— 2. Để trở Tằng Tổ phụ mẫu, là ông bà sinh ra ông Tổ thời Ti thôi 5 tháng.
Nếu cha và ông đã mất rồi mà mình là cháu trưởng thừa trọng thì phải trở Tằng-tổ Trảm-thôi[1] 3 năm, để trở bà Tằng-tổ thì Ti-thôi 3 năm.
— 3. Để trở Tằng-tổ bá thúc phụ mẫu, là ông bà cụ họ anh em ruột với ông Tằng tổ mình, đều Ti-ma[2] 3 tháng.
— 4. Để trở Tằng-tổ cô, là bà cụ họ, chị em ruột với ông Tằng-tổ mình thì Ti-ma 3 tháng, mà đã xuất-giá thì thôi.
— 5. Để trở Tổ-phụ mẫu, là ông bà sinh ra cha thì Ti-thôi 1 năm, không có gậy. Nếu cha đã mất trước thời một đích-tôn thừa-trọng phải để Trảm-thôi ba năm, có gậy. (Các cháu để trở Thứ-tổ mẫu là vợ lẽ ông thì Tiểu-công[3] 5 tháng).
— 6. Để trở tổ bá là anh ruột của ông tổ mình, tổ-bá-mẫu là vợ ông tổ-bá, tổ-thúc là em ruột của ông tổ mình, tổ thúc-mẫu là vợ ông tổ-thúc và tổ-cô là chị em gái ruột của ông tổ mình đều tiểu-công 5 tháng. Nếu bà tổ-cô đã xuất giá thì giáng phục 3 tháng.
⁂
B. — Để trở về hàng cha mẹ
— 1. Trở cha mẹ thời Trảm-thôi[1] 3 năm, cha dùng gậy tre. Mẹ dùng gậy vông.
— 2. Trở bác giai bác gái với chú, thím và cô, là anh em chị em ruột với cha, đều cơ-niên (1 năm) Cô đã xuất giá thì giáng-phục đại-công[4] 9 tháng.
- ▲ a ă Thôi nghĩa suy đồi tiều tụy — Trảm nghĩa là chặt; may áo không cắt mà chỉ chặt là tỏ ra ý đau đớn.
- ▲ Ti ma thì dùng thứ vải thực nhỏ, sợi tinh tế như tơ (ti là tơ).
- ▲ Tiểu-công thì dùng vải nhỏ, sợi đã chín — nghĩa chữ tiểu công là ý nói công làm vải đã kỹ càng hơn trước.
- ▲ Đại công thì dùng vải sợi còn sống (làm chưa chín, chưa kỹ) nghĩa chữ đại công là làm vải đã hơi da công mà còn thô lớn.