi cũng sẽ đọc kinh siêu độ sao?
— Dạ không, số là tôi có dặn quân đi treo bãn, hoặc dán yết-thị hể có đều chi xin đem lại cho nhà hàng tôi, phòng khi quí khách có hỏi cho có mà nói.
— Thiệt ngươi là người biết cách tiếp khách lắm đó.
— Dạ, tôi tận lực mà làm vừa lòng quan khách luôn.
— Ta sẻ cao rao việc nầy cho thiên hạ rỏ. À. bản rao đâu cho ta xem thữ.
— Dạ, có đây;
Lời Châu tri,
Cho các sắc nhơn dân đặng hay: Ngày 22 Février nhằm ngày thứ ba trong tuần lể nầy là ngày lể chưng cộ, y theo án tòa Tô-ta, sẻ xữ tử tại sân Dân-đình những tù kễ tên ra sau đây:
1° Tên Rông-đô-lô vì tội giết thầy cả ở nhà thờ La-trăn.
2° Tên Bến-bi-nô vì tội đồng lõa với đầu đãng ăn cướp là Lui-gi Huậm-ba và sấp lâu-la sơn trại.
Tên thứ nhứt sẻ bị xữ đập chết.
Tên thứ nhì sẻ bị trãm quách.
Các nhà đạo đức hãy cầu nguyện cho chúng nó ăn năn thống hối thật tình.
Vẩn Nam-tước tại Diển-trường đã có nghe hai người lạ mặt nói cùng nhau như thế. Nay quả có vậy chẳng sai chạy chút nào.
Chắc tên ở trên lầu nắm dây chuyền xuống đất đó là Lui-gi Huậm-ba, còn người đứng chờ nó dưới thềm là Xim-ba bạn biển, là người hay có lòng bát ái, dầu ở đâu cũng cứ việc đi cứu tù tội bị án nặng đem về làm bộ hạ.
Nam-tước suy nghĩ rồi ngó lại thấy đồng hồ đà 9 giờ bèn chạy vô kêu Tử-tước, té mới day mặt lại thì thấy Tử-tước ăn mặc đàng hoàng bước ra, hỏi đầu-gia:
— Chừng nầy hai anh em ta qua viếng Bá-tước đờ Mông-tê-cà-rít-tô được chăng?
— Dạ, được, vì Bá-tước thức sớm lắm.
— Chừng nầy đi viếng ngài sợ e vô lể chăng?
— Dạ, không đâu.
— Vậy thì anh em ta nên qua đó.
— Dạ, đi thì đi.
Hai anh em bước qua khỏi đường thông hành thì đã tới cữa phòng Bá-tước rồi. Đầu-gia chạy trước rung chuông, có nô-bộc ra mỡ cữa. Đầu-gia nói:
— Nhị vị công-tử Lang-sa xin vào thăm Bá-tước.
Nô-bộc cúi đầu mời vào.
Hai anh em bước vào phòng thấy chưng diện rực rở, chẳng thiếu chi là đồ quí lạ; nô-bộc thưa:
— Xin nhị vị công-tử ngồi, đặng tôi vào thưa lại cho Bá-tước hay.
Hai anh em đang trầm trồ khen các đồ mà nói nhỏ với nhau, thoạt ở trong Bá-tước bước ra, Tử-tước bước tới chào, còn Nam-tước đứng chết trân, vì người bước ra quả là chủ hang ở hòn vô chủ, cũng là người đứng nói chuyện kín tại Diển-trường, mà lại là người đứng sau lưng cô Hy-lập tại rạp hát hồi hôm nữa.
- ▲ Ma-lai ở xứ mình hay ưa ăn phẩn, chớ ma-lai ở bên Tây ưa hút máu người.