a) Thực hiện ủy thác tư pháp của nước ngoài theo quy định của Luật này;
b) Xem xét, quyết định dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù hoặc từ chối dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo quy định của Luật này;
c) Tiến hành các hoạt động tương trợ tư pháp khác theo thẩm quyền;
d) Báo cáo kết quả thực hiện tương trợ tư pháp cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh để tổng hợp, báo cáo Tòa án nhân dân tối cao.
2. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
a) Xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo thẩm quyền;
b) Báo cáo kết quả thực hiện tương trợ tư pháp cho Tòa án nhân dân tối cao.”;
m) Bãi bỏ khoản 2 Điều 63.
12. Thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 4 Điều 33, khoản 3 và khoản 4 Điều 34 của Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14.
13. Thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 3 Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24 tháng 6 năm 2025./.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI