Trường Ất-mão may tên hương-tiến, hàng thường-lệ nối liền ba nhánh, công sinh thành đã hớn-hở mẹ cha; — Năm Canh-thìn vâng-ứng chiếu hạ-trương, cánh tiêu-liêu gửi ghé một cành, đường vĩnh-đạt cũng theo đòi bạn hữu.
Ti-lạp chung nhờ lộc nước; — Đẩu-thăng riêng thiết nỗi nhà.
Trông quãng mây che đỉnh Hỗ khuất đi, một phong thư lận suối trèo non, mở ra xem giấy thảm mực sầu, kêu giời thẳm những cắt lòng nơi lữ-xã[đính chính 1]; — Đội vừng nguyệt chỉ quê Phần ruổi lại, hai tháng hạn nằm xương gối đất, tả chưa hết ròng thương giọt tủi, lạy mẹ già thôi trở gót chốn thần kinh.
Yên phận tôi đau kể nỗi gia-tình; — Gác chữ hiếu phải trăm bề công sự.
Tài sơ thiển chực một bề tôm tép, lần-lữa mưa xương nắng nguyệt, chữ tháng ngày nên dự sổ công lao; — Duyên tao phùng may nghìn thuở rồng mây, vẻ-vang áo mãng đai mồi, tuôn mưa móc thấm cả mình bố-tố.
Đường mây thanh-thả, khi quận khi triều; — Bể hoạn chập-chờn, có vinh có nhục.
Vinh thay buổi ra vào bên điện bệ, phận hàn sĩ thoắt nhẩy ngôi quan cả, tuy chẳng được bảng vàng bia đá, nghĩ lại sáu, bẩy năm chừng ấy, tám chín phần đà trả nợ sách đèn. — Nhục thay khi ngồi đứng gốc hành-dương, thân á-khanh cam sánh kẻ lính già; gượng cho qua áo muối cơm rưa, tính dồn ba bốn tháng dài ghê, trăm nghìn nỗi đủ nếm mùi cay-đắng.
Tội thần tử dẫu búa rìu cũng đáng; — Ơn thánh minh rồi sấm sét lại qua.
Lầu Thái-Vân đâu nẩy xuống tiếng tơ, may bóng dương còn soi đến dấu bèo, nét son thắm sáng lòe nhà ngục-thất. — Khối bạch cốt bỗng nở dần cân thịt, nhờ hòn đất lại nắm lên ông bụt, giấc mộng tàn tỉnh cả chốn cư-đình. Trải nhục rồi mới biết thuở xưa vinh; — được sống lại dám quản đâu là thác.