cái năng-lực sáng-tạo mất dần đi mất cả. Người nước nào có cái đặc-sắc của văn-học nước ấy, mỹ-thuật nước ấy; nói đến văn-học của người mình thì ai làm được câu văn câu thơ nào hay cũng tự-đắc rằng câu văn ấy Tầu, câu thơ ấy Tầu mà khen ngợi nhau, khuyến miễn cho nhau cũng lấy thế làm tuyệt-phẩm; nói đến mỹ-thuật của mình thì không luận là đồ gì, suốt cả nước từ trên chí dưới, từ trẻ chí già cũng đều cho kiểu Tầu, nét Tầu mới là đẹp, kiểu mạc ra không đúng Tầu, đồ làm ra không hệt Tầu là xấu, là bỉ-tiện, là ít người thích phải bán rẻ tiền; ta chẳng thường nghe ở cửa miệng người mình nói luôn những là chữ ông ấy Tầu lắm, nét vẽ ông ấy y như nét Tầu, chê cái bàn, cái ghế, cái lọ, cái bát không được đẹp là cái bàn ấy, cái ghế ấy, cái lọ ấy, cái bát ấy trông còn « Annam » lắm đấy ư? Như thế thì còn gì cái tinh-thần tự-lập, cái năng-lực sáng-tạo nữa. Cho nên dân-tộc mình lập quốc đã có đến hơn bốn ngàn năm nay mà tuyệt không có tí gì là quốc-hoa riêng của mình cả. Các nhà bác-học đời nay nghiên cứu về Đông-phương hoặc về mỹ-thuật đều cho người mình là nhất-thiết cái gì cũng chịu ảnh-hưởng của người Tầu cả, thật là đúng lắm. Cái đó chẳng là một cái cớ lớn làm cho người mình bao giờ tiến hóa cũng chậm trễ sau người dư?
Đã mất hết cái tinh thần tự-lập, cái năng lực sáng-tạo mới dần dần nuôi nên cái khối óc rất biếng lười, cái gì cũng an thường thủ cựu, không hề suy nghĩ