— 15 —
Văn-tế và Văn-khấn

Văn tế (hoặc khấn) ông bà[1] cha mẹ khi làm lễ tang
Ngày... tháng.... năm... tôi[2] tên... vâng lời[3]... cùng cả nhà lớn nhỏ cúi xin dâng hương hoa dầu rượu kính cáo trước linh vị[4]..... rằng: nhân vì[5].....
Trộm nghĩ: đức cả sinh thành, công tây hóa-dục, một phút bể dâu trăm năm sương móc. Tưởng nhớ âm dung, ngậm ngùi thương khóc, lễ điện ba tuần, ruột sầu chín khúc.
kính cáo.
- ▲ Cha mất rồi mà gặp tang ông bà thì cháu phải đứng chủ tang vào làm chủ lễ.
- ▲ Cha mẹ cùng mất rồi thì tự xưng là cô ai-tử. Mẹ mất mà cha còn thì tự xưng là ai-tử. Cha mất mà mẹ còn thì tự xưng là cô-tử. Cha mất rồi đứng chủ tang ông bà thì tự xưng là thừa trọng tôn.
- ▲ Gặp tang ông, cha mất rồi mà bà và mẹ còn thì nói vâng lời bà và mẹ. Tang mẹ mà còn cha thì nói vâng lời cha. Tang cha mà còn mẹ thì nói vâng lời mẹ. Không còn ai là người trên trong nhà nữa thì thôi không phải nói vâng lời ai.
- ▲ Tang ông thì kêu cố-tổ-phụ tên.... tự.... hiệu..... Tang bà thì kêu cố-tổ-mẫu tên.... tự.... hiệu... Tang cha thì kêu cố phụ tên.... tự... hiệu..... Tang mẹ thì kêu cố mẫu tên.... tự.... hiệu....
- ▲ Lễ nhập quan thì nói nhân vì đến giờ nhập quan nên cáo lễ vậy. Lễ thành phục thì nói nhân vì ngày nay thành phục nên cáo lễ vậy. Lễ đem táng thì nói nhân vì ngày nay đem táng nên cáo lễ vậy. Lễ ngu (ba ngày) thì nói nhân vì tống táng xong rồi, phụng an thần vị, nên cáo lễ vậy. Lễ trăm ngày thì nói nhân vì ngày nay đến trăm ngày nên cáo lễ vậy. Lễ tiểu-tường (dỗ đầu) thì nói nhân vì đến ngày tiểu tường nên cáo lễ vậy Lễ đại-tường (dỗ hết) thì nói nhân vì đến ngày đại-tường nên cáo lễ vậy. Lễ trừ phục thì nói nhân vì đến ngày trừ phục nên cáo lễ vậy.