Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bát cú thi niêm bình trắc theo tuyệt cú, bốn câu dưới như bốn câu trên. Duy câu thứ năm, chử thứ 5, 6, 7, hể khỡi bình, thì là: bình bình trắc; hể khỡi trắc, thì là: bình trắc trắc.
Trắc khỡi:
1.
Trắc trắc.
bình bình ,
trắc trắc bình ,
Bình bình ,
trắc trắc,
trắc bình bình ,
Bình bình ,
trắc trắc,
bình bình trắc,
Trắc trắc,
bình bình ,
trắc trắc bình .
2.
Trắc trắc,
bình bình ,
bình trắc trắc,
Bình bình ,
trắc trắc,
trắc bình bình ,
Bình bình ,
trắc trắc,
bình bình trắc,
Trắc trắc,
bình bình ,
trắc trắc bình .
Nhứt, tam bất luận; nhì, tứ, lục phân minh.
Bình khỡi:
Con voi .
Giống
chi
đồ
sộ
trước
kia
cà,
Chẳng
phải
là
voi ,
cá
một
gà
Mặt
lợn
lưng
tôm
kê
bốn
dựng
Vòi
rồng
miệng
cá
chõi
hai
ngà;
Tiếng
cày
ruộng
thuấn
là
làm
cỏ,
Tục
dậm
mồ
ma
ấy
phá
nhà,
Quê
quán
xưa
kia
nơi
tượng
quận
Củng
là
thổ
sãn
nước
Xiêm
la.
(Thơ xưa.)
Trắc khỡi :
Sương
tuyết
gội
nhuần
đã
mấy
thu,
Con ong .
Da
đen
mặt
lọ
tiếng
vù
vù,
Ỷ
mình
lúc
láo
râu
trên
sọ,
Hại
chúng
so
se
nọc
dưới
khu;
Châm
chít
đồ
mền
khoe
bực
trí,
Đục
xoi
cây
mục
tỏ
loài
ngu,
Công
linh
chẳng
nghĩ
người
vun
quén,
Bông
bí
nụ
bầu
xúm
xít
bu.
(Thơ xưa.)