Sữa sang thần đặng chổ yên, Cũng là tiếng tốt lưu truyền không quên.
Núi-cố đường đi một bên, Chổ cao vọi vọi bước lên hẹp hòi.
Khô khan huê cỏ xơ còi, Dấu linh bồ liễu để roi đến rày.
Đờn bà thất chí đời nay, Hay lên ở đó lạt chay tu hành.
Cũng là tú khí thiên sanh, Trăm phần ví một Tây-ninh Điện-bà.
Nhơn dân phong thỗ thiệt thà, Nghề đi buôn Mọi vào ra nhọc nhằn
Lãnh dồi kêu tía Hắc-lăng, Chắc dày canh chĩ sánh bằng Kiêm-luông.
Làng Phước-hãi, lưới bạc muôn, Ở theo mé biển tuy buồn mà vui.
Buồn nghe sóng bỗ từ hồi, Vui vì đông đão tới lui chĩnh tề.
Tục kêu là xứ Lưới-rê, Đình chùa lăng miễu tư bề đẹp sung.
Lợi nhờ con cá biễn đông, Cẳng dầm nước mặng đờn ông mốt thường.
Nhiều nhà danh giá cột rường, Nhiều trang viên chức hào cường nội thôn.
Cá chán béo ngon tiếng đồn, Xứ coi quê kịch khéo khôn cũng nhiều.
Nho y đờn địch mỷ miều, Chấp gai quây nhợ dập diều ngày đêm.
Lắm khi trời biễn thuận êm, Lưới trương gặp chỗ đặng thêm thêm tiền.
Địa đầu đặt trạm Thuận-biên, Cấp quân canh giữ giáp miền Cù-mi.
Ngang lên Xuyên-mộc một khi, Có đường giây thép lưởng kỳ giao thông.
Long-kiên, Long-lập, Long-nhun, Cữa nhà chợ búa cũng sung thạnh thường.
Chợ Dinh thiết lập Bố-đường, Châu thành Phước-lễ phố phường mới đông.
Cầu đường sạch sẻ rộng thông, Nay thêm tu bỗ ngoài trong chĩnh tề.
Nhớ quan Chánh-bố Ri-vê (Rivet), Việc công cần cáng tư bề sữa sang.
Bây giờ lại có tòa quan, Lưới-rê Thị-vãi ngã đàng láng trơn.
Quan Đốc-phủ-sứ Nguyễn-Hơn, Đồng tâm hiệp lực ra ơn tài bồi.
Công dinh công sở các ngôi, Thảy đều thanh lịch đứng ngồi vẻn van.
Xe bò thuở trước nghinh ngang, Ngày nay xe ngựa coi càng đẹp xinh.
Cỏ-may mấy dặm thinh thinh, Bến tàu ghé đậu vô Dinh chở hàng.
Viên quan hương chức nội làng, Giữ gìn phép tắc nghiêm trang kĩnh nhường.
Trong làng đạo ngoại hai đường, Nhiều trang thi đậu khoa trường lập thân.
Đỗi đi các hạt xa gần, Đều là có tiếng thanh cần nết na.
Châu-thành xứ chẳng xa ba, Tục quen chấc phát thuận hòa thích trung.
Năm trước có người Vĩnh-long, Tên Nguyễn-hữu-Đức chức sung huỳnh-đường.
Quan trên khen ngợi thường thường, Khen người liêm cáng đã thương lại vì.
Ruỗi đà tiên tịch hồi qui, Anh em tri thức còn khi nhắc hoài.
Nhà thờ Thiên-chúa rộng dài, Kì hoa thoại thảo đình giai vung trồng.
Mấy ông linh-mục lắm công, Với các bà-phước sữa sung mối giềng.
Mổi tuần kinh sách giảng truyền, Cứ theo phép đạo dạy siêng năng thường.
Cách sông có xã Long-hương, Miểu chùa tế tự tỏ tường theo xưa.
Đất dày người ở coi thưa, So bề no đủ củng vừa ăn chung.
Xe bò ghe cữa quá đông, Cả trong toàn hạt sắm dùng theo quê.
Đường rừng xa cách từ bề, Xe bò ổn tiện lúc về lúc đi.
Khỏi sông thời biển bố vi, Nên làm ghe cữa dể khi ba đào.
Trời sanh ra mỗi chổ nào, Đất quê lề thói tiếng nào có không.
Trang:Nam Ky phong tuc nhon vat dien ca 1.pdf/12
Giao diện
— 9 —