Bước tới nội dung

Trang:Long nguoi nham hiem.pdf/24

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.
— 20 —

thủy tú san thanh đi nữa, thì trong lòng buồn vẫn cũng hoàn buồn, vì vậy mà cha lại nhớ tới câu:

« Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu?
« Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

« Rồi cha lại nhơn lấy câu ấy mà làm đề, ngụ ra một bài thi nữa, họa là nó có hã hơi chút đỉnh chi chăng. Nay cha cũng biên hết mà gởi về cho mấy con; đặng để làm kỷ-niệm cái ngày của cha con ta phải bước lưu-ly nầy.

    « Thi rằng:

« Cảnh nào là cảnh chẳng đeo sầu,
« Người gặp lúc buồn cảnh cũng âu;
« Mây tỏa muôn chòm non núi ũ,
« Mưa sa mấy giọt cỏ hoa xàu,
« Vơi vơi lối cũ lòng ngao ngán,
« Thui thủi quê người dạ đớn đau.
« Thoản mảng nhớ thương ba trẻ dại,
« Trống thành nghe đã giục canh thâu.

« Nguyễn-Trọng-Luân. »

Hai chị em xem hết đầu đuôi rồi, nước mắt chảy ra dầm-dề, tấm lòng thương mẹ nhớ cha, chẳng có bút mực nào mà tả ra cho rõ được.

Chị em than thở một hồi, Thu-Cúc bèn lấy giấy mực họa vận theo bài thi sau để tỏ tấm lòng thương cha nhớ mẹ, ngâm đi đọc lại một hồi lâu rồi mới phong lại gởi lên cho cha.

Bài thi ấy như vầy:

Cảnh sao cảnh khéo giục cơn sầu,
Ngấm cảnh thêm buồn dạ phải âu:
Thơ kím theo mình lòng cũng toại,
Cỏ hoa trông chủ sắc như xàu;
Thương cha bảy lá gan chua xót,
Nhớ mẹ trăm chìu ruột quặn đau,
Kính lạy thung-đường xin bảo trọng:
Đất đông dầu mất đất dâu thâu.

Bất-hiếu-nữ, Thu-Cúc,
phụng hòa nguyên vận.