5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
34. Bãi bỏ các khoản 7, 12 và 14 Điều 3; Điều 6; khoản 2 và khoản 3 Điều 14; Điều 15; Điều 16; Điều 17; khoản 4 Điều 18; Điều 19; Điều 20; Điều 22; Điều 23; khoản 4 Điều 24; Điều 25; Điều 27; khoản 5 Điều 29; khoản 2 Điều 37; Điều 41; khoản 4 Điều 45; khoản 2 và điểm b khoản 4 Điều 54; điểm b khoản 2 Điều 89; Điều 90; Điều 91. Bãi bỏ Điều 96 và thay thế cụm từ “tại Điều 96 của Luật này” tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 95 thành “của Chính phủ”.
Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 42 như sau:
“Điều 42. Điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên
1. Doanh nghiệp được công nhận áp dụng chế độ ưu tiên khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Tuân thủ pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế trong 02 năm liên tục;
b) Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hằng năm đạt mức quy định;
c) Thực hiện thủ tục hải quan điện tử, thủ tục thuế điện tử; có phần mềm hoặc hệ thống công nghệ thông tin quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp kết nối hoặc chia sẻ với cơ quan hải quan;
d) Thực hiện thanh toán qua ngân hàng;
đ) Có hệ thống kiểm soát nội bộ;
e) Chấp hành tốt quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán.
2. Doanh nghiệp được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố là doanh nghiệp công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao; doanh nghiệp thực hiện dự án công nghệ chiến lược; doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn, dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo; doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm phụ trợ trực tiếp trong công nghiệp bán dẫn được công nhận áp dụng chế độ ưu tiên khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều này.
3. Doanh nghiệp ưu tiên thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ có ký thỏa thuận công nhận lẫn nhau về doanh nghiệp ưu tiên với Việt Nam được áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định của Luật này.