Đương giăng thâu ném sáo quăng đàn.
Trách ông nguyệt ghẹo-chêu chi lắm tá?
Gẫm lại phấn chưa phai, hoa chưa rã,
Ví đem vào kim-ốc há nhường ai?
Từ đâu lỡ một lầm hai?
NHÂN SINH NGHỊCH LỮ (Cao-bá-Quát)
Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ,
人生天地間一逆
Có bao lăm ba vạn sáu nghìn ngày.
Như thoi đưa, như bóng sổ, như gang tay,
Sực nhớ chữ cổ nhân bỉnh-trúc.
Cao sơn lưu-thủy thi thiên trục,
山高流水詩千軸
Minh nguyệt thanh phong tửu nhất thuyền.
明月淸風酒一船
Dang tay người tài-tử khách thuyền-quyên,
Chén rượu thánh câu thơ thần thích trí.
Thành-thị ấy mà giang-sơn ấy,
Đâu chẳng là tuyết nguyệt phong-hoa.
Bốn mùa xuân lại thu qua.
QUYẾT KHOA
Vị đạt thả đương hành tố vị[1],
未達且當行素位
Ẩn ưu thiên ý ngọc vu thành[2]
隱憂天意玉于成
Bằng chửa bằng dù yến tiếu hồng khinh,
An nghĩa mệnh chớ mẩy lòng vưu-oán.
Nương nương vật hận công danh vãn,[3]
娘娘勿恨功名晚
Lưu đáo lai khoa dã vị trì.[4]
留到來科也未遲
Ngẫm anh-hùng nhỡ bước xưa kia,