Trang:Au hoc khai mong.pdf/29

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trang này đã được phê chuẩn.
— 6 —

sự trưởng tắc thuận. Trung thuận bất thất dĩ sự kỳ thượng, nhiên hậu năng bảo kỳ lộc vị, nhi thủ kỳ tế tự; cái sĩ chi hiếu dã. — 2. Thi viết: Túc hưng dạ mị, vô thiểm nhỉ sở sanh.

Thứ nhơn chương đệ lục.

1. Dụng thiên chi đạo, phân địa chi lợi, cẫn thân tiết dụng, dĩ dưởng phụ mẫu. Thử thứ nhơn chi hiếu dã. Cố tự thiên tử chí ư thứ nhơn, hiếu vô chung thỉ, nhi hoạn bất cập giả, vị chi hữu dã.[1]

Tam tài chương đệ thất.

1. Tăng tử viết: Thậm tai, hiếu chi đại dã! — 2. Tử viết: Phù hiếu, thiên chi kinh dã, địa chi nghĩa dã, dân chi hạnh dã. Thiên địa chi kinh, nhi dân thị tắc chi. Tắc thiên chi minh, nhơn địa chi lợi, dĩ thuận thiên hạ. Thị dĩ kỳ giáo bất túc nhi thành, kỳ chánh bất nghiêm nhi trị. Tiên vương kiến giáo chi khả dĩ hóa dân dã; thị cố tiên chi dĩ bác ái, nhi dân mạc di kỳ thân; trần chi dĩ đức nghĩa, nhi dân hưng hạnh; tiên chi dĩ kỉnh nhượng, nhi dân bất tranh; đạo chi dĩ lễ nhạc, nhi dân hòa mục; thị chi dĩ háo ố, nhi dân tri cấm. — 3. Thi vân: Hích hích sư Doản! dân cụ nhỉ chiêm.


phụng sự kẻ lớn thì (được) thuận. Lòng trung lòng thuận chẳng lỗi (chẳng sai), mà phụng sự người bề trên mình; vậy sau giữ được (bổng) lộc cùng (tước) vị mình và giữ (việc) mình tế tự; ấy là lòng thảo của kẻ sỉ (hàng quan nhỏ) vậy. — 2. Kinh thi rằng: Sáng ngày dậy, bang đêm ngũ, khỏi (cho) nhục (tới) người sanh (ra) ngươi!

Bài kẻ thứ nhơn, thứ sáu.

1. Dùng theo phép trời (mùa màn), chia theo lợi đất (thổ nghi), giữ mình, tính (việc) dùng, đặng mà nuôi cha (nuôi) mẹ; ấy (là lòng) thảo của kẻ thứ nhơn (người thiên hạ) vậy. (Cho) nên từ vì thiên tử (con trời là vua) cho tới kẻ thứ nhơn (chúng dân), hiếu không được trọn sau vẹn trước, mà họa hoạn chẳng đến ấy, là chưa có đều đó vậy.[1]

Bài về Trời, Đất với Người, thứ bảy.

1. (Thầy) Tăng tử rằng: (Lòng) thảo thì là lớn lắm! — 2. (Đức phu) tử rằng: Vã chăng lòng thảo (là lẻ) thường trời (sanh) vậy, (là đều) phải nghĩa đất (sinh) vậy, (là tánh) nết dân (có) vậy. Lẻ thường trời đất, mà dân (thì) phải bắt chước đó. Bắt chước sự sáng (trên) trời, cứ theo việc lợi (dưới) đất, mà êm trong thiên hạ, ấy là việc mình dạy chẳng gắt mà nên, việc mình trị chẳng nhặc mà yên. Các vì vua trước thấy việc dạy nó cải (lòng) dân được vậy, ấy nên lấy lòng rộng thương làm trước đó, mà dân chẳng ai bỏ sót người thân mình; lấy đức nghĩa mà bày đó, mà dân dấy (theo) hạnh (tốt); lấy lòng kính nhường làm trước đó, mà dân chẳng tranh; lấy việc lể nhạc (hòa nhã) dắc đó, mà dân (được) hòa (được) êm; lấy đều ưa đều ghét mà bia đó, mà dân biết (sự) cấm. — 2. Kinh thi rằng: Chói chói (thế) sư (họ) Doản, dân đều xem ngươi!


  1. a ă Trịnh thị viết: Thỉ tự thiên tử, chung ư thứ nhơn, tôn ti tuy thù, hiếu đạo đồng trí, nhi hoạn bất năng cập gỉa, vị chi hữu dã. – Phạm tổ võ viết: Thứ nhơn dĩ dưởng phụ mẫu vi hiếu; tự sỉ dỉ thượng, tắc mạc bất hữu vị, sỉ dĩ thủ tế tự vi hiếu, khanh đại phu dĩ thủ tông miếu vi hiếu, chư hầu dĩ bảo xả tắc vi hiếu, chí ư ái kỉnh chi đạo, tắt tự thiên tử chí ư thứ nhơn, nhứt dã; thỉ ư sự thân, chung ư lập thân giã, hiếu chi chung thỉ, tự thiên tử chí ư thứ nhơn, hiếu bất năng hữu chung hữu thỉ, nhi họa hoạn bất cập giã, vị chi hữu dã. Thiên tử bất năng hình tứ hãi, chư hầu bất năng bảo xã tắc, khanh đại phu bất năng thủ tông miếu, sĩ bất năng thủ tế tự, thứ nhơn bất năng dưỡng phụ mẫu, vị hữu tai bất cập kỳ thân giả dã.