là chổ lính gác, rồi có một lỗ đào lên cho phũng gạch, đặng cho lính gác ơ hờ mà sụp hầm lọt vào hang ngách cũa họ đào đó. Tới khi như vậy Đăn-tết nhảy lại khớp miệng lính gác trói lại, rồi cã hai thầy trò chun ra leo cữa sổ hiên ngoài mà thoác Đại-thiên-lao, dùng thang giây mà chuyền xuống biển đặng lội trốn.
Đăn-tết thấy bông-đồ dể dàng bèn hớn hở vổ tay reo cười.
Nội ngày đó hai thầy trò cong lưng đào mãi.
Chẳng hề có chi làm cho thầy trò ngừng tay, đúng giờ thì ai về khám nấy, hể ngục-tốt đem cơm rồi đóng cữa bỏ đi, lại chạy qua áp nhau đào mãi. Đất đào lên nếu dể đồn trong khám thì lâu ngày đầy nức, bỡi ấy mỗi đêm lén vò nát như bui bui quăng ra lổ xã hơi cho gió thổi tấn lạt tứ phương.
Thầy trò và đào và đàm luận cách trí, Đăn-tết khi thì dùng tiếng Ăng-lê, lúc lại dùng tiếng I-pha-nho mà đàm luận với Cao-tăng, thì Cao-tăng khi dạy lịch sử lúc chuyện vãng nhắc tích nầy, tích nọ cho Đăn-tết rỏ, Cao-tăng vốn là tiên phong đạo cốt, lời ăn tiếng nói đàng hoàng nghiêm nghị, cách dạy trở cử động rất lịch lãm, Đăn-tết một ngày bắc chước một thế, ấy là hể gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
Đào như vậy được 15 tháng thì công việc hoàn tất, ngồi ngay lổ hầm thì nghe lính canh đi lên đi xuống đi qua đi lại được rỏ ràng.
Chờ bữa, nào tối trời sẻ ra tay, song nay sợ e lính gác sụp thình lình, thì dở dang công chuyện còn gì. Thầy trò bèn lấy gổ tìm đặng dưới han mà làm nạng chống đỡ gạch nền. Đăn-tết đang làm, thình lình nghe Cao-tăng kêu tiếng rất đao thương, chàng va chạy vào, thì thấy Cao-tăng đang đứng giữa khám, trán đổ mồ hôi như tắm, mặt mày biến sắc, tay chưn bị phong giực, con mắt trợn qua trợn lại láo luân.
Đăn-tết bèn la:
— Trời đất ôi! Ông đau bịnh chi cho con rỏ với, ông ôi là ông?
— Con ôi! mau mau nghe lấy lời thầy.
Đăn-tết thấy bịnh một ngày một xung, bèn hoãng hốt buông đụt mà hỏi.
— Tôn-sư, bịnh chi, xin nói cho đồ-đệ rỏ với?