sục như dầu đang sôi, như điên như giại, như mất hồn, hiềm không biết vì lẽ gì mà tự nhiên nó bỏ nó đi, không biết ai làm gì nó, nghĩ ra chỉ có lẽ là tại vợ nó ngoan-ngạnh mà nó bực chi đây. Ông Lý cho gọi Cảnh-Du sang nói truyện, Cảnh-Du cũng rụng-rời, vội vàng mời ông Lý lên tỉnh ra Hanoi, đi Haiphong ngay. Khi tới Haiphong hỏi mọi người, biết là tầu chưa chạy, ông hỏi thăm đến trại lính, thì thấy bao nhiêu lính đều ở cả trong trại, ngoài cổng có lính canh không sao vào được, mà nhắn gọi hộ cũng không ai gọi. Ông Lý và Cảnh-Du đành là ngồi bên kia hè trước cửa nhà ông Nam-Sinh dòm vào trong trại. Chung quanh mình ông Lý bao nhiêu người cũng một cảnh như ông, thôi thì vợ con nheo-nhóc, anh em đợi chờ, bố mẹ đưa con, hỏi ra mới biết là sắp đến giờ lính xuống tầu, nên các người chờ đó để đi tiễn. Trông tình cảnh ông Lý thực là thương tâm, bụng thì đói chưa ăn, khăn thì lõng thõng trên vai, mặt thì sám nhợt, cái áo the khuy đỏ đứt khuyết, hở cả vạt con, quần ống cao ống thấp, lê đôi giầy vẹt gót, nửa chân ra ngoài, cái ô trắng cũ cắp ngược bên sườn, hai mắt đăm đăm nhìn vào trong trại, chốc chốc lại hỉ mũi, chùi tay vào khăn mặt đỏ. Ôi, cảnh mới thảm dường sao! Cho hay nhẽ phụ tử tình thâm!
Một lúc lâu trong trại có tiếng kèn thổi, bao nhiêu người chờ ngoài này đều nôn-nao, chạy ồ cả sang bên đường cạnh trại lính.
Cửa trại mở toang, một đội kèn đi trước, rồi đến lính đi tây, mỗi người vác một bao tải trắng to kếch trên vai, lính đều sắp hàng tư, đầu đội mũ chà-mào, quần áo vàng lụng thụng, quấn sà-cạp, đi giầy săng-đá, có người ở nhà quê ra chưa quen đi giầy, thì dẫm đất buộc giầy làm một, vác lên vai, ai ai cũng đều có vẻ ngơ-ngác tìm kiếm người nhà. Thôi thì vợ thấy mặt chồng, lướt-mướt theo bên, tay bẫm con thơ, nón quai quàng cổ;