Gần đã đến mồng năm đoan-ngọ, đào đào mận mận cũng có của ngon vật lạ, chàng đã đi thiếp cũng chán-trường; xa là tháng tám trung-thu, ngựa ngựa voi voi, những là tán giấy đèn cù, cha chẳng ở con nào vui cỗ.
Thương ôi!
Bối-rối lòng quê, vội-vàng tục-phố.
Lờ-mờ đèn tỏ một huê, sơ-sác quyển vàng vài bộ.
Nghĩ đến họ, đến hàng, đến làng, đến nước, thì trước cửa Diêm-Vương ngơ-ngẩn, chắc chàng chưa ăn cháo tái-sinh; nghĩ có giai, có gái, có rể, có râu, thì trên lầu Thị-Kính thề-nguyền, quyết thiếp chỉ ôm cầm một độ.
Xin giữ đủ ba năm một tiết, tuần tứ cửu, ngày bách-nhật, khi giỗ đầu, lúc giỗ hết, dưới suối vàng ai hỡi xét-xoi; — Gọi là một chén tam ngu, lá vàng giấy, nén hương thơm, lưng cơm bạc, bát canh xuông, trên dương-thế lấy gì báo-bổ.
Hỡi ôi! thượng hưởng!
MẸ KHUYÊN CON LÚC VỀ NHÀ CHỒNG (Lê-Quí-Đôn)
Khuyên con giữ đạo làm dâu; bà già nghĩ đã đến vậy.
Phù con dại cái mang, nhẽ xưa nay vẫn thế vậy. Khuyên con phải kính-trọng chồng, há chẳng phải đạo lắm rư?
Mẹ đưa con ra cửa, ý nghĩ rằng: trong phối định ba thường đạo cả, thực là muôn hóa chi theo ra, mà hôn nhân hai họ giao vui, há để một lời chi trách đến.
Mẹ đưa con ra, mẹ càng nghĩ lắm con ạ!
Con con mẹ mà dâu dâu người vậy. Hoặc trong cửa trong nhà chi có truyện, tức yêu nên tốt, ghét nên xấu, rồi ra trách mẹ chi không răn.
Về nhà chồng phải kính phải răn, chớ trái nhời chồng, con nhé!