Nguyễn, công ấy giạ-tràng xe cát; Trịnh, việc chi tu-hú đẻ nhờ.
Trước ra tuồng chùm cửi loạn ngành, đã hũng-hĩnh như chuột xa chĩnh gạo; Sau quen thói bồ câu tranh tổ, lại hung-hăng như châu húc nhà thần.
Mặt Mãng-xà nhắm vạc Tây-kinh; Nhờm Tháo-quỷ thèm ngôi Đông-Hán.
Vẽ chân rắn những loài xiểm-nịnh, anh-hùng miệng ngậm bồ hòn; Thêm lòng lươn sinh sự nề-hà, thiên-hạ đầu vo quả ké.
Thảm-khắc mấy rán xành ra mỡ; Oan-khốc chi gắp lửa bỏ tay.
Nhân dân thổ địa cõi bờ xưa, chi để xa hang tặc-tử; Xã-tắc sơn-hà nền-nếp cũ, sao cho vào túi gian-phu.
Này dầu mà chẳng sớm liệu toan; oan-gia ấy biết bao giờ giả? Vậy phải liều mình vượt bể, gắng sức chèo non.
Chữ khâm-sai xương nhuộm lá cờ; Đàn quy nghĩa gió lay con mác.
Lúp-túp một thành một lữ, tro tàn bếp Hạ thổi phù-phù; Mở-mang tấc đất tấc dân, thanh gươm cũ Lưu mài sáng sáng.
Chín thu giời mơ-tưởng; năm canh nguyệt mơ-màng.
Lội nội Tầu[đính chính 1], hươu chửa bẻ sừng, vào lưới vắng người hào-kiệt; Tắm sông Sở, khi còn đội mão, ra tay thiếu kẻ anh hùng.
Tổ-công tông-đức phụ chi ai; Trung-nghĩa thần-dân sao lánh mặt.
Kẻ chịu Hoàng ân khi sáng nghiệp, có giời, có đất, có nhi tôn; Người nhờ hồng-phúc thuở trung-hưng, còn nước còn non, còn tước lộc,