BÀI PHÚ TÂY HỒ (Trương Vĩnh-hầu)
Xinh thay cảnh Tây-Hồ, Lạ thay cảnh Tây-Hồ.
Dám nhớ thủơ đất chia chín cõi; Nghe rằng đây đá mọc một khu.
Trước bạch-hồ ở đấy làm hang, Long-quân gây nên vùng đại-trạch; Sau kim-ngưu chạy về đây hóa vực, Cao-vương đầm-thấm mạch hoàng-đô.
Tên nghe gọi rằng đầm Lãng-Bạc; Cảnh ngẫm in tính chữ băng-hồ.
Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích chẩy lên ròng leo-lẻo; Hình rợn rợn uốn vòng câu bạc; tưởng vừng ngân rơi xuống mảnh từ từ.
Hơn nghìn mẫu nước giời lẫn sắc; Trải bốn bên hoa cỏ quen mùa.
Vừng đất giỗ mỏ phượng còn in, kẻ rằng đài thượng-nguyệt; Bóng nước vắt hàm rồng chửa cạn, người gọi chén chung-tô.
Tòa thạch-tháp nọ nơi tiên để báu; Chốn thổ-đôi kia lỗ khách chôn bùa.
Đền Mục-Lăng hương khói chẳng rời, tay lưới phép hãi ghi công bắt hổ; Quán Trấn-Võ nắng sương nào chuyển, lưỡi gươm thần còn để dấu chém rùa.
Kìa quán thiên-niên răm rắp; Kìa ghềnh Vạn-bảo nhấp-nhô.
Trông mơ-màng nhường Lĩnh-Thứu nơi kia, ba tổ thước cuối làng kêu chíp-chíp; Nghe phảng-phất ngỡ động hoa mái nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o-o.
VĂN SÁCH (Lê-Quý-Đôn)
ĐẦU BÀI. — Vấn: Tục-ngữ có câu rằng:
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,