Đuôi kia biếng vẩy Điền-Đan[1] hỏa,
Tai nọ buồn nghe Nịnh-Tử[2] ca.
Sớm thả đồng đào ăn đủng-đỉnh,
Tối về chuồng quế thở nghi-nga.
Có người đem dắt tô chuông mới,
Ơn đức vua Tề lại được tha.
CHỢ ĐỒNG (Yên-Đổ)
Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Giở giời mưa bụi còn hơi rét,
Nếm rượu trường-đình[3] được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo-xác,
Nợ-nần năm trước hỏi lung-tung.
Năm ba ngày nữa tin xuân tới,
Pháo chúc nhà ai một tiếng đùng.
QUAN TẠI GIA (Tú-Xương)
Một ngọn đèn xanh một quyển vàng,
Bốn con làm lính bố làm quan.
Câu thơ câu phú sưu cùng thuế,
Nghiên mực nghiên son tiếng với làng.
Nước quạt chưa xong con nhảy ngược,
Chống chầu chưa rứt bố lên thang.
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ,
Đem truyện trăm năm dở lại bàn.
- ▲ Điền-Đan hỏa: lửa Điền-Đan, Điền-Đan tướng nước Tề, khi phá quân Yên dùng 1000 trâu, ngoài khoác gấm năm sắc, sừng buộc gươm dáo, lấy cỏ buộc vào đuôi, đốt lên, trâu bị nóng xông vào trận, chém giết quân Yên rất hại.
- ▲ Nịnh-Tử ca: ông Nịnh-Thích lúc hàn-vi, gõ sừng trâu mà ca câu rằng: « Nam sơn sán bạch thạch lạn, sinh bất phùng thời Nghiêu dữ Thuấn. » Nghĩa là: Núi lở, đá mòn, tiếc không sinh vào đời Nghiêu Thuấn. 南 山 燦 白 石 爛 生 不 逢 辰 堯 與 舜.
- ▲ Trường-đình: chỗ quán chạm tiễn-biệt