— 4 —
Ngài lại làm một bài thơ « Ngự Chế Mạng Danh Thi » gồm có 20 bộ, các triều vua sau cứ noi theo thế thứ mà đặt tên các Hoàng-Tử:
| MIÊN | NHƠN | KỲ | SƠN | NGỌC |
| 宀 | 亻 | 示 | 山 | 玉 |
| PHỤ | NHƠN | NGÔN | TÀI | HÒA |
| 阜 | 亻 | 言 | 才 | 禾 |
| BỐI | LỰC | TÀI | NGÔN | TÂM |
| 貝 | 力 | 才 | 言 | 心 |
| NGỌC | THẠCH | HỎA | HÒA | TIỂU |
| 玉 | 石 | 火 | 禾 | 小 |
Tên các vị Hoàng-Tử con vua Minh-Mạng đều dùng bộ Miên (宀), còn vua Thiệu-Trị bộ Nhơn (亻), đến đức Đông-Cung Hoàng Thái-Tử Bảo-Long là bộ Phụ (阜) (bộ thứ sáu của bài ấy).
Cách đặt tên và chữ lót trong các Hệ Chánh
Các nhánh của các Hoàng-Tử anh em cùng đức Minh Mạng đều theo mười bài PHIÊN-HỆ-THI mà đặt chữ lót và đặt tên theo lối « Ngũ-Hành Tương-Sanh » (THỔ, KIM, THỦY, MỘC, HỎA). Bắt đầu từ bộ Thổ đi lần xuống đến bộ Hỏa, lại trở lên bộ Thổ.
Đức Gia-Long sanh hạ được 13 vị Hoàng-Tử, trừ ba vị tảo-thương, còn mười vị, mỗi vị đều có một bài thơ riêng gọi là PHIÊN-HỆ-THI.