Bước tới nội dung

Trang:Gia le gian yeu.pdf/5

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.
GIA-LỄ GIẢN YẾU
Lễ Tang

Khi rủi trong nhà có tang thì sửa soạn áo quan đồ liệm cẩn thận rồi làm lễ nhập quan, xong sửa soạn đủ đồ tang-phục cho cả người nhà. Theo như phục-chế, con thì mũ sô, áo gai, giây lưng chuối; cháu thì mũ vải to, áo vải to; anh em thì khăn vải trắng, áo vải trắng, mặc vào đâu đấy cả rồi làm lễ thành phục[1]; trước khi đem táng một giờ thì làm lễ đem táng; táng xong đến ngày thứ ba thì làm lễ ngu[2]; (an vi) sau khi mất trăm ngày thì làm lễ tốt khốc[3]; dỗ đầu thì làm lễ tiểu-tường[4]; dỗ hết thì làm lễ đại-tường; sau dỗ hết ba tháng thì cả người nhà đều bỏ đồ để tang rồi làm lễ trừ-phục[5].

Đem táng nên theo cổ lễ ta, hoặc có trướng đối của các người phúng viếng thì dẫn đi trước, nếu không có thì thôi; thứ đến cái bàn trên để minh tinh (tức là chức tước danh hiệu người chết đề vô tấm lụa hoặc vải dài) phép đề minh tinh là để tỏ cho thiên hạ biết người chết là ai, nên phải đề rõ cả chức tước, họ, tên, tên hiệu người chết, đàn bà thì phải đề rõ cả là vợ lớn hoặc vợ kế hoặc vợ thứ ông


  1. nghĩa là đã xong các thứ áo chở thì làm lễ để mặc (tục gọi là lễ phát tang).
  2. ngu nghĩa là an, làm lễ an thần.
  3. nghĩa là từ hôm ấy thì thôi không khóc bất thời như trước. Tục ta thường tính từ khi táng giở đi đủ 3 tháng 10 ngày thì làm lễ này.
  4. tường nghĩa là lành. Vì tang là hung sự (việc giữ), đến đây đã dần dần biến đi thành lành.
  5. gọi là đạm tất cũng được. Đạm nghĩa là nhạt bớt nguôi dần