quì gối vập đầu xuống đất mà cầu nguyện cùng xét mình thuở nay coi có tội chi đại ác hay chăng, nên mới bị ly tiết chi trung như vậy.
Cã ngày Đăn-tết cứ đọc kinh cầu nguyện. Ăn sơ sài vài miếng bánh, uống sơ sài vài hớp nước, khi thì ngồi suy nghĩ trân trân, lúc lại đi vòng cùng khám như con thú dữ kia chúng bắt bỏ vào củi sắt muốn kiếm lổ mà chun ra vậy.
Ngồi trong khám suy nghỉ mà tức mình: Sao mà khờ dại quá lẻ, không nhơn cơ hội trong lúc đi dọc đường, nhãy xuống biển mà lặn một hơi cho dài, đặng lội vào bờ, trốn bậy đâu lối đó, chờ ghe đi qua mà kêu đặng sang xứ khác tị nạn. Nay mắc kẹt vào đây rồi thì biết chừng nào ra khỏi, cha ở nhà ra làm sao, người nghĩa mình nay trở ra thể nào, cả thảy bặt vô âm tín. Đây cũng bởi tại nghe lời ông đờ Huynh-pho mà ra.
Nói rồi nhào lăng xuống đống rơm mới, ngục-tốt đem vào bỏ đó, mà than thân trách phận.
Ngày thứ ngục-tốt đúng giờ đến mở ngục mà hỏi: Sao bữa nay đà tỉnh lại rồi chưa?
Đăn-tết không thèm trả lời.
— Có muốn việc gì chăng? Lựa cái việc dể làm thì tôi sẻ làm giùm cho.
— Tôi muốn giáp mặt quan Tổng-trấn.
— Người ta nói không được, luật cấm mà cứ muốn hoài.
— Vậy chớ ở đây luật không cấm cái gì?
— Ở đây luật cho phép ăn đồ ăn ngon hơn, đi dạo và đọc sách.
— Sách tôi không cần dùng, đi dạo chơi tôi cũng không muốn, còn đồ ăn như vậy thì đũ, chẳng cần gì phải ngon hơn. Tôi muốn một đều là giáp mặt quan Tổng-trấn.
— Nếu không có bỏ, nằn nằn cứ xin một việc hoài, thì trong mười lăm bữa nữa mầy chắc điên.
— Sao lại điên?
— Đà có một gương trước mắt rồi: Khi trước trong phòng nầy đây có một ông thầy cao-tăng bị giam, cứ nằn nằn quyết một, xin quan Tổng-trấn thã ổng ra thì ổng sẻ cho một triệu quan tiền, tưởng có bấy nhiêu đó mà rồi phải điên.
— Ổng thôi ở phòng nầy cách bao lâu nay?
— Cách hai năm nay.
— Vậy chớ họ đã thả ổng ra rồi sao?