trên thây kêu riả, có khi theo luồng nước chẩy, dạt cả vào bè; châu chết, chó chết, trẻ con chết, chẩy qua trông mà sợ dởn, đêm nằm không yên. Ở trên ấy người ta cho là thường, chỉ lấy nước làm sạch. Lại còn nỗi ban đêm, nằm trên cốn nứa, nước chẩy nao nao dưới sống lưng, gió thổi vù vù, soáy vật sóng kêu, nghe mà khiếp-đảm; mỗi khi cơn mưa cơn gió, tưởng chừng như đất lở giời long, mây kéo tối ầm, mặt nước sám đen, sóng bủa nhấp-nhô, nhà bè lay-động. Ra vào nhà bè phải luồn-cúi, quần áo chóng rách chóng bửn. Lại còn nỗi thuỷnh-thoảng ban đêm cọp về bắt chó bắt lợn trong làng, chiêng đuổi trống khua rộn-rã, chó sủa líu hơi không thành tiếng, lợn éc kêu rầm bên sông, còn nhiều cảnh khác nói sao cho siết.
Tháng chín thì quít đỏ chôn,
Tháng ba ngái mọc cái con tìm về
Mãi đến ngày hạ tuần tháng tư, bè mới xuôi về được hơn nghìn cây gỗ. Ông Vĩnh-Xương cũng ngồi vào bè xuôi, thả một nước tối đến Chí-Chủ nghỉ. Bè vừa bắt cầy đỗ ở Thanh-Ba thì có ngay một bọn lính huyện ở đâu chèo thuyền đến, nhẩy hết lên bè, dơ súng bảo ai nấy ngồi im để khám thuốc phiện, lục-lọi hết trong nhà bè. Một chốc quan huyện đến, trông vẻ mặt có một bộ rất phong-lưu, thông-minh và mẫn-cán, cách-điệu rất oai-nghi đường-bệ, ăn nói rõng-rạc, thực đáng là một vị phụ mẫu! Quan huyện đến nơi, hai ngọn đèn măng-sông đi trước, quan bước lên bè, hỏi ai là chủ bè này? Ông Vĩnh-Xuơng nhường Mộng-Đài bước ra nói: « Thưa quan tôi đây. »
— Thẻ đâu?
— Thưa quan đây.