Trang:Nhu tay nhut trinh.pdf/13

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.
— 14 —

Hai triệu thước bề dài biển ấy,
Còn bề ngang chừng mấy vẹo thôi.
Tháng ba mồng sáu tới nơi,[1]
Suez đậu lại nghỉ ngơi vài giờ.[2] 260
Lên chịu thuế rồi vô kinh đó,
Lệ một người, thâu có mười quan.
Còn tàu thì tính theo cân,
Nghĩa là một tạ lấy gần một quan.
Trên mặt nước bề ngang trăm thước, 265
Dưới đáy kinh, cũng được hai mươi
Một trăm sáu vạn bề dài,
Nước sâu tám thước cứ hoài mực ni.
De Lesseps, chiêu qui lập hảng,[3]
Hùn bạc tiền, khai đặng kinh nầy. 270
Đào ngang biển cát khó thay,
Sâu hơn chín thước mới bày bùn ra.
Năm trăm triệu ấy là sở tổn,
Công việc làm, tính trọn mười năm.
Kỷ-mùi mới khởi sự làm, 275
Qua năm Kỷ-tị, nước đam vô rồi.
Ba muôn sáu ngàn người làm việc,
Máy móc thôi, chẳng biết bao nhiêu.
Hai bên xây đá cũng đều,
Thân trên dây thép dăn theo dọc bờ. 280
Xa xa có phần hờ canh giữ,
Ngày ngày hằng, tu bổ dưới trên.
Tàu qua dây thép thông tin,
Chiếc ngừng chỗ rộng, chiếc liền chạy qua.
Một giờ chạy, định là muôn thước, 185
Ở trong kinh không được chạy mau.
Vắng hoe trước, quạnh quẻ sau,
Trên bờ đỏ đỏ, dưới màu xanh xanh.
Hai bên kinh, thấy tinh động cát,
Bốn phía đồng vắng bặc cỏ cây. 290
Biển hồ Mặn-đắng tới đây,
Không dè nước đó đắng cay bao giờ.
Ai thuở trước, cũng ngờ nước ngọt,
Nếm mới hay, nước trót mặn nồng.


  1. 14 avril. —
  2. Suez = Xu-ê. —
  3. De Lesseps = Đơ-lê-xêp.