tôi rất cãm súc quá chừng, chí như tôi, nếu mà con tôi chịu hàm oan dường ấy, chắc tôi sống không nỗi đâu, bề gì cũng đi trầm mình cho rãnh.
— Cha chã là tội nghiệp cho ông già quá!
— Dạ, đó rồi một ngày ổng càng một lưu vắng không chịu thấy mặt ai. Có nhiều khi ông Mo-ren và Mẹt-xê-đết đến thăm ổng mà kêu hoài ỗng không ừ hữ, song tôi biết chắc ông có ở nhà. Ngày kia thình lình sao ỗng lại cho cô Mẹt-xê-đết vô thăm ổng, thì tôi nghe cỗ than thĩ ỷ ôi cùng ỗng, xin đừng buồn rầu lắm mà hao tổn tâm thần, ổng bèn nói rằng:
« Con ôi, cha chắc thằng Đăn-tết tánh mạng nó không còn, nay hồn nó đang chờ mình nơi chín suối đó con. Cha lấy làm hữu hạnh là vì cha già yếu sẻ mau đặng gặp mặt nó hơn con. »
Song le thiên hạ nhơn tình, đâu đâu cũng thế, dầu lòng dạ từ thiện hay thương xót người mặc lòng, mà thấy cuộc buồn thãm lâu ngày như vậy, ai cũng phải bãng lãng bơ lơ. Bởi đó không còn thấy ai lai vãng sớm viếng tối thăm ông già nữa, chĩ thấy có vài người lên xuống đi lấy đồ. Chừng sau mới rỏ là ông già bán lần đồ trong nhà mà ăn. Đến sau phãi bán tới áo quần. Ngày kia chũ phố vào căng tôi ở mà nói ông già thiếu ba tháng phố, không tiền trả, chũ phố hăm đuổi, ông già kỳ hẹn tám ngày sẻ tính thanh, chũ phố cho. Cách hai ba ngày tôi không nghe động địa, đi đứng gì ráo, tôi bèn chạy lên thăm, tuy cữa đóng mà nhờ kẹt hở, tôi dòm thấy mặt mày ổng đao thương khô héo, tôi bèn chạy kêu ông Mo-ren và cô Mẹt-xê-đết. Cã hai đều lật đật chạy tới. Ông Mo-ren có kêu lương-y theo, thì lương-y nói ỗng đau nóng trong đại trường, bão phải cữ ăn. Khi ấy tôi thấy ông già buồn cười thì tôi rỏ ý mầu, cã đời tôi chẳng hề quên cái cười ấy đâu.
Đó, nay đã có lịnh quan thầy cấm ăn, thì ông già không thèm bế môn nữa, dể cho ỗng lấy cớ mà tịch cốc.
(Thầy-tu nghe nói tiếng tịch cốc bèn rên dài)
Ca-đờ-rút thấy vậy hỏi:
— Ông nghe vậy cũng phải động tình!
— Cha chã là thãm khổ.