Nay gặp tiết thu; bày tuần uý-tế.
Hai chữ cương-thường nghĩa nặng, rõ cổn-hoa cũng thỏa chốn u-minh; — Nghìn thu hà-nhạc khí thiêng, sắp mao-việt để mở nền bình-trị.
Hỡi ôi! Thượng hưởng!
TỰ-THUẬT KÝ (Lý-văn-Phức)
(Lý tiên-sinh đỗ cử-nhân năm Gia-Long 18 (1819), đời Minh Mệnh (1830) sang sứ Tây khai-phục chủ-sự làm quan Quang-lộc-tự-khanh, Năm Ất-mùi (1835) phụng mệnh sang sứ Tầu, có làm tập thơ Sứ-trình)
Ở cõi giời Nam; — Có người đất Bắc.
Dòng thi-lễ vốn Minh-triều tạt lại; — Áng binh-qua vừa Lê-mạt xuống sinh;
Nhờ nghĩa phương từ bé chút từng nghe, dưới sân nghiêm mắt quở tai răn, tính du-đãng uốn dần cho nhập giáo; — Theo học nghiệp đã lớn khôn biết nghĩ, bên trướng dáng sớm ôn tối học, việc tập-tành gắng mãi cũng thành danh.
Vận đổ-xoay vừa chán cuộc tang-thương, — Cơ bình-trị sớm rạng vừng thiên-nhật,
Khoa Đinh-mão cũng nước bầu cơm gói, tiếc lẽ đi không về luống, kỳ tứ-trường còn nhượng bảng Tôn-Sơn; — Chốn Trường-an thì củi quế gạo châu, lấy gì ngọt thảo bùi thơm, đường bách-lý những ghi lời Tử-Lộ.
Nghề buôn bán tay không khôn vỗ; — Bước khó-khăn đầu gối hay bò.
Cất mình đi đem lưỡi bút thay cầy, hết miền Cổ-Nhuế, lại phố Thăng-Long, nhờ lộc thánh để giúp công rèn-tập; — Lâm thế lại dở túi nghề đãi khách, nay số Tử-vi, mai pho Dã-hạc, mượn giá thày cho đắt tiếng xem coi.
Nhân cùng trí đoản, hết nói khôn-ngoan; — Bĩ cực thái lai, là nhờ vận-chuyển,