Trang:Phật giáo.pdf/119

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.


III

NGHĨA TIẾNG KIẾP
TRONG PHẬT-GIÁO

Kiếp là tiếng gọi tắt tiếng Kiếp-ba dịch theo âm tiếng phạn Kalpa để chỉ cái số lượng thời-gian của một hiện-tượng đã phát-sinh ra ở trong thế-gian.

Kiếp có ba thứ là: đại-kiếp, trung-kiếptiểu-kiếp.

Mỗi một đại-kiếp có bốn trung-kiếp là . thành-kiếp, trụ-kiếp, hoại-kiếpkhông-kiếp. Theo cái nghĩa trong các kinh, thì một đại-kiếp là một thời-gian sinh-tồn của một thế-giới. Vì ở trong vũ-trụ có vô số thế-giới, mà thế-giới nào cũng khởi đầu bằng một thời-kỳ cấu-tạo, rồi đến thời-kỳ thành-lập, rồi đến thời-kỳ suy-hoại, sau cùng đến thời-kỳ hư-không. Hết thế-giới này lại đến thế-giới khác, cứ biến-hóa mãi như thế, không bao giờ hết hẳn[1].


  1. Xem sách PHẬT LỤC, mục thứ IV, nói về thế-giới và thế-gian (TÂN VIỆT xuất-bản).
119