rồi mời ai về nhà nấy, còn một mình Cảnh-Du ở lại đêm đó với Vu-Hồ, đem hết lời khuyên giải bạn. Vu-Hồ nhờ sếp hộ các đồ đạc trong va-li ra, đâu vào đấy, rồi anh em ngồi nói truyện. Cảnh-Du sai người nhà đặt nồi cháo loãng, để đến khuya Vu-Hồ ăn lấy sức. Anh em ngồi than thở nỗi hàn huyên, nỗi mình cay đắng, nỗi nhà tan hoang. Vu-Hồ đang bị đau mắt dữ, cứ phải ngồi tựa, nhắm nghiền mắt lại mà nói truyện, Cảnh-Du ngồi đỡ một bên. Vu-Hồ than rằng: « Tôi không ngờ cuộc đời tôi mà có lắm nỗi chua cay như vậy, hồ mở mắt ra trông, thì lại đầm địa dọt lệ, nhắm mắt lại đừng trông thấy gì lại còn hơn. Tôi nhớ truyện ngày xưa có một người hào phú lòa đã mười lăm năm, sau nhờ có người đem đi một nơi khác chữa khỏi, lúc về người đó cứ vờ dờ-dẫm dắm mắt trống gậy vào nhà; vào tới nơi thấy vợ cùng người khác đang tự tình giăng gió, vào đến nhà trong thì thằng ở con nhài đùa với nhau trước mặt, chúng nó tưởng là ông chủ vẫn mù, nên lại còn múa may chế nhạo. Khi vào buồng riêng, thấy chỗ mình ngồi mọi khi, đồ đạc lung tung như nhà bỏ hoang. Trông thấy cảnh tình như vậy, người ấy đau lòng siết nỗi, ngồi than thở hồi lâu, mới biết mười lăm năm trước cảnh mù là sướng, nay được mở mắt ra nom thấy cảnh đời mà thêm chua sót, nên đêm hôm đó người ấy thò tay móc hai tròng con mắt vứt đi, rồi ngâm bài thơ rằng:
Cảnh đời chua sót lắm ai ơi!
Chớ vội chê ta chớ vội cười;
Càng sáng bao nhiêu thêm khổ não,
Thà mù cho hẳn lại yên vui;
Người ta chê tớ đồ ngông dại,
Ta cũng chê người chí hẹp hoi;
Ngán-ngẩm phù du tình thế thái,
Từ đây dắm mắt kệ thây đời!
Từ đó người ấy chỉ ăn song rồi ngồi đọc thơ Trang-Tử, vui hát nghêu-ngao, tự cho cảnh mù là