Bước tới nội dung

Trang:Phong tran tham su 1.pdf/18

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.
— 14 —

chuyện đời thực lắm bề oan-trái chua cay, phỗng đá cũng phải nhăn mặt cau mày. Nghĩ làm đời người, mà chỉ loanh quanh về gia-đình, về thân thế, mà rồi hết đời, lần-lữa mãi mà bạc đầu tráng-sĩ, chả làm được việc gì, nghĩ đến gương anh hùng hào-kiệt mà thẹn bóng nam-nhi. Tôi đã buồn lại đi gập một cảnh buồn hơn, có biết hôm đó chẳng đi cho xong. Tôi nghĩ đến câu truyện bác Nam-Hương lúc nào thì lại nhớ đến bài thơ của ông Chu-Mãi-Tuần khi xưa đề ở mả vợ rằng:

Thanh thảo kỳ biên nhất cổ khu,
Thiên niên mai cốt bất mai tu;
Đinh ninh ký ngữ nhân dan phụ,
Tự cổ tao khang đáo bạch đầu.

Thực là câu truyện nước đổ khó bốc lại đầy, đáng đề vào mả vợ bác Nam-Hương! »

Bên gò một nấm cỏ xanh,
Nghìn thu xương nát ô danh vẫn còn;
Đinh ninh nhắn khách hồng quần,
Trước sau tấm cám trăm năm chớ rời.


III

Lò cừ nung-nấu, đá chảy vàng phai, ngoài đường giời nắng chang chang, trong nhà khí giời hâm hấp, gió lặng cây im, người ngồi trướng gấm mồ hôi chã. kẻ hái rau tần nước bọt xe. Thuỷnh-thoảng chỉ nghe thấy mấy tiếng gà gáy buổi chưa, ve kêu tức cật, cảnh thực buồn thay! Mộng-Đài đương ngồi lẩn-thẩn viết một bài thơ bèo trên mảnh giấy trắng rằng:

Giời sinh mang lấy phận mong-manh,
Khi hợp khi chia luống bập-bềnh;
Chơ một mầu xanh phơi với nước,
Lênh đênh đâu nữa cũng lênh-đênh!