Người vẫn là người cõi Việt; Đất nào chẳng đất nhà Lê. Ngôi thiên-vương chim phượng ngắn lông, trông thấy cũng nên sa nước mắt, Tặc-quân chắc miệng tầm ăn lá, xem vào sao chẳng ngứa buồng gan?
Xác liu-điu nào phải con rồng, Lửa lém-đém chen gần bóng ác.
Cấy lúa chớ dung loài má khác; — Ăn quả nên nhớ kẻ giồng cây.
Gà Lữ kia cứng cổ được ai, máu Lữ-Sả làm như chợ Hán; Chó Hồ nọ nhăn nanh cắn chủ, bụng Lộc-Sơn thêm nhóp gươm Đường.
Xin đừng ỷ thế băng-sơn; Phải liệu cùng lòng tả-đản.
Nhà Đại-Hạ mái nghiêng nghiêng xuống, dương sức chống cột giường; Ròng Trung-Lưu đương quẩn-quẩn chôi, ra tay cầm bánh lái.
Buộc yên ngựa chớ tham của Tháo; Hội vườn đào đừng phụ nghĩa Lưu.
Thu gio nước Cối, nước Tần, gặp thuở khi khu bền dạ sắt; Lướm bếp ngươi Phùng ngươi Đặng, trong khi thảng-thốt cháy gan vàng.
Hoặc tới quân môn; Hoặc thông tín-sử.
Bạn-trạng chỏ sông Hoàng, non Thái, ai phụ ai mặc quỷ thần soi: Bình-định sao khoán sắt thơ son, đức báo đức, duy giời đất biết.
Mấy sự thủy-trung cậy yết. Xin người quy nghĩa nghe cùng.
BÀI TỰA TRUYỆN KIỀU (Chu-mạnh-Trinh)
今使。緣締贈扇。遼陽不歸叔
Kim sử, duyên đề tặng phiến, Liêu-Dương bất qui thúc
父之喪。變起賣絲雷州卽辦
phụ chi tang, biến khởi mãi ty Lôi-Châu tức biện