Đau-đớn thay điểu-tận, cung-tàng.
Đầm Vân-Mộng phải mắc mưu con trẻ.
Nếu biết chữ khả hành khả chỉ.
Thời ngũ-hồ một lá cho xong,
Làm chi lúng-túng trong vòng.
CHÚC THỌ
Sang Đông-Hải vin cành nhược mộc,
Về Nam-Minh bẻ ngọn phù-tang.
Lần lên mây hỏi chú xương xương,
Dưới trần-thế được mấy trăm ông Bành-Tổ?
Ta muốn chúc ngô-hoàng vạn thọ,
Song cách bẩy mươi ba lần khói biếc thẳm xa.
Chim đại-bằng bay thẳng lại nhà,
Nhắn thanh-điểu hỏi chàng Đông-Phương-Sóc.
Cây bàn-đào bây giờ mới mọc,
Biết bao giờ ba vạn sáu nghìn tầm,
Ngô-hoàng chừng bấy nhiêu năm.
NHỚ QUÊ
Hoàng-hạc nhất khứ bất phục phản,
黃鶴一去不復返
Nhác trông lên thăm-thẳm mấy từng lâu.
Người đời xưa văng-vẳng biết về đâu?
Tấm mây bạc xa xa còn ở đó.
Tình xuyên lịch-lịch Hán-dương thụ,[1]
晴川歷歷漢陽樹
Phương thảo thê-thê Anh-vũ châu.[2]
芳草凄凄鸚鵡洲
Ngọn khói tan mặt nước tỏa mù-mù,
Lớp sóng vật chân đèo xô cộn-cộn;