LỜI DẶN. — Nên nhận những tiếng trung thu, trung quốc, trung thành; chung chạ, chung đúc; — chính giữa; chín rữa, rữa ra; — trẻ con (X. bài Quốc-ngữ tr. 7); — đánh trống, trống trải; chống gậy, chống cự; — riêng tây; tháng giêng.
10. — NÓI VỀ XỨ BẮC-KỲ
Xứ Bắc-kỳ đất tốt dân trù: về phía tây-nam có một bình-nguyên rất rộng, lại có con sông lớn là sông Hồng-hà và nhiều sông đào chẩy qua, cho nên việc canh-nông và việc thương-mại rất là thịnh vượng. Nơi bình-nguyên là một nơi dân-sự ở đông lắm: có các thành-phố lớn như là Hà-nội, Hải-phòng, còn ở các tỉnh thì không biết bao nhiêu là làng-mạc.
Về phía bắc và phía đông thì phong cảnh đã khác: chỉ thấy rặt gò đống và núi cao, rừng rậm. Xưa kia người bản-quốc thường lấy miền sơn-cước làm nước độc, không mấy người chịu lên, sợ ngã nước, song từ khi có đường hỏa-xa tiện lợi thì người ta đi lại như thường.
CÂU HỎI
1. Cắt nghĩa những chữ: bình-nguyên, dân trù, sơn-cước, ngã nước.
2. Cắt nghĩa câu này: Việc canh-nông và việc thương-mại rất là thịnh-lợi.
3. Theo như bài này các anh thử kể một vài vật quí của miền trung-châu và thượng-du ra xem.
(Bắc Giang)